1
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1.1 Lý do lựa chọn đề tài:
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường của các quốc gia, trong đó có Việt
Nam, thị trường chứng khoán (TTCK) đóng một vai trò quan trọng, trở thành một kênh huy
động vốn dài hạn và hiệu quả. Nhưng điều đáng quan tâm hiện nay là thị trường chứng khoán
Việt Nam không còn tăng mạnh như trước do trãi qua những tăng giảm thất thường. Nhìn
chung, thị trường có xu hướng giảm và nếu việc đó tiếp tục diễn ra, có thể điều này sẽ gây nên
nhiều khó khăn cho nền kinh tế. Theo tác giả Ricardo N.Bebczuk (năm 2003), để TTCK và
thị trường vốn nói chung phát triển thì sự minh bạch hóa thông tin là cần thiết và một trong
những sự thiếu minh bạch trong cung cấp thông tin sẽ khiến cho TTCK không thể hoạt động
hiệu quả. Vậy để góp phần giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển và không chìm
hẳn thì đòi hỏi sự minh bạch của thông tin đem đến cho nhà đầu tư, đặc biệt là thông tin trong
báo cáo tài chính (BCTC) vì minh bạch hóa thông tin sẽ tạo được lòng tin của nhà đầu tư đối
với thị trường chứng khoán.
Tại Việt Nam, vấn đề minh bạch hóa thông tin trên TTCK và việc tìm ra các yếu tố ảnh
hưởng đến tính minh bạch của thông tin, đặc biệt là trên BCTC là vấn đề hết sức quan trọng.
Do đó, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin
trên BCTC nhằm đề xuất các biện pháp khắc phục và hoàn thiện thông tin trên BCTC của các
công ty niêm yết trên TTCK thông qua đề tài:
“Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin báo cáo tài chính của các công ty
niêm yết trên sàn Hose”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xem xét, đánh giá sự minh bạch của thông tin
trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết và làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến
tính minh bạch của thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn HOSE.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất các kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện các chuẩn mực
giúp năng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC, góp phần thúc đẩy thị trường chứng
khoán hoạt động hiệu quả hơn. Và để đạt được mục tiêu chung của đề tài, các câu hỏi nghiên
cứu được đề ra như sau:
Câu hỏi 1: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin tài chính của các công
- Giảm thiểu rủi ro đầu tư tài chính cũng như tổn thất các nhà đầu tư phải gánh chịu,
nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn. Tăng hiệu quả thực hiện các chính sách quản lý
và điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà Nước.
1.6 Kết cấu bài nghiên cứu
Chương mở đầu:
- Trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu.
- Trình bày đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.
- Trình bày phương pháp nghiên cứu.
- Trình bày ứng dụng thực tiễn của đề tài.
Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về thông tin tài chính và minh bạch thông tin tài chính
- Đưa ra các lý thuyết về thông tin tài chính, về minh bạch thông tin tài chính, tầm quan
quan trọng của minh bạch thông tin tài chính.
3
- Đưa ra các tiêu chí đo lường minh bạch thông tin tài chính và các yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng thông tin tài chính.
- Khái quát các nghiên cứu về minh bạch thông tin tài chính, từ đó đề xuất mô hình
nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu.
Chương 2 : Thực trạng thông tin tài chính và minh bạch thông tin tài chính của các
công ty niêm yết
- Thống kê các công ty niêm yết theo thời gian gia nhập TTCK, ngành nghề hoạt động.
- Thống kê thực trạng TTTC, công bố TTTC và tính minh bạch TTTC của các công ty
niêm yết trên sàn Hose về các khía cạnh:
o Tình hình lập và trình bày công bố thông tin trên BCTC.
o Khảo sát mức đột minh bạch TTTC của các công ty niêm yết trên sàn Hose.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Giới thiệu quy trình thực hiện nghiên cứu.
- Ứng dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.
- Đề xuất mô hình 2 và thang đo các biến trong mô hình.
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu
- Đánh giá độ tin cậy các thang đo và phân tích nhân tố EFA.
ràng trên các báo cáo tài chính.Việc công bố đầy đủ và trình bày trung thực sẽ tạo ra sự minh
bạch.
Theo tổ chức S&P (Standard & Poors), sự minh bạch là sự công bố kịp thời và phù hợp
của những thành quả về hoạt động và tài chính của công ty cũng như các thông lệ quản trị liên
quan đến cấu trúc sở hữu, ban giám đốc, cấu trúc và quá trình quản lý.
• Trên góc độ nghiên cứu
Các tác giả Blanchet (2002), Prickett (2002) và Kulzick (2004) nghiên cứu sự minh
bạch trên quan điểm của người sử dụng thông tin, theo họ minh bạch của thông tin bao gồm:
• Sự chính xác: thông tin phản ánh chính xác dữ liệu tổng hợp từ sự kiện phát sinh.
