ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO KHOA HỌC
Đề tài: Tìm hiểu chính quyền bù nhìn phong kiến Việt Nam ở Trung kì giai đoạn
1884-1925
LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi một chế độ lập ra đều có một chính quyền của mình. Chính quyền quân
chủ trong nhận thức nói chung là toàn bộ tổ chức quyền lực chính trị từ trung ương
đến địa phương. Nó thể hiện quyền lực và là công cụ phục vụ cho lợi ích của chế
độ đó.Vì vậy khi nghiên cứu về cơ cấu tổ chức của một chính quyền sẽ thấy rõ
được cái cốt lõi, thực chất của chế độ đó.
Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX ở Việt Nam triều đình phong kiến nhà
Nguyễn từng bước đầu hàng nhục nhã trước sự tấn công của thực dân Pháp. Thực
dân Pháp xâm chiếm nước ta tới đâu là thiết lập ngay bộ máy thống trị của chúng
với nhân dân ta tới đó. Chúng chia nước ta thành 3 xứ: Nam Kì thuộc địa, Bắc Kì
bảo hộ, Trung Kì nửa bảo hộ. Bộ máy thống trị này ngày càng được củng cố để dựa
vào đó thực hiện mục đích thực dân của chúng.
Tại Trung Kì, thực dân Pháp tiếp tục duy trì chế độ phong kiến của quan lại
nhà Nguyễn song thực chất đó chỉ là một hình thức chính quyền bù nhìn do Pháp
lập ra để thực hiện mục đích kinh tế, chính trị của mình.
Có thể nói Trung Kì là trung tâm của triều đình Huế. Đây là nơi đại diện cao
nhất cho sự tồn tại của quan lại nhà Nguyễn bấy giờ, đồng thời cũng là nơi Pháp
duy trì chế độ nửa bảo hộ. Vì thế nghiên cứu Trung Kì thì có thể thấy được tính
chất điển hình nhất của chế độ phong kiến bù nhìn Nam triều cuối thế kỉ XIX đầu
thế kỉ XX.
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề được
đặt ra trong thời gian đó như “ Lịch sử cận đại Việt Nam”(Trần Văn Giàu), “Lịch
sử cách mạng Việt Nam” (Đào Duy Anh), “Cách mạng cận đại Việt Nam” (Trần
Huy Liệu), “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” (Trần Huy Liệu)…Những công
trình này đã trình bày khá sâu sắc cụ thể bối cảnh xã hội của cuộc kháng chiến
1
chống thực dân Pháp đương thời, những chính sách cai trị của thực dân Pháp với
thuộc địa Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, phong trào đấu tranh của
giới hạn Trung kì vì thực ra sau Hiệp ước Patenotre thì quyền hạn của chính quyền
quân chủ chỉ còn tồn tại ở Trung Kì. Và như đã nói ở trên thì đây là nơi đại diện
cao nhất cho sự tồn tại của quan lại nhà Nguyễn bấy giờ, đồng thời cũng là nơi
Pháp duy trì chế độ nửa bảo hộ. Vì thế nghiên cứu Trung Kì thì có thể thấy được
tính chất điển hình nhất của chế độ phong kiến bù nhìn Nam triều cuối thế kỉ XIX
đầu thế kỉ XX. Đối với phạm vi không gian thì những mốc 1884 và 1925 đều mang
những ý nghĩa nhất định. Năm 1884 là năm diễn ra việc kí kết hiệp ước đầu hành
nhục nhã của triều đình Huế trước sự tấn công của thực dân Pháp. Có thể nói từ sau
hiệp ước này Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp cho dù tên gọi ở mỗi miền
có khác nhau đi chăng nữa. Năm 1925 là năm quan trọng được đánh giấu bằng bản
Quy ước kí ngày 6/11/1925 giữa chính quyền thực dân và triều đình phong kiến.
Với bản quy ước này chính quyền thực dân đã hoàn toàn nắm quyền lập pháp hành
pháp và tư pháp. Nó đã tự lột bỏ cái nhãn hiêu “bảo hộ” giả nhân giả nghĩa của nó.
Có thể nói đây là đỉnh cao của đường lối trực trị của chính quyền thuộc địa. Bài
viết do giới hạn về mặt thời gian và tài liêu nên chỉ đề cập đến bộ máy cai trị của
thực dân ở cấp độ Trung ương, kì và tỉnh còn cấp độ lãng xã xin được tiếp tục
nghiên cứu.
