THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG I VÀ II SINH HỌC 12 NÂNG CAO - Pdf 28

Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
KHOA SINH HỌC
1
Trần Đình Nam – Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn SH – K22
Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học

TIỂU LUẬN
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN
MỘT SỐ KỸ NĂNG THÔNG QUA DẠY HỌC
CHƯƠNG I VÀ II SINH HỌC 12 NÂNG CAO
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 60 14 01 11
Giảng viên hướng dẫn: Học viên thực hiện:
PGS. TS. Phan Đức Duy Trần Đình Nam
Huế, 11/2014
2
Trần Đình Nam – Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn SH – K22
Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học
MỤC LỤC 2
Phần I: Đặt vấn đề 4
Phần II: Nội dung 5
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
1.1. Một số khái niệm 5
1.1.1. Tình huống 5
1.1.2. Tình huống dạy học 5
1.1.3. Bài tập tình huống dạy học 6
1.2. Các kỹ năng tư duy 6

Trần Đình Nam – Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn SH – K22
Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học
Phần 1: Đặt vấn đề
Sự phát triển kinh tế xã hội trong nước cũng như quá trình hội nhập ngày càng
toàn diện với Thế Giới hiện nay đã và đang đặt ra những yêu cầu cho nền giáo dục nước
ta đó là phải đào tạo ra thế hệ trẻ chủ động, sáng tạo, có khả năng lĩnh hội tri thức một
cách chủ động và vận dụng tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống. Phương pháp đào tạo cũ
lấy giáo viên làm trung tâm, giáo viên là người cung cấp tri thức còn học sinh chỉ là
người tiếp thu tri thức từ giáo viên một cách máy móc đã vô hình chung hạn chế sự chủ
động, sáng tạo và năng lực tư duy của học sinh chính vì vậy đổi mới phương pháp dạy
học là một vấn đề cấp bách được sự chú ý quan tâm của dư luận xã hội. Trong những
năm gần đây, việc đổi mới phương pháp giảng dạy đã và đang từng bước được đưa vào
giảng dạy ở các trường Phổ thông và được ghi nhận,thông qua các kết quả bước đầu đạt
được. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, do những điều kiện khách quan và chủ
quan, vấn đề phương pháp dạy học vẫn còn những hạn chế cần được nhìn nhận. Một bộ
phận không nhỏ học sinh vẫn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức do không được hoặc
không chịu làm việc trong giờ học, giờ học vẫn còn nhàm chán do việc thuyết trình của
giáo viên chiếm phần lớn thời gian tiết học hoặc việc phát biểu xây dựng bải chỉ tập trung
ở một số em khá giỏi trong lớp. Những điều này xảy ra một phần do phương pháp dạy
học chưa phù hợp, chưa gây hứng thú cho học sinh đồng thời không gây sự tương tác
trong tư duy của đa số học sinh.
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, các kiến thức liên quan đến thực tiễn khá
nhiều mà phần lớn với kiến thức của học sinh phổ thông, các em vẫn chưa thể giải thích
được, đây chính là điều chúng ta có thể khai thác để sử dụng trong các tiết dạy. Một trong
các hướng đổi mới phương pháp khai thác tốt yếu tố trên đó là dạy học bằng tình huống.
Bằng việc dẫn dắt học sinh vào bài mới thông qua các tình huống sẽ khơi gợi được trí tò
mò, hứng thú học tập và nhu cầu tìm đến tri thức để giải quyết vấn đề đặt ra. Chính
những lý do như vậy, chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế bài tập tình huống để rèn luyện
một số kỹ năng thông qua dạy học chương I và chương II – Sinh học 12 Nâng cao”
5