• Sự nhất quán: thông tin được trình bày có thể so sánh được và là kết quả của những
phương pháp được áp dụng đồng nhất.
• Sự thích hợp: khả năng thông tin tạo ra các quyết định khác biệt, giúp người sử dụng
dự đoán kết quả trong quá khứ, hiện tại và tương lai hoặc giúp xác nhận và hiệu chỉnh
các mong đợi.
• Sự đầy đủ: thông tin phản ánh đầy đủ các sự kiện phát sinh và các đối tượng có liên
quan.
5
• Sự rõ ràng: thông tin truyền đạt được thông điệp và dễ hiểu.
• Sự kịp thời: thông tin có sẵn cho người sử dụng trước khi thông tin giảm khả năng ảnh
hướng đến các quyết định.
• Sự thuận tiện: thông tin được thu thập và tổng hợp dễ dàng.
Robert Bushman và các tác giả (2003) xem xét sự minh bạch ở góc độ công ty, theo đó
sự minh bạch được định nghĩa là sự sẵn có của các thông tin cụ thể về công ty đối với bên
ngoài của các công ty niêm yết. Các thông tin được chia thành 3 nhóm: Báo cáo tài chính, sự
đạt được các thông tin bí mật và sự phổ biến của thông tin. Trong đó sự minh bạch thông tin
tài chính thông qua các báo cáo tài chính đề cập đến 5 nội dung:
• Mức độ của sự công bố về tài chính.
• Mức độ của sự công bố về quản trị công ty.
• Các nguyên tắc kế toán sử dụng để đo lường sự công bố về tài chính.
• Thời gian công bố các báo cáo.
• Kết quả nghiên cứu của James Hunton, Robert Libby và Cheri Mazza (2004) kết luận:
thông tin tài chính càng minh bạch sẽ giúp giảm thiểu, ngăn chặn khả năng nhà quản lý
điều tiết thu nhập (Earnings Management) theo chủ ý.
• Sự minh bạch và công bố đầy đủ thông tin tài chính là những thành phần không thể
thiếu của khuôn mẫu về quản trị công ty. Nghiên cứu của Beeks và Brown (2005) đã
chứng minh: các công ty với chất lượng quản trị tốt hơn sẽ công bố thông tin nhiều hơn. Sự
dễ hiểu, sự liên quan, sự minh bạch, tính đáng tin, tính kịp thời và sự công bố đầy đủ của
các thông tin về kết quả hoạt động kinh tế, cấu trúc của tổ chức cũng như quá trình được sử
dụng trong các tổ chức sẽ cung cấp cho các bên liên quan những cái nhìn trung thực về
công ty và chất lượng của chính sách quản trị mà công ty đang áp dụng. Cơ chế công bố và
minh bạch được thiết lập giúp bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số và các bên có liên
quan vì cơ chế này làm giảm tính bất cân xứng của thông tin và khả năng phát sinh các
gian lận.
• Theo Berglof và Pajuste (2005), công bố và minh bạch thông tin giúp gia tăng nhận
thức và lòng tin của nhà đầu tư, làm giảm sự không chắc chắn về lợi ích mang lại cho nhà
đầu tư, giảm chi phí vốn và gia tăng giá trị khoản đầu tư.
• Theo kết quả nghiên cứu của Carol Ann Frost, Elizabeth A. Gordon và Grace Pownall
(2008), minh bạch thông tin tài chính ảnh hưởng đến sự thâm nhập của các công ty ở thị
trường mới nổi vào các thị trường vốn quốc tế. Các công ty thuộc thị trường mới nổi càng
minh bạch thông tin tài chính thì càng dễ dàng thâm nhập vào thị trường vốn quốc tế và
ngược lại.
Qua các thống kê nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng dưới góc độ người sử dụng, minh
bạch thông tin tài chính mang đến cho người sử dụng một niềm tin và sự bảo đảm về thông tin
nhận được, đồng thời giúp người sử dụng thông tin có sự nhìn nhận đúng và đưa ra các quyết
định đầu tư hợp lý và hiệu quả. Dưới góc độ công ty, việc cung cấp không đủ thông tin BCTC
của công ty có thể giúp DN “làm đẹp” được con số lợi nhuận tức thời. Nhưng với các khoản
ngoại trừ trên báo cáo kiểm toán, DN sẽ không đáp ứng điều kiện phát hành thêm cổ phiếu để
huy động vốn theo quy định của Luật Chứng khoán. Và như vậy, DN niêm yết là đối tượng
chịu thiệt đầu tiên. Vì vậy, minh bạch thông tin tài chính giúp cho các công ty giảm bớt các
7
tin.