Bài viết có tham khảo những tài liệu gốc, văn bản gốc, nhiều công trình
nghiên cứu có liên quan của các nhà sử học và những giáo sư đầu ngành. Em xin
chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn trực tiếp đồng thời là sự giúp đỡ chỉ bảo
nhiệt tình của Thầy cô giáo trong khoa cùng bạn bè đã giúp đỡ cho em hoàn thành
báo cáo này. Do còn nhiều hạn chế về nhận thức và trình độ nên bài viết còn nhiều
thiếu sót. Mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và bạn bè để bổ xung và sửa
chữa. Em xin chân thành cảm ơn.
3
NỘI DUNG
4
Năm 1858 Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta mở đầu cho thời kì xâm
lược và thống trị của chúng ở Việt Nam. Triều đình Phong kiến đã lần lượt kí các
hành ước ngày 5/6/1862 và ngày 15/2/1874 với thực dân Pháp. Pháp đã từng bước
5
chịu một sự kiểm soát nào của người Pháp” cả ( điều 6). Nhưng sang đến Hiệp ước
6/6/1884 thì cái đoạn “…không phải chịu một sự kiểm soát nào của nước Pháp”
không còn được ghi nữa. Đây là tiền đề có tính chất pháp lí mà bọn thống trị thực
dân đã chuẩn bị để mở rộng quyền lực của bọn công sứ đầu tỉnh Trung kì.
Hiệp định cũng quy định: “Quan khâm sứ thay mặt chính phủ Pháp chủ
trương trong việc ngoại giao của Việt Nam bảo đảm sao cho việc bảo hộ được thi
hành đúng đắn mà không can thiệp đến chính sự của các tỉnh… Người ngoại quốc
muốn đi lại trong xứ Trung kì phải được quan Khâm sứ Huế hoặc quan Thống đốc
Nam kì cấp thông hành rồi duyệt đi”(khoản 5).
Như vậy điều ước Patenotre đã đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho chính quyền
đô hộ của Pháp ở Việt Nam. Pháp với vai trò bảo hộ nắm mọi quyền cai quản triều
chính, còn quyền hành thực chất của triều Nguyễn trên thực tế bị tước bỏ, nhà
Nguyễn không có tự quyền quyết định công việc của đất nước mà tất cả những mặt
chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao… đều nằm dưới sự kiểm soát của Pháp.
1.2. Bộ máy chính quyền Nam triều
Từ sau khi Pháp thiết lập chế độ “Toàn quyền Đông Dương” bộ máy cai trị
của chính quyền AnNam (Trung kì) dần có sự thay đổi và có khác về hình thức so
với Bắc Kì. Bộ máy cai trị mang tính chất “song hành” hay “lưỡng thể”
2
tức là có
hai hệ thống chính quyền song song tồn tại: Nam triều do nhà vua đứng đầu và
Pháp do viên khâm sứ Pháp đứng đầu.Với sự tồn tại của bộ máy chính quyền lưỡng
thể này thì tính chất độc lập tự chủ của chính quyền quân chủ trước đây không còn.
Toàn bộ chính quyền quân chủ bị thực dân Pháp chi phối và điều khiển. Về sau này
năm 1898 chính tên Khâm sứ Trung kì đã tuyên bố trong tờ thông tư rằng: “Từ nay
trên vương quốc An Nam không còn tồn tại hai chính quyền nữa mà chỉ có một
chính quyền duy nhất thôi”
2.
.
* Viện cơ mật
Thành viên của Viện cơ mật gồm có 4 Thượng thư nắm giữa các bộ quan
trọng nhất của triều đình, thường gọi là Tứ trụ triều đình. Viện này đặt dưới sự chủ
toạ của vua và có nhiệm vụ giúp vua lãnh đao quôc gia. Tuy nhiên dưới sức ép của
3
chính quyền thuộc địa ở Việt Nam-Dương Kinh Quốc, tr 153
-
2
Đại nam điển lệ toát yếu- Ngô sĩ Giáo, NXB tp HCM
7
thực dân Pháp ngày 27/9/1897 Thành Thái đã ra đạo dụ về việc tổ chức lại Viện cơ
mật và quy định chức năng của Khấm sứ đối với chính phủ Nam triều. Tất cả công
việc của mỗi bộ đều tập trung giải quyết ở Hội đồng cơ mật. Sau khi hội bàn Hội
đồng cơ mật phải làm tờ trình lên vua. Tờ trình đó phải được thông qua Khâm sứ
phê chuẩn và sau đó mới trình lên vua để nhà vua chuẩn y, đóng dấu và ban bố.
