Phân tích sự thay đổi sinh kế của các hộ dân xã Hải Yến sau khi bàn giao đất xây dựng khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa - Pdf 28

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Phân tích sự thay đổi sinh kế
của các hộ dân xã Hải Yến sau khi bàn giao đất xây dựng khu kinh tế Nghi
Sơn, tỉnh Thanh Hóa” là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả
trong khóa luận là hoàn toàn trung thực.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Thu
i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành báo cáo khóa luận tốt
nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức và
cá nhân.
Trước hết tôi xin cảm ơn các thầy cô khoa Kinh tế và Phát triển nông
thôn, các thầy cô của trường đã dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học này.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Nguyễn Các Mác, người
hướng dẫn khoa học đã dành nhiều thời gian tâm huyết, tận tình chỉ bảo tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Hải Yến huyện Tĩnh Gia, tỉnh
Thanh Hóa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong khoảng thời gian thực hiện khóa
luận này. Tôi xin chân thành cảm ơn 50 người dân và các cán bộ xã đã giúp
tôi trong quá trình thu thập thông tin phục vụ đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên
khích lệ giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Thu

sinh kế của hộ nông dân. Theo đó, sự thay đổi sinh kế của các hộ dân Hải Yến
được phân tích thông qua 3 hợp phần sinh kế cơ bản ở quy mô hộ đó là:
nguồn lực sinh kế; chiến lược, hoạt động sinh kế và các kết quả sinh kế. Từ
những phân tích đó, chỉ ra những điểm đã đạt được và những nút thắt cần tháo
gỡ, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp cụ thể.
Qua nghiên cứu thực tế, các nguồn lực sinh kế của người dân Hải Yến có
những thay đổi căn bản. Nguồn lực tự nhiên quan trọng nhất là đất đai suy
giảm nhanh chóng sau thu hồi đất, đây cũng là điểm khởi đầu cho một chuỗi
những thay đổi sinh kế của họ. Mất đất được đổi lại bằng nguồn tài chính dồi
dào hơn do những khoản hỗ trợ đền bù. Tuy nhiên, thiếu định hướng đúng
trong việc sử dụng đã khiến nguồn lực này nhanh chóng suy giảm. Nguồn vốn
con người chưa được chú trọng đầu tư đúng mức đã khiến người dân khó
khăn trong việc chuyển đổi việc làm. Nguồn lực vật chất cá nhân mà chủ yếu
là tài sản tiêu dùng tăng lên, quá trình thu hồi đất cũng tạo điều kiện để Hải
Yến phát triển nguồn vốn vật chất dùng chung cho cả cộng đồng, hệ thống cơ
sở hạ tầng được đầu tư xây dựng đồng bộ sau thu hồi đất tạo điều kiện cho
người dân phát triển sinh kế. Nguồn vốn xã hội cũng được cải thiện đáng kể
khi ở mức độ tham gia vào mạng lưới tổ chức đoàn thể xã hội của người dân
đươc nâng cao sau khi thu hồi đất. tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các tổ
chức chưa cao khiến nỗ lực của người dân chưa mang lại kết quả tương xứng.
Từ chỗ chiến lược sinh kế phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, sau khi
bàn giao đất xây dựng KKT, người dân Hải Yến buộc phải chuyển đổi chiến
lược sinh kế để phù hợp với nguồn lực hiện có. Và lao động tự do, làm những
công việc tay chân, nặng nhọc ở KKT Nghi Sơn đang là sự lựa chọn của số
đông người lao động ở đây. Nghiên cứu cho thấy, các hộ dân sau thu hồi đất,
tuy có thu nhập cao hơn nhưng sự ổn định và bền vững về sinh kế chưa bao
giờ khiến họ yên tâm. Người dân cảm thấy bế tắc trong việc tìm cho mình
iv
một hướng đi sinh kế khi những nguồn lực họ sở hữu đang ngày một suy
giảm.