Một chỉ số cũng được sử dụng phổ biến trong đo lường sự minh bạch và công bố thông
tin do tổ chức S&P xây dựng và phối hợp với các tổ chức khác tiến hành hàng năm trên một
8
số thị trường chứng khoán nhằm đánh giá mức độ minh bạch và công bố thông tin của các
công ty niêm yết. Chỉ số này bao gồm 108 các khoản mục thông tin được chia thành ba nhóm:
• Cấu trúc sở hữu và quyền lợi của cổ đông.
• Thông tin tài chính và hoạt động kinh doanh.
• Cấu trúc và quy trình của Ban giám đốc và nhà quản lý.
Trong đó, đo lường về sự minh bạch và công bố liên quan đến thông tin tài chính bao
gồm 30 khoản mục:
1. Chính sách kế toán sử dụng.
2. Các chuẩn mực kế toán và áp dụng cho các khoản mục trên các báo cáo tài chính.
3. Các khoản mục tuân thủ theo các chuẩn mực quốc gia.
4. Báo cáo tài chính năm tuân thủ theo một trong các hệ thống chuẩn mực phổ biến:
Chuẩn mực quốc tế (IFRS), chuẩn mực Hoa kỳ (U.S GAAP).
5. Thuyết minh báo cáo tài chính tuân thủ theo IFRS/U.S GAAP.
6. Báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính năm tuân thủ theo IFRS/U.S GAAP.
7. Ý kiến chấp nhận toàn bộ của kiểm toán viên đối với báo cáo tài chính năm tuân thủ
theo IFRS/U.S GAAP.
8. Báo cáo tài chính tuân thủ theo IFRS/U.S GAAP được kiểm toán được công bố trước
30/04 hàng năm.
9. Báo cáo tài chính tuân thủ theo IFRS/U.S GAAP chưa được kiểm toán được công bố
trước 30/04 hàng năm.
10. Khai báo các giao dịch đối với các bên liên quan: mua/bán; phải thu/phải trả đối với các
bên có liên quan.
11. Các dấu hiện cho thấy các giao dịch đối với các bên liên quan được thực hiện theo thị
trường hoặc không.
12. Các điều khoản chính xác về các bên có liên quan.
13. Báo cáo giữa kỳ (quý/ 6 tháng) tuân thủ theo một trong các hệ thống chuẩn mực phổ
nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ của sự công bố thông tin và sự đa dạng hóa.
Một số quốc gia cũng tự xây dựng những hệ thống đánh giá hoặc xếp hạng về sự minh
bạch và công bố thông tin của các công ty niêm yết. Đài Loan là một ví dụ điển hình, họ sử
dụng hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin ITDRS từ năm 2003. Hệ thống
này bao gồm 88 khoản mục công bố được phân chia thành năm nhóm:
• Tuân thủ với các quy định về công bố.
• Sự kịp thời của các báo cáo.
• Công bố dự báo tài chính.
• Công bố báo cáo thường niên.
• Công bố trên Website của công ty.
Hàng năm các kết quả xếp hạng theo chỉ số ITDRS sẽ được công bố rộng rãi làm cơ sở
cho các nghiên cứu cũng như các thay đổi trong thực tế về chính sách quản lý thị trường và
quản trị của các công ty niêm yết.
Tại Singapore và Malaysia, chỉ số CTI cũng được sử dụng từ năm 2000 để đánh giá
mức độ minh bạch của các công ty niêm yết. Đến năm 2009, chỉ số CTI được thay thế bởi chỉ
số GTI và được công bố hai lần mỗi năm. Cấu trúc chỉ số này gồm hai phần:
• Quản trị công ty: tập trung vào các nội dung liên quan đến các Ban điều hành, trách nhiệm
giải trình và kiểm toán.
• Sự minh bạch: tập trung vào sự giao tiếp giữa công ty với các cổ đông.
Để đo lường sự minh bạch thông tin tài chính, các nghiên cứu trước đây thường sử dụng
các thông tin được công bố trên các báo cáo tài chính làm biến đo lường mức độ của sự minh
bạch.Trong các môi trường khác nhau và dưới các quan điểm khác nhau, các biến này được
sử dụng đa dạng và không thống nhất. Theo quan điểm riêng, chúng tôi cho rằng để đo lường
sự minh bạch thông tin tài chính một cách đầy đủ chúng ta sẽ sử dụng các biến đại diện cho
10
sự minh bạch thông tin tài chính như: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự chính xác, sự đầy đủ và sự
nhất quán. Trong đó, mỗi biến đại diện có nội dung được thể hiện như sau:
1. Sự kịp thời: là thời điểm công bố thông tin tài chính (báo cáo tài chính) phải khớp
hoặc sớm hơn đối với thời hạn công bố thông tin mà cơ quan chức năng quy định.