Khâm sứ Pháp có quyền chủ toạ Viện cơ mật và là người quyết định mọi công việc
của Viện cơ mật
* Các bộ
Triều đình vẫn thiết lập 6 bộ như trước đây. Mỗi bộ do một Thượng thu đứng
đầu. Bộ chia thành các Ty do Thám tri đứng đầu. Dưới Thám tri có Thị lang giúp
việc, dưới Thi lang có các quan lại như Lang tung, Tá lý, Viên ngoại, chủ sự, tư vụ.
Sáu Thượng thư họp lại thành Hội đồng Thượng thư.
Đạo dụ của Thành Thái ngày 27/9/1897 cũng bãi bỏ chức Hội đồng thượng
thư nhưng đến ngày 6/11/1925 lại được tái thành lập do bản Công ước kí giữa
Pháp và Nam triều. Hội đồng thượng thư đặt dưới sự chủ toạ của Khâm sứ hoặc
của viên chức Pháp đại diện cho Khâm sứ.
* Viện đô sát
Viện này đặt từ năm thứ 3 niên hiệu Gia Long. Viện đô sát có chức năng
nhiệm vụ là kiểm soát mọi hoạt động của các cấp và theo dõi việc thi hành luật
pháp cũng như quy tắc do Triều đình ban hành “ những sự tâu đối điều hay, hay
Tổng là đơn vị hành chính trung gian giữa phủ, huyện với các làng xã trực
thuộc. Một phủ hay huyện có nhiều Tổng ( thường dưới 100 tổng) do chánh tổng
cai quản.Trong Đại Nam sử lệ cũng ghi: Lệ định phàm Tổng nào số đinh điền nhiều
và Tổng nào mà đường đi xa đến 2, 3 ngày thì phải đặt 1 cai Tổng và 1 phó Tổng.
Mỗi Tổng quản lí một số làng xã.
1.2.5. Cấp xã
Xã và Làng (thôn) là cấp cơ sở của chính quyền nhà nước. Đứng đầu là Lý
trưởng, phó lý trưởn. Thực dân Pháp duy trì tổ chức làng xã nhằm sử dùng bộ máy
kì hào phong kiến để thu thuế, bắt lính, đi phu, đàn áp nhân dân, cũng như lợi dụng
9
những phong tục tập quán lỗi thời, lạc hậu để dễ bề thống trị. Toàn quyền Đume đã
bộc lộ dã tâm này: “Theo tôi duy trì trọn vẹn thậm chí tăng cường cách tổ chức cũ
kĩ mà chúng ta đang thấy đó là một điều tốt đẹp. Theo cách tổ chức này thì mỗi
làng xã sẽ là một nước cộng hoà bé nhỏ, độc lập trong giới hạn những quyền lợi địa
phương. Đó là một tập thể được tổ chức rất chặt chẽ có kỉ luật và rất có trách nhiệm
với chính quyền cấp trên về những cá nhân thành viên của nó, những cá nhân mà
chính quyền cấp trên có thể không cần biêt tới, đó là điều rất thuận lợi cho công
việc của chính quyền”
4
Như vậy bộ máy chính quyền Nam triều ở An Nam sau Hiệp định Paternotre
về cơ bản không khác gì nhiều so với trước.Theo như D.G .E.Hall tác giả của cuốn
sách “ Lịch sử Đông Nam á”đã nhận xét: “đối với xứ bảo hộ thì việc thực thi quyền
lực không được trực tiếp như ở Nam Kì. Việc cai trị thực sự do các viên chức bản
xứ thực hiện dưới sự chỉ đạo của các viên chức Pháp tương ứng, nhưng viên chức
này không bao giờ can thiệp trực tiếp trừ phi đó là điều tối cần thiết. Do đó quan lại
bản xứ không phải là bung xung nhưng sự kiểm soát của Pháp vẫn là tuyệt đối”.
Đội ngũ quan lại ở cấp Trung ương (Triều đình) và các cấp tỉnh, phủ, huyện, đạo,
châu, ở Trung kì trước đấyđều do vua quan bổ dụng, thuyên chuyển, thăng giám.
“Hình thức bên ngoài của chính quỳên bản xứ rất đồ sộ điều đó cũng có ích để làm
cho sự cai trị của nước ngoài bớt khó chiu hơn”
Từ sau khi kí Hiệp ước năm 1884, chính quyền thực dân đã được thành lập ở
3 cấp: Trung ương , cấp kì và cấp tỉnh.