2.1.2 Một số vấn đề liên quan đến thu hồi đất phục vụ CNH – HĐH 11
2.2 Lý luận về sinh kế và sự thay đổi sinh kế của hộ nông dân 16
2.2.1 Quan điểm về sinh kế và khung sinh kế bền vững 16
2.2.2 Sự thay đổi sinh kế 27
2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 30
2.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 30
2.3.2 Kinh nghiệm của Việt Nam 36
2.3.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 40
PHẦN III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43
3.1.1 Khái quát về khu kinh tế Nghi Sơn 43
vi
3.1.2 Đặc điểm tự nhiên xã Hải Yến 45
3.1.3 Đặc điểm kinh tế- xã hội 48
3.2 Phương pháp nghiên cứu 55
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 55
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 56
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 56
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 57
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 60
4.1 Tình hình chung của các chủ hộ 60
4.2 Sự thay đổi các nguồn lực sinh kế của hộ 62
4.2.1 Thay đổi nguồn vốn tự nhiên 62
4.2.2 Sự thay đổi nguồn vốn con người 65
4.2.3 Sự thay đổi nguồn vốn tài chính 69
4.2.4 Thay đổi về nguồn vốn vật chất 74
4.2.5 Sự thay đổi nguồn vốn xã hội 80
4.3 Sự thay đổi chiến lược và các hoạt động sinh kế 83
4.4 Sự thay đổi kết quả sinh kế của các hộ dân xã Hải Yến 85
4.5 Những kết quả và hạn chế trong sự thay đổi sinh kế của các hộ dân 92

Bảng 4.10 Đánh giá chung của người dân về sự thay đổi của hộ trước và sau khi bàn giao đất 88

viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Khung phân tích sinh kế bền vững 20
Hình 3.1 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của xã Hải Yến năm 2009 49
Hình 4.1 Cơ cấu tình trạng kinh tế của các hộ được điều tra 61
Hình 4.2 Bình quân tổng diện tích đất/nhân khẩu trước và sau khi thu hồi đất 64
Hình 4.3 Sự thay đổi cơ cấu lao động của Hải Yến sau khi bàn giao đất 69
Hình 4.4 Sự thay đổi khả năng tích lũy tài chính của hộ 72
Hình 4.5 Sự thay đổi thu nhập bằng tiền mặt bình quân 1 tháng của các hộ trước và sau khi thu hồi
đất 74
Hình 4.6 Cơ cấu sử dụng tiền đền bù, hỗ trợ thu hồi đất của các hộ dân 75
Hình 4.7 Sự thay đổi đồ dùng tiện nghi trước và sau thu hồi đất 76
Hình 4.8 Đánh giá của người dân về mức độ thay đổi văn hóa phong tục, nếp sống sau bàn giao
đất 81
Hình 4.9 Đánh giá của người lao động về khả năng tìm kiếm việc làm ở KKT 90
Hình 4.10 Tính chất các công việc hiện tại ở khu kinh tế Nghi Sơn 91
ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ Bình quân
CC Cơ cấu
CNH Công nghiệp hóa
CSHT Cơ sở hạ tầng
DFID Bộ phát triển quốc tế Anh
ĐVT Đơn vị tính
HĐH Hiện đại hóa
HDB Cục phát triển nhà
KCN Khu công nghiệp
KD – DV Kinh doanh dịch vụ

trọng trong việc giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, đào tạo
nguồn nhân lực góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Mặt khác,
đầu tư phát triển hạ tầng khu kinh tế ven biển trong đó có đầu tư nước ngoài
sẽ tạo nên mạng lưới các công trình kết cấu hạ tầng có giá trị lâu dài, góp
phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng cả nước, mang lại hiệu quả tích
cực cho sự phát triển của khu vực. Bên cạnh đó, vị trí của các khu kinh tế
cũng có vai trò khá quan trọng do trung tâm kinh tế của vùng, địa phương
thường gắn liền với cảng biển, sân bay, đó sẽ là điều kiện tốt cho giao lưu
kinh tế, thương mại, dịch vụ phát triển nguồn nhân lực. Từ đó sẽ tạo sức hút
đối với các nhà đầu tư và thúc đẩy các hoạt động đầu tư vào khu vực này.
1
Tuy nhiên, để xây dựng và phát triển các khu kinh tế cũng đòi hỏi một
loạt các chi phí tài chính và kinh tế gồm: Kinh phí đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng; lương nhân viên nhà nước và các chi phi hoạt động khác; các khoản
miễn, giảm thuế… Bên cạnh đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng khi
xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế đó là công tác thu
hồi đất giải phóng mặt bằng. Những năm qua, công tác thu hồi đất phục vụ
cho những mục đích trên diễn ra mạnh mẽ ở nhiều địa phương trong cả nước.
Quá trình thu hồi đất đã ảnh hưởng đến đời sống của người nông dân mất đất
và cả nông dân vùng có đất bị thu hồi, trên nhiều mặt.
Một mặt, thu hồi đất có tác động tích cực như thúc đẩy sự chuyển dịch
lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Lực lượng lao động
nông thôn sẽ giảm dần. Mặt khác, việc thu hồi đất nếu thực hiện không tốt
cũng gây ra những hệ quả xấu như: không ít người nông dân mất đất canh tác
gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, không có việc làm, thu nhập
bấp bênh. Vì vậy, việc nghiên cứu sự thay đổi sinh kế của các hộ dân sau khi
bàn giao đất xây dựng khu kinh tế, khu công nghiệp là rất cần thiết. Từ đó
đánh giá được thực trạng sinh kế của người dân và đề xuất các giải pháp
nhằm đảm bảo ổn định sinh kế và hướng tới sinh kế bền vững cho những
người chịu ảnh hưởng của các dự án phát triển công nghiệp.