Nếu thông tin được công bố sớm và kịp thời thì người sử dụng thông tin sẽ dự đoán
hưởng tính minh bạch và công bố thông tin của doanh nghiệp trong phạm vi mỗi thị trường.
1.5.1. Các yếu tố tài chính
Những đặc điểm tài chính có thể ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và minh bạch
doanh nghiệp như sau:
1.5.1.1. Quy mô doanh nghiệp
Các công ty có quy mô lớn thì minh bạch hơn các công ty có quy mô nhỏ, do doanh
nghiệp có quy mô lớn thì có nhà đầu tư lớn hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và thu hút nhiều
sự chú ý hơn từ các nhà phân tích. Ngoài ra, doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ luôn có nhiều
nguồn thông tin công bố cho nhà đầu tư hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Một nghiên
cứu xuyên quốc gia đã phát hiện mối quan hệ thuận chiều giữa các điểm về vốn hóa thị trường
và minh bạch thông tin tổng thể. Những dẫn chứng bằng tài liệu về sự liên kết không thống
nhất giữa quy mô doanh nghiệp được đo bằng tổng tài sản và tổng số điểm về công bố thông
tin.
1.5.1.2. Đòn bẫy tài chính
Các công ty có đòn bẩy tài chính cao sẽ có độ
minh
bạch cao hơn bởi vì các chủ nợ
yêu cầu công ty công bố thông tin nhiều hơn. Tuy
nhiên,
Roberts &
Gray
(1995) đã tìm
ra mối quan hệ ngược chiều giữa đòn bẩy tài chính và công bố thông tin
của
các doanh
nghiệp ở Mỹ và Anh. Archambault (2003) cũng dẫn chứng bằng tài liệu
rằng
không có
mối liên hệ giữa đòn bẩy tài chính và công bố thông tin của doanh
nghiệp.
Các công ty với mức độ hiệu quả sử dụng tài
sản
cao thì có mức độ công bố thông
tin về doanh nghiệp cao hơn so với doanh nghiệp
có
mức độ hiệu quả sử dụng tài sản
thấp. Do các doanh nghiệp với mức độ hiệu quả
sử
dụng tài sản cao có thể thu hút nhiều
nhà đầu tư và nhà nhà phân tích hơn và do vậy các công
ty
này cũng sẽ phải công bố
nhiều thông tin hơn cho nhà đầu tư bên ngoài, dẫn đến mức
độ
công bố thông tin và minh
bạch cao hơn đối với công ty có mức độ hiệu quả sử dụng tài
sản cao.
1.5.2. Các yếu tố quản trị
Nhiều nghiên cứu ở Mỹ đã tập trung vào mối quan hệ giữa quản trị và hiệu quả
doanh
nghiệp. Các kết quả được tổng hợp cho thấy rằng hoạt động quản trị tốt không nhất thiết
dẫn
đến hiệu quả doanh nghiệp tốt hơn. Mặt khác một số nghiên cứu về công ty ở vùng Đông
Á
đã nhận thấy rằng các yếu tố quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc đánh giá
doanh
nghiệp (Mitton 2002, Lins 2003). Sự khác nhau của các phát hiện này có thể do việc
quản
trị
doanh nghiệp không ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả doanh nghiệp. Giả thiết rằng,
gân đây về các thị trường ở vùng Đông
Á
kết luận rằng sự tập trung vốn chủ sở hữu có thể
dẫn đến mâu thuẫn về quyền sở hữu
giữa
người chủ sở hữu bên trong và nhà đầu tư bên
ngoài doanh nghiệp vì tỷ lệ của cổ phiếu hiện hành được nắm giữ bởi năm cổ đông lớn
nhất có thể liên quan
mức
độ công bố thông tin và tính minh bạch doanh
nghiệp.
1.5.2.2. Cơ cấu Hội Đồng Quản Trị
Một yếu tố then chốt của quản trị doanh nghiệp là vai trò của HĐQT trong việc
giám
sát giới quản lý. Việc giám sát giới quản lý là cần thiết bởi vì những người quản lý
thường
hành động vì lợi ích riêng và không thể luôn hành động vì lợi ích của cổ đông. Sự
lười
nhác,
sự lên mặt quá đáng và những khoản đầu tư không mang lại lợi ích tối ưu là
những ví
dụ
điển hình cho hành động lạm quyền của người quản lý. HĐQT có thể làm
13
giảm
bớt mâu thuẫn quyền đại diện bằng cách thực thi quyền hạn của mình để giám sát
và
kiểm
tra giới quản lý. Những giám đốc không thuộc HĐQT được cho là người thực
hiện
chứng khoán Thái Lan trong giai đoạn
1990 - 2001, Limpaphayom và Sukchareonsin
(2003)
phát hiện mối liên hệ tích cực giữa
thành phần hội đồng quản trị và đánh giá thị trường
của
doanh
nghiệp
.