Ở TRUNG ƯƠNG: Đứng đầu cấp này là một viên tổng trú sứ chung cho cả
Bắc kì và Trung kì nên được gọi là Toàn quyền lưỡng kì hay Toàn quyền Trung-
Bắc kì. Tổng trú sứ đóng tại kinh đô Huế, là người thay mặt cho chính phủ Pháp để
duy trì mọi công việc đối ngoại của Nam triều. Chế độ tổng trú sứ tồn tại cho đến
ngày 9/5/1889 thì bị bãi bỏ theo Sác lệnh của Tổng thống Pháp, chế độ Tổng trú sứ
từ 1886 về trước đều do các võ quan nắm và từ 1886-1889 chuyển sang tay các
quan văn.
Ở CẤP KÌ: Ngày 27/1/1886, Pháp thiết lập ở Bắc kì và Trung kì mỗi nơi một
viên chức cao cấp người Pháp. Đứng đầu Bắc kì là viên Thống sứ. Đứng đầu Trung
kì là viên Khâm sứ. Cả hai viên này đều trực thuộc toàn quyền Trung- Bắc kì.
Khâm sứ có nhiệm vụ quản lý và khống chế mọi hoạt động của triều đình Huế.
11
Thống sứ có nhiệm vụ quản lý và khống chế mọi hoạt động của quan lại người Việt
ở Bắc kì.
Ở CẤP TỈNH: đứng đầu cấp tỉnh là viên công sứ người Pháp. ở Trung kì,
chức công sứ đầu tỉnh được thiết lập theo quy ước ngày 30/7/1885. Chức năng của
công sứ đứng đầu trong thời điểm này không được xác định cụ thể như ở Bắckì .
Tuy nhiên qua Hiệp ước 25/8/1883, ta thấy công sứ là người nắm giữ các vấn đề
thuộc về thương chính và công chính trong tỉnh; còn các quan lại người Việt ở cấp
tỉnh vẫn được “tiếp tục cai trị như trước, không phải chịu một sự kiểm soát nào của
nước Pháp” cả (điều 6 Hiệp ước). Nhưng phải sang đến Hiệp ước 1884 thì quyền
ấy không con nữa
Ngày 8/2/1886 Tổng thống Pháp kí sác lệnh cho phép các viên công sứ ở
Bắc kì và Trung kì được thi hành cả chức năng lãnh sự nữa, đồng thời cho phép
viên tổng Trú sứ Trung-Bắc kì tổ chức bộ máy cai trị đầu não của chúng ở cấp kì và
cấp tỉnh. Đó là phủ Thống sứ Bắc kì , Toà Khâm sứ Trung kì và các toà công sứ
các tỉnh.
Tóm lại: Đây là mô hình tổ chức chính quyền thực dân ở Trung kì trước ngày
khâm sứ Trung kì. Chủ tịch hội đồng là khâm sứ.
- Hội đồng học chính Trung kì: được thành lập theo nghị định của Toàn
quyền ngày 18/9/1923 của Toàn quyền có nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất mọi vấn đề
liên quan đến học hành, thi cử Trung Kì.
- Viện dân biểu Trung Kì: Tiền thân của nó là phòng tư vấn Trung Kì, thành
lập theo đạo dụ ngày 19/4/1920 của Khải Định và được đổi thành viện dân biểu
theo Nghị định ngày 21/2/1926 của Toàn quyền. Ngày 3/7/1933 thực dân Pháp cho
phép ra đạo dụ tổ chức tại viện dân biểu. Viện có nhiệm vụ góp ý kiến cho chính
phủ Nam triều về các vấn đề kinh tế, tài chính, xã hội. Các uỷ viên ( nghị viên) đại
diên cho ba khối người: Toàn bộ dân đinh người Kinh ( theo tỷ lệ, 1/3 vạn ), các
13
thương gia có đóng thuế môn bài, dân đinh các dân tộc. Mỗi năm viện họp một
khoá tại Huế.
Có thể nói Pháp đã lập ra rất nhiều những tổ chức cơ quan hỗ trợ tư vấn ở
cấp độ Trung ương. Đây là hệ thống ngụy trang mà Pháp sử dụng. Hội đồng tư vấn
bản xứ Trung Kì là một ví dụ tuyệt vời về hệ thống nguỵ trang này. Người Pháp lập
râ song không trao cho các Hội đồng này chút quyền lực chính trị nào. Dự toán
ngân sách của xứ bảo hộ được trình bày trước Hội đồng này nhưng đó cũng chỉ là
hình thức thôi .