Bài tập có 2 dạng:
- Bài tập tình huống dạy học thật
- Bài tập tình huống mô phỏng (tình huống giả định)
1.2. Các kỹ năng tư duy
1.2.1. Kỹ năng quan sát:
1.2.2. Kỹ năng phân tích – tổng hợp:
Phân tích là sự phân chia trong tư duy 1 đối tượng hoặc hành động thành những
yếu tố những dấu hiệu những đặc tính…
Tùy theo mục đích mà giáo viên đề ra những yêu cầu phân tích khác nhau. Tuy
nhiên có 4 vấn đề cần giải quyết:
+ Xác định các yếu tố tạo thành đối tượng
+ Tìm mối liên hệ giữa các yếu tố đó
+ Xác định yếu tố trung tâm, yếu tố điều khiển.
+ Môi trường và điều kiện hoạt động.
Tổng hợp là sự kết hợp trong tư duy những yếu tố thành phần đối tượng thành
chỉnh thể nhằm nhận thức sự vật hiện tượng một cách toàn vẹn.
7
Trần Đình Nam – Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn SH – K22
Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học
Phân tích – tổng hợp là 2 mặt của 1 quá trình tư duy thống nhất, liên hệ mật thiết
với nhau. Tổng hợp sơ bộ ban đầu cho ta ấn tượng chung về đối tượng, từ đó có phương
hướng để phân tích đối tượng, về sau sự tổng hợp đầy đủ hơn, cao hơn.
Kỹ năng phân tích – tổng hợp có thể diễn đạt bằng sơ đồ, lời, bảng hệ thống, tranh
sơ đồ.
1.2.3. Kỹ năng so sánh:
So sánh là sự phân tích đặc điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng.
Tùy vào mục đích mà khi so sánh nặng về tìm đặc điểm giống nhau hay khác nhau.
Khi so sánh nên rèn luyện cho học sinh theo tuần tự các bước sau
B1: Nêu được định nghĩa đối tượng cần so sánh.
B2: Phân tích đối tượng, tìm ra dấu hiệu bản chất của mỗi đối tượng cần so sánh.

Là suy luận trong đó khái quát những tri thức của đối tượng thành tri thức chung,
đi từ cái riêng đến cái chung.
Trong Sinh học, suy luận quy nạp thường liên quan đến lý thuyết xác suất.
Có hai loại suy luận quy nạp: hoàn toàn và không hoàn toàn, trong đó suy luận
không hoàn toàn được ứng dụng trong Sinh học.
9
Trần Đình Nam – Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn SH – K22
Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học
+ Suy luận diễn dịch:
Là suy luận đi từ cái chung đến cái riêng, từ cái phổ biến đến cái cá biệt.
Trong dạy học Sinh học, suy luận diễn dichk là quá trình đi từ các khái niệm, các
quy luật đến các sự kiện, hiện tượng cụ thể.
Suy luận diễn dịch thường được sử dụng nhiều ở các lớp lớn
+ Suy luận loại suy. Là suy luận mà trong đó, suy luận ở kết luận có cùng cấp độ
với suy luận ở tiêu đề, người ta gọi đó là phép tương tự.
1.3. Nguyên tắc thiết kế bài tập tình huống:
- Bài tập tình huống nêu ra phải tạo ra được nhu cầu nhận thức, tạo được tính sáng
tạo, kích thích tư duy của người giải.
- Bài tập tình huống nêu ra phải xuất phát từ nhiệm vụ của giáo viên, từ các kỹ
năng cần thiết cho việc đặt câu hỏi để dạy học.
- Bài tập tình huống nêu ra phải gắn với cơ sở lý luận với một liều lượng tối đa
cho phép.
- Bài tập tình huống gồm 2 phần: tình huống và yêu cầu
1.4. Ưu điểm và hạn chế của bài tập tình huống và yêu cầu đối với giáo viên
khi sử dụng bài tập tình huống trong giảng dạy:
1.4.1. Ưu điểm:
- Nâng cao được tính thực tiễn của môn học
- Nâng cao được tính chủ động, tích cực, khơi gợi sự hứng thú ở người học
- Nâng cao được kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng trình bày và phát biểu trước
đám đông