Agrawal
(1996) chỉ ra khả năng giám đốc bên ngoài được chỉ định là kết quả của lý
do chính trị
hơn
là lý do quản lý. Cuối cùng, họ chứng minh bằng tài liệu mối quan hệ
tiêu cực giữa
thành
phần HĐQT và hiệu quả doanh nghiệp. Hermalin (1991) quan sát
thấy một tỷ lệ cao
các
giám đốc độc lập trong HĐQT không phải luôn luôn phỏng
đoán hiệu quả kế toán
trong
tương lai tốt hơn. Do vậy, quan điểm bảo thủ hoặc cố thủ dự
đoán có mối quan hệ tiêu cực
giữa
thành phần HĐQT và hiệu quả doanh
nghiệp.
Trong nghiên cứu này, giả thiết cho rằng thành phần HĐQT có thể ảnh hưởng
đến
mức độ công bố thông tin và minh bạch doanh nghiệp. Lý do là giám đốc độc lập muốn
trong và
ngoài nước với những đóng góp về mô hình quan trọng góp phần xem xét
tính minh bạch và các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu của Stephen Yan-Leung Cheung (Trường Đại học
HongKong),
J.Thomas Connelly (Khoa thương mại và kế toán – trường đại học Chulalongkorn - Thái
Lan),
Piman Limpaphayom (Trường đại học Chulalongkorn-Thái Lan), Lynda Zhou
(Trường
Đại
học HongKong) đã đưa ra mô hình nghiên cứu tại Thái Lan và HongKong
gồm 9 biến để
đo
lường tính minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết, trong đó
có 5 biến
về
đặc điểm tài chính của một doanh nghiệp và 4 biến về quản trị công ty để kiểm
định nhân
tố
nào ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp tại hai nước
này. Kết quả nghiên cứu cho thấy các đặc điểm tài chính thể hiện qua các biến trong mô
hình chỉ có tác động mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp ở Hồng Kông và các
đặc điểm về quản trị như quy mô công ty và cấu trúc hội đồng quản trị đã thể hiện mức ảnh
hưởng đối với các công ty Thái Lan hơn là các công ty ở Hồng Kông. Bên cạnh đó, nghiên
cứu cũng đã chỉ ra rằng quản trị doanh nghiệp tốt sẽ đem lại tính minh bạch và công bố
thông tin doanh nghiệp tốt hơn trong thị trường kém phát triển.
Một nghiên cứu khác “A multinational test of determinants of corporate disclosure”
(Tạp chí The International Journal of Accounting, 38 (2003) 173 – 194) của Jeffrey J.
Archambault và Marie E. Archambault nghiên cứu mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tính
minh bạch thông tin của công ty. Bằng nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định các giả thiết
thông tin của các doanh nghiệp niêm yết đã cho thấy
yếu tố quy mô, yếu tố lợi nhuận đo lường theo đại
lượng
tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản,
chỉ số nợ trên tổng tài sản, chỉ số tài sản cố định trên
tổng
tài sản không ảnh hưởng đến
mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm
yết.
Trong khi đó, yếu tố lợi nhuận
đo lường bằng chỉ số Q lại ảnh hưởng đến minh bạch
thông
tin của các doanh nghiệp niêm
yết. Và tác giả cũng đã đề xuất
và gợi ý chính sách nhằm nâng cao
minh
bạch thông tin
các doanh nghiệp niêm yết: (i) đưa thêm chỉ số Q vào báo cáo tài
chính (quý,
năm) đồng
thời giải thích chỉ số này cho nhà đầu tư biết một cách rõ ràng; (ii) thực
hiện
khiêm
khắc biện pháp chế tài và biện pháp thị trường; (iii) bổ sung bảng báo cáo vốn
cổ
phần
của cổ đông vì nó cung cấp thông tin và nguyên nhân gây ra những biến động của
các
tài
khoản trong vốn cổ
các
nhà phân tích. Doanh nghiệp có quy mô lớn có nhiều nguồn thông tin công bố cho
nhà
đầu
tư tốt hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
• Đòn bẩy tài chính: Các công ty mà có đòn bẩy tài chính cao nên có mức độ
minh
bạch cao hơn bởi vì các chủ nợ yêu cầu công ty công bố thông tin nhiều hơn.
• Tình hình tài chính. Có thể tình hình tài chính trong quá khứ ảnh hưởng
đến
mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp (Khanna & Srinivasan 2004).Ví dụ, các
doanh
nghiệp có lợi nhuận có thể muốn công bố thông tin của doanh nghiệp cho nhà đầu tư
bên
ngoài hơn là doanh nghiệp có ít lợi nhuân.
- Tài sản cầm cố: Các doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định cao, cần phải công
bố
thông tin nhiều hơn để giúp cho người bên ngoài đưa ra được quyết định đầu tư. Điều
này
dẫn đến mối liên hệ thuận chiều giữa giá trị tài sản cầm cố và mức độ công bố thông tin.