Ở CẤP TỈNH:
Cấp tỉnh ở Trung kì: Tại mỗi tỉnh Trung kì, theo quy ước ngày 30/7/1885,
chính quyền thực dân đã đặt chức công sứ người Pháp để nắm giữ các vấn đề về
công chính và thương mại. Thể theo Hiệp ước 25/8/1883 “các quan công sứ có
quyền phân xử những việc kiện cáo dân sự tài sản và buôn bán giữa những người
Âu châu và người bản xứ, giữa những người này với những người muốn được sự
bảo hộ của Pháp”. Điều 17: “ các viên công sứ kiểm soát việc tuần phòng các thị
trấn mở mang đến đâu thì quyền kiểm soát quan lại bản xứ của các viên công sứ
cũng mở rộng đến đó”
5
Năm 1886 thể theo Hiệp ước ngày 25/8/1883, chính quyền thực dân ở chính
mình bằng cách đặt chức công sứ do người Pháp nắm giữ. Đồng thời các viên công
sứ này lại có các tổ chức phụ tá giúp sức sẽ thống nhất trong tay mọi việc thuế vụ,
giám sát từ việc thu nạp đến việc sử dụng.
CẤP THÀNH PHỐ Ở TRUNG KÌ:
Thành phố đầu tiên được thành lập ở Trung Kì là Đà Nẵng theo Nghị định
ngày 24/5/1889 của Toàn quyền sau khi Đồng Khánh ra dụ ngày 1/10/1888 nhượng
cho Pháp quỳên sở hữu hoàn toàn khu vực ấy. Đà Nẵng là thành phố cấp II do một
đốc lý người Pháp đứng đầu có phụ ta giúp việc.
Ngoài ra chính quyền thực dân còn cho chuyển một số thị xã quan trọng lên
thành phố cấp III do công sứ kiêm đốc lí như: Vinh, Thanh Hoá
15
CẤP XÃ Ở TRUNG KÌ:
Đối với cấp xã ở Trung Kì tuy thực dân Pháp không trực tiếp can thiệp xong
chúng đã thông qua chính quyền Nam triều để với tay tới cấp xã. Trong phạm vi
báo cáo này do hạn chế về tư liệu tôi xin phép không trình bày sâu về chính quyền
thực dân Pháp tổ chức ở cấp xã ở Trung Kì
Như vậy Pháp với sức manh quân sự và tiềm lực kinh tế của mình đã dần dần
cho chân vào triều đình nước ta. Sau khi thành lập Liên Bang Đông Dương Pháp đã
tiến hành củng cố,cải cách, hoàn thiện bộ máy thống trị của mình. Đứng đầu chính
quyền cai trị ở Trung Kì là 1 viên khâm sứ Pháp tập trung trong tay quyền lập
pháp, tư pháp, hành pháp. Tiếp đến mỗi tỉnh ở Trung Kì do một viên công sứ đảm
nhận cùng với những tổ chức cơ quan phụ giúp thực hiện tốt những chức năng
nhiệm vụ của công sứ. Hệ thống chính quyền mà Pháp xây dựng ở Trung Kì đã làm
cho chính quyền thống trị ở Trung Kì dần dần có sự thay đổi có những nét khác
biệt so với Bắc kì và Nam Kì. ở Trung Kì có hai hệ thống chính quyền song song
tồn tại: Nam triều do nhà Nguyễn đứng đầu và Pháp do viên khâm sứ Pháp đứng
đầu. Đây là chế độ cai trị mang tính “ song hành”, “ lưỡng thể”
6
. Tức là có sự tồn
tại đồng thời của hai hệ thống chính quyền của Pháp và của Nam triều.Tuy nhiên
quyền hành, chỉ làm theo mệnh lệnh của người khác. Hai khái niệm này đều mang
đến cho ta cách hiểu thế nào thì được gọi là “bù nhìn”. Từ đó có thể rút ra được
khái niệm, đặc điểm của một chính quyền bù nhìn.
Đó là chính quyền trên thực tế bị tước hết quyền uy chính trị độc lập. Vì thế
chính quyền ấy phải làm theo chỉ đạo của một quyền lực khác. Toàn bộ những
hoạch định hay chính sách đều dưới sự chỉ đạo của thế lực đó.
Chính quyền đó không tự mình được đưa ra những quyết định mà nó muốn
kể cả những quyết định mà vốn thuộc quyền uy của nó.
Một chính quyền gọi là bù nhìn khi nó phải hành động không nhất thiết chỉ
là lợi ích của nó va nó được một quyền lực khác trả công, ban thưởng, trừng phạt
nếu không thực hiện.
17