B3: Xử lý sư phạm, thiết kế tình huống
2.1.2. Quy trình sử dụng:
B1: Giới thiệu bài tập tình huống
B2: Cho học sinh thảo luận để giải bài tập tình huống (các nhóm làm việc)
B3: Cho học sinh thảo luận kết quả (thông báo kết quả)
B4: Giáo viên kết luận, chính xác hóa kiến thức
2.2. Thiết kế và sử dụng bài tập tình huống:
2.2.1. Địa chỉ sử dụng bài tập tình huống
Số thứ
tự
Tên bài Địa chỉ sử
dụng BTTH
Nội dung Kỹ năng
rèn luyện
1 Bài 1: Gen,
mã di truyền
và quá trình
nhân đôi của
ADN
III. Quá
trình nhân
đôi của
ADN
- Học sinh chỉ ra được các nguyên tăc
của quá trình nhân đôi ADN
- Mô tả được quá trình nhân đôi ADN
và phân biệt được sự sai khác giữa
quá trình nhân đôi ADN ở sinh vật
Phân tích –
tổng hợp

kỹ năng so
sánh
4 Bài 13: Sự
tác động của
nhiều gen và
tính đa hiệu
của gen
I. Tác động
của nhiều
gen lên một
tính trạng
- Phân tích và giải thích được kết quả
các thí nghiệm trong bài.
- Nêu được bản chất của các kiểu tác
động của gen đối với sự hình thành
tính trạng
Kỹ năng
phân tích –
tổng hợp
5 Bài 18: Bài
tập chương
2
- Mối quan hệ giữa các quy luật di
truyền trong việc chi phối sự biểu hiện
tính trạng
- Rèn luyện kỹ năng giải bải tập di
truyền
Kỹ năng
khái quát
hóa

- Nắm vững cơ chế hoạt động của Operon Lac ở E.coli
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng suy luận
2.2.2.2.2. Hoạt động:
Sau khi học xong phần cơ chế hoạt động của Operon Lac ở E.coli, giáo viên đưa
ra bài tập:
Cho biết các nòi vi khuẩn có kiểu gen của Operon Lac như bảng dưới, trong đó
dấu “+” biểu thị cho gen bình thường, dấu “-“ biểu thị cho gen bị hỏng, không hoạt động
hoặc mất chức năng. Hãy cho biết sản phẩm từ các gen cấu trúc của các nòi vi khuẩn ở
các trường hợp sau có được tạo ra không và giải thích:
Kiểu gen nòi vi khuẩn Protein được tạo ra (có hoặc không)
Không có Lactozo Có Lactozo
R
+
P
+
O
+
Z
-
Y
+
A
+
R
+
P
+
O
+
Z

+
P
-
O
+
Z
+
Y
+
A
+
- Học sinh thảo luận, hoàn thành bảng
- Giáo viên kết luận, chính xác hóa kiến thức:
Kiểu gen nòi vi khuẩn Hoạt động phiên mã (có hoặc không)
Không có Lactozo Có Lactozo
R
+
P
+
O
+
Z
-
Y
+
A
+
Không Không
15
Trần Đình Nam – Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn SH – K22

+
O
-
Z
+
Y
+
A
+
Có Có
R
+
P
-
O
+
Z
+
Y
+
A
+
Không Không
Giải thích:
- Ở nòi 1 và 2 có gen cấu trúc bị hỏng lần lượt là gen Z và Y nên quá trình phiên
mã không thể xảy ra hoàn chỉnh, do đó không tạo ra các protein từ các gen này dù môi
trường có hay không Lactozo.
- Ở nòi 3, tất cả các gen đều bình thường vì vậy vi khuẩn chỉ sản xuất các protein
khi môi trường có lactozo và không tạo ra các enzim khi môi trường không có lactozo
(theo đúng cơ chế điều hòa hoạt động gen bằng Operon Lac)