- Hiệu quả sử dụng tài sản: Có thể các công ty với mức độ hiệu quả sử dụng tài
sản
cao thì có mức độ công bố thông tin về doanh nghiệp cao hơn so với doanh nghiệp mà
có
mức độ hiệu quả sử dụng tài sản thấp. Lý do rằng các doanh nghiệp với mức độ hiệu quả
sử
dụng tài sản cao có thể thu hút nhiều nhà đầu tư và nhà phân tích hơn.
Kết luận chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày các cơ sở lý thuyết làm tiền đề cho bài nghiên
cứu với các khái niệm về thông tin tài chính về minh bạch thông tin tài chính trên cả góc độ
năm hoạt động, đến thời điểm tháng 08/2007 đã có 111 doanh nghiệp niêm yết và 55 công ty
chứng khoán thành viên, 18 công ty quản lý quỹ, 61 tổ chức lưu ký. Cấu trúc thị trường đã rõ
ràng và chuyên biệt hơn. Qua khảo sát thông kê, nắm bắt được tình hình các công ty niêm yết
trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM như sau:
Số năm lên sàn Số lượng công ty
Một năm 14
Hai năm 28
Ba năm 75
Bốn năm 50
Năm năm 30
Sáu năm 34
Bảy năm 51
Tám năm 6
Chín năm 4
Mười năm 0
Mười một năm 7
Mười hai năm 2
Mười ba năm 5
19
Tổng 308
Bảng 2.1:Tổng hợp thời gian niêm yết trên sàn HOSE các công ty niêm yết.
2.1.2. Theo ngành nghề
Thông qua thống kê về các công ty niêm yết và hoạt động trên sàn chứng khoán thành
phố HCM (Hose), ngành nghề hoạt động kinh doanh của các công ty chủ yếu tập trung vào 16
nhóm ngành, được tổng hợp như sau:
STT Ngành nghề kinh doanh
Số lượng
công ty
1 Vận tải kho bãi 24
2 Công nghiệp Chế biến, Chế tạo 77
quản lý quỹ, các doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư tham gia thị trường cũng đã góp
phần hình thành nên một hệ thống nhà đầu tư chuyên nghiệp.
o Hiện nay, việc công bố thông tin của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam được
thực hiện theo Luật Chứng khoán và Thông tư số 09/2010/TT-BTC, ngày 15 tháng 01
năm 2010 của Bộ Tài chính và gần đây nhất là thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 5 tháng 4
năm 2012. Xét về quy định lẫn thực tiễn, việc trình bày và công bố thông tin của các công
ty niêm yết hiện nay tồn tại một số bất cập làm ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến tính
minh bạch, công khai và sự phát triển bền vững của TTCK Việt Nam.
o Năm 2011, hàng loạt công ty xin gia hạn thời gian công bố BCTC điển hình là công ty
chứng khoán Mê Kông xin dời đến 29/4 vì nguyên nhân công ty nâng cấp hệ thống, sai
sót số liệu kế toán. Tiếp đến là công ty cổ phần xi măng Hà Tiên 1 (HT1) gia hạn thời
gian công bố BCTC năm 2010 đến 25/4/2011 với lý do tương tự. Thậm chí có công ty
niêm yết xin gia hạn thời gian công bố BCTC đã kiểm toán năm 2010 chậm đến 1 tháng
như Công ty cổ phần Dược phẩm Cửu Long (DCL) gia hạn thời gian công bố BCTC đến
13/5/2011 với lý do “ phần mềm kế toán của công ty đang bị lỗi”…
- Bức xúc của cổ đông vì sự thiếu minh bạch thông tin của doanh nghiệp
• Cùng với sự phát triển của thị trường, ngày càng xuất hiện nhiều dạng vi phạm mới, tinh
vi hơn, phức tạp hơn. Đặc biệt, vấn đề minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán
Việt Nam lâu nay vẫn chưa đạt mức kỳ vọng của nhà đầu tư. Những năm trước đây, khi
thị trường tăng nóng, đạt được lợi nhuận dễ dàng nên hầu hết các nhà đầu tư không quan
tâm lắm đến tính minh bạch trong thông tin. Nhưng giờ đây, khi thị trường có xu hướng
giảm, những tin đồn thiếu cơ sở khiến nhiều nhà đầu tư thua thiệt nặng nề. Minh bạch
kém cũng đồng nghĩa là thông tin chính thống lép vế trước các thông tin hành lang, tin
đồn, tin nội gián. Và hiện vẫn còn nhiều tác động của thông tin không chính thống đến thị
trường. Thông tin gắn liền với lợi ích nên có những nhóm chủ động tạo ra và sử dụng
thông tin có lợi cho mình. Tình trạng “nhập nhoạng”, không minh bạch ở thị trường
chứng khoán Việt Nam đang phát sinh nhiều vấn đề rất phức tạp, nhưng vẫn chưa có cơ
chế giám sát, chế tài hữu hiệu từ phía các cơ quan quản lý thị trường. Vì vậy, mong muốn
của toàn thị trường là Uỷ ban chứng khoán phải nổ lực đầu tư thời gian, công sức cho
việc cải thiện mức độ minh bạch thông tin:
chính nhận xét: “Chỉ cần nhìn qua là chúng tôi đã nhận thấy sự vô lý trong cách lập BCTC
của DN, thấy BCTC của DN chưa tuân thủ đúng quy định chuẩn mực kế toán”. Bà Hà giải
thích, trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, sức cầu suy giảm, hàng tồn kho trong DN tăng cao
và nợ phải thu khó đòi cũng theo đó tăng vọt, vì vậy, một BCTC trung thực, chính xác phải
phản ánh được những thực tế này. Tuy nhiên, trên BCTC năm 2011 và BCTC bán niên,
BCTC quý của hầu hết các DN công bố thời gian qua đã không thực hiện trích lập dự phòng
giảm giá hàng tồn kho, nợ phải thu khó đòi.“Việc lập BCTC tại nhiều DN không chỉ là một
kỹ thuật, mà phải nói đã là một nghệ thuật”, bà Hà ví von. Nhiều DN dựa vào chính sách kế
toán như “cái van” để điều chỉnh lợi nhuận, chẳng hạn thay đổi thời gian khấu hao tài sản cố
định từ 15 năm lên 25 năm để giảm con số chi phí khấu hao trong năm, làm tăng lợi nhuận
của DN (Theo kiemtoan.com.vn).
22
Ông Bùi Hoàng Hải, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý phát hành, UBCK nói không
hiếm trường hợp DN niêm yết đã không cung cấp đủ BCTC của các công ty con, công ty liên
kết cho phía công ty kiểm toán. Do vậy, kiểm toán viên thiếu căn cứ để xác định tính chính
xác của số liệu trên BCTC hợp nhất. Kết quả là báo cáo kiểm toán của DN sẽ tồn tại một
khoản ngoại trừ của kiểm toán viên về khoản đầu tư vào công ty liên kết.Việc cung cấp không
đủ BCTC của công ty liên kết có thể giúp DN “làm đẹp” được con số lợi nhuận tức thời.
Nhưng với khoản ngoại trừ trên báo cáo kiểm toán, DN sẽ không đáp ứng điều kiện phát hành
thêm cổ phiếu để huy động vốn theo quy định của Luật Chứng khoán. Và như vậy, DN niêm
yết là đối tượng chịu thiệt đầu tiên (Theo kiemtoan.com.vn).
Tình trạng chậm CBTT, thậm chí không CBTT tại một số CTĐC đã diễn ra
trong một thời gian dài. Đến nay, dù nhiều doanh nghiệp đã “đổi mới tư duy” về việc cần phải
minh bạch thông tin, nhưng mức độ CBTT vẫn còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu
của cổ đông. Bên cạnh việc chờ đợi những giải pháp mạnh tay hơn từ phía cơ quan quản lý,
nhà đầu tư mong muốn các doanh nghiệp cần có ý thức hơn cũng như chủ động hơn trong
việc đưa thông tin doanh nghiệp ra công chúng. (Theo tin nhanh chứng khoán).
Nghiên cứu của Phạm Đức Tân (2008) kết luận, hiện tượng che dấu thông tin, dàn xếp
số liệu, làm đẹp báo cáo tài chính vẫn là hiện tượng phổ biến trong các công ty niêm yết. Bên
cạnh đó hệ thống công nghệ thông tin còn yếu kém, cộng với các yếu tố chưa phát triển đồng
o Sử dụng công cụ tìm kiếm trực tuyến Google để tìm trang web của các công ty đã
chọn, sau đó vào tìm nội dung có liên quan đến công bố báo cáo tài chính trên các trang web
này.
o Các báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính năm, báo cáo tài chính quý 4 năm 2011 của
các công ty niêm yết cũng được tiến hành thu thập và kiểm tra nhằm xác định số ngày hoàn
tất báo cáo tài chính, loại ý kiến kiểm toán viên độc lập về báo cáo tài chính, các biến số khác
đại diện cho từng thành phần của hệ thống kiểm soát và sự minh bạch, đồng thời so sách các
biến dựa vào lợi nhuận sau thuế giữa báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính quý 4. Các
báo cáo này được thu thập trực tiếp từ trang web của Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí
Minh tại địa chỉ và trang web của công ty cổ phần chứng khoán FPT tại địa chỉ
.