- Chỉ thực hiện trên mạch gốc (vì ARN chỉ
có 1 mạch đơn)
- 4 loại nu sử dụng từ môi trường là
A,U,G,X
- Sản phẩm tạo thành là ARN mạch đơn
- Khi thực hiện tự nhân đôi hoặc phiên mã thì NST chứa ADN phải ở trạng thái tháo
xoắn
- Đều được thực hiện theo nguyên tắc bổ sung và khuôn mẫu
- Được thực hiện trong nhân tế bào với khuôn mẫu là ADN
- Mạch mới luôn được tổng hợp theo chiều 5’ > 3’
2.2.2.4. Bài tập tình huống 4:
17
Trần Đình Nam – Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn SH – K22
Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học
2.2.2.4.1. Mục tiêu:
- Tạo tình huống có vấn đề giúp học sinh tiếp cận một quy luật di truyền mới tác
động đến việc hình thành tính trạng.
- Giúp học sinh giải thích được kết quả thí nghiệm, rèn luyện được kỹ năng phân
tích.
2.2.2.4.2. Hoạt động:
- Giáo viên đưa ra bài toán di truyền:
Cho hai thứ đậu Hà Lan thuần chủng hạt vàng và hạt xanh lai với nhau:
P
t/c
: Hạt vàng x Hạt xanh
F
1
: 100% hạt vàng
F
1

: Trắng x Đỏ thẫm
F
1
: 100% đỏ thẫm
F
1
x F
1
:
F
2
:
Biện luận và lập sơ đồ lai đối với bài toán di truyền trên.
- Học sinh giải bài toán này tương tự như bài toán trên.
- Giáo viên thông báo kết quả: tỉ lệ kiểu hình của F
2
không phải là 1:2:1 như phép
lai ở đậu Hà Lan mà có tỉ lệ là 9:7.
Giáo viên đưa ra câu hỏi: Vậy vì sao lại có sự khác nhau trong kết quả của phép
lai, mặc dù đây đều là phép lai một cặp tính trạng?
- Học sinh do chưa có kiến thức về quy luật tương tác gen nên chưa thể giải thích
được.
- Giáo viên dẫn dắt học sinh giải thích kết quả bài toán lai bằng hệ thống câu hỏi:
+ Số tổ hợp tạo ra ở F
2
là bao nhiêu?
+ Muốn có số tổ hợp như vậy thì số giao tử tạo ra ở F
1
là bao nhiêu? Từ đó suy ra
kiểu gen của F

: 9/16 A - B - : 3/16 A - bb : 3/16 aaB - : 1/16 aabb
Tỉ lệ kiểu hình: 9/16 đỏ thẫm : 7/16 trắng
2.2.2.5. Bài tập tình huống 5:
2.2.2.5.1. Mục tiêu:
- Hệ thống cho học sinh các quy luật di truyền đã học ở chương 2. Tính quy luật
của hiện tượng di truyền.
- Rèn luyện cho học sinh kỹ năng khái quát hóa
2.2.2.5.2. Hoạt động:
- Giáo viên đưa ra yêu cầu: Sau khi học xong chương 2, hãy lập sơ đồ khái quát
các quy luật di truyền dựa trên các tiêu chí: vị trí của gen, tính trạng do một gen hay
nhiều gen quy định, quy luật di truyền do gen chi phối…
- Học sinh hoạt động theo nhóm, lập sơ đồ theo yêu cầu của giáo viên
- Giáo viên kết luận, chính xác hóa kiến thức
20
Trần Đình Nam – Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn SH – K22
Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học
21
Trần Đình Nam – Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn SH – K22
Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học Sinh học
Phần 3: Kết luận
Dạy học truyền thống đã và đang bộc lộ những hạn chế đồng thời không đáp ứng
được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đạt ra hiện nay. Với tình hình đó, phương
pháp dạy học sử dụng bài tập tình huống được xem là một hình thức giảng dạy phù hợp
và đạt hiệu quả cao, nó đem đến một hình thức tiếp cận kiến thức mới cho học sinh dựa
trên sự gia công sư phạm các tình huống và xử lý tình huống của giáo viên. Điều này tạo
nên sự thích thú trong việc học và kích thích khả năng tích cực, tìm tòi, sáng tạo của học
sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức. Ngoài ra, thông qua bài tập tình huống, giáo viên có
thể đồng thời rèn luyện cho các kỹ năng nhận thức mà các ví dụ chúng tôi đã đưa ra ở
trên đã chứng minh điều đó. Các kỹ năng này đều thật sự cần thiết đối với các em trong
học tập và rộng hơn là trong đời sống. Mặc dù vẫn tồn tại một số hạn chế trong việc sử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status