2.2.2.3. Phương pháp khảo sát
Chúng tôi chủ yếu dựa trên các công cụ tìm kiếm trực tuyến và trích lục các thông tin,
ấn phẩm công bố của các cơ quan ban hành pháp luật, các cơ quan quản lý thị trường chứng
khoán, các công ty chứng khoán, các hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp để thu thập dữ liệu khảo
sát. Ngoài ra, các dữ liệu thu thập được cũng đã được kiểm chứng về nguồn cung cấp, mức độ
tin cậy, tính cập nhật để lựa chọn các dữ liệu đáng tin cậy phục vụ cho việc thống kê và phân
tích.
2.2.2.4. Kết quả khảo sát
2.2.2.4.1. Các biến đại diện sự minh bạch thông tin tài chính:
Qua quá trình thu thập, chúng tôi đã chọn ra mẫu 50 công ty được niêm yết trên sàn
Hose để thu thập thông tin và đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các công ty niêm yết
tại sở giao dịch chứng khoán TP. HCM. Sau khi thu thập dữ liệu, chúng tôi tiến hành đánh giá
cho điểm như sau:
24
- Thu thập dữ liệu, đánh giá về mức độ minh bạch thông tin niêm yết trên sàn chứng
khoán TP.HCM tương đương 5 điểm, mỗi phần nhỏ sẽ được đánh giá là 1.25 điểm.
Theo kết quả phân tích trong Chương 1, thông tin tài chính được xem là minh bạch nếu
thông tin đó đáp ứng được các đặc tính chất lượng sau: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự chính
xác, sự đầy đủ và nhất quán. Các đặc tính chất lượng này được xem là các biến đại diện cho
càng lớn thì sự chính xác càng giảm và sự minh bạch cũng giảm tương ứng và ngược lại.
25
Chúng tôi tiến hành lấy báo cáo tài chính quý 4 và báo cáo tài chính năm tương ứng của từng
công ty, sau đó lấy kết quả kinh doanh sau thuế trên Báo cáo kết quả kinh doanh đã kiểm toán
so sánh với kết quả kinh doanh sau thuế lũy kế trên Báo cáo kết quả kinh doanh Quý 4.
Dựa vào doanh thu mẫu 50 công ty tính ngưỡng sai sót không đáng kể và so sánh với
chênh lệch giữa lợi nhuận sau thuế trước kiểm toán và lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán của
50 mẫu công ty được chọn. Tính mức chênh lệch ngưỡng sai sót không đáng kể dựa theo việc
tính toán trong việc kiểm toán báo cáo tài chính như sau:
• Mức trọng yếu tổng thể = Doanh thu × Tỷ lệ mức trọng yếu tổng thể (4%).
• Mức trọng yếu thực hiện = Mức sai sót tổng thể × Tỷ lệ mức trọng yếu thực hiện.
• NSSKĐK= Mức trọng yếu thực hiện × Tỷ lệ NSSKĐK
Nêu có chênh lệch nhỏ hơn ngưỡng sai sót không đáng kể sẽ đánh giá là 0.625 điểm,
chênh lệch lớn hơn ngưỡng sai sót không đáng kể được đánh giá là 0 điểm và không có chênh
lệch sẽ được đánh là 1.25 điểm.
• Sự đầy đủ và sự nhất quán
Được đo lường qua biến trung gian đó là ý kiến của kiểm toán độc lập về báo cáo tài
chính và chất lượng của công ty kiểm toán. Vì trong quá trình kiểm toán các mục tiêu: đầy đủ
và nhất quán đã được kiểm toán viên tiến hành kiểm tra và các mức độ của các đặc tính chất
lượng đã nêu sẽ tương ứng với các loại ý kiến của kiểm toán viên đưa ra. Chúng tôi tiến hành
thu thập các ý kiến của kiểm toán độc lập trên các báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính tương
ứng của từng công ty. Dựa trên sự thu thập thông tin của các công ty kiểm toán được phép
kiểm toán các công ty niêm yết trên sàn về: doanh thu, số lượng kiểm toán viên, số lượng
nhân viên chuyên nghiệp, số lượng khách hàng. Sau đó tiến hành phân loại và cho điểm đánh
giá chất lượng và uy tính của các công ty kiểm toán như sau:
• Ý kiến của kiểm toán viên: Thông qua xem xét báo cáo kiểm toán năm 2011 của
mẫu 50 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh( HOSE). Thống kế
từng ý kiến của kiểm toán viên của công ty kiểm toán trong mỗi báo cáo tài chính, sau đó sẽ
phân loại từng loại ý kiến và đánh giá cho điểm. Ý kiến kiểm toán viên của 50 mẫu công ty
được niêm yết trên sàn chứng khoán gồm có 2 ý kiến là : chấp nhận toàn phần và chấp nhận