- Đề xuất các giải pháp đảm bảo sinh kế ổn định và bền vững hơn cho các
hộ dân xã Hải Yến trong thời gian tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế, sự thay đổi sinh kế của các hộ dân
sau khi bàn giao đất để xây dựng khu kinh tế?
- Các nguồn lực sinh kế của hộ dân tại xã Hải Yến thay đổi như thế nào?
Các chiến lược và hoạt động sinh kế của họ thay đổi ra sao?
- Chiến lược, hoạt động sinh kế nào có thể tận dụng tối đa các nguồn lực và
mang lại kết quả tốt nhất?
3
- Những định hướng, giải pháp cụ thể nào nhằm đạt được sự ổn định và bền
vững cho sinh kế của người dân xã Hải Yến.
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sinh kế của những hộ gia đình ở xã
Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa sau khi bàn giao đất để xây dựng
khu kinh tế Nghi Sơn.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung phân tích và đánh giá sự thay đổi sinh kế của các hộ dân
Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa sau khi bàn giao đất xây dựng khu
kinh tế Nghi Sơn.
1.4.2.2 Phạm vi về không gian
Nghiên cứu được tiến hành tại địa bàn xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia,
tỉnh Thanh Hóa.
1.4.2.3 Phạm vi về thời gian
- Nghiên cứu sự thay đổi sinh kế của các hộ dân xã Hải Yến trước thu hồi
đất năm 2010 và sau thu hồi đất năm 2014.
- Đề tài thu thập số liệu thống kê kinh tế xã hội địa phương năm 2009 và
2014.

vừa giúp khuyến khích xuất khẩu trong khi vẫn cho phép duy trì các hàng rào
ngoại thương.
5
- KKT hình thành sẽ tạo ra sự phân công lao động theo hướng chuyển
lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông
nghiệp, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng
phát triển các ngành thương mại, dịch vụ, công nghiệp. Với khả năng thu hút
nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, các KKT được kỳ vọng sẽ tạo ra
một số lượng lớn việc làm, đặc biệt là những ngành thuộc nhóm ưu tiên đầu
tư. Mặc dù KKT, cùng với khu công nghiệp, khu chế xuất, khu cảng tự do
được nhiều nước sử dụng như một công cụ phát triển công nghiệp quan trọng,
song thực tế cho thấy mức độ thành công của các công cụ này rất khác nhau
và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.
- Là phòng “thí nghiệm” cho các chính sách và cách tiếp cận mới:
phương diện này, các đặc khu kinh tế của Trung Quốc là những ví dụ kinh
điển. Các chính sách đột phá về tài chính, pháp lý, lao động, và giá cả đã được
giới thiệu và thử nghiệm đầu tiên ở các đặc khu kinh tế (tiêu biểu là Thẩm
Quyến) trước khi được mở rộng cho phần còn lại của nền kinh tế.
Cũng theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, điều kiện thành lập và mở rộng
khu kinh tế:
- Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển khu kinh tế đã được phê duyệt.
- Có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển
nước sâu gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch
của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và
nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết
cấu hạ tầng kỹ thuật.
- Có quy mô diện tích từ 10.000 ha trở lên và đáp ứng yêu cầu phát triển
tổng hợp của KKT.
- Có khả năng thu hút dự án, công trình đầu tư với quy mô lớn, quan
trọng và có tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực.

7
đổi giữa nước ngoài với nước ngoài. Hàng hóa từ nước ngoài nhập khẩu vào
khu phi thuế quan hoặc từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài không
thuộc diện phải nộp thuế xuất, nhập khẩu.
- Khu thuế quan: là khu vực còn lại của KKT, ngoài phạm vi khu phi
thuế quan. Trong khu thuế quan có khu công nghiệp, khu chế xuất, khu giải trí
đặc biệt, khu du lịch, khu dân cư và hành chính. Hàng hóa ra vào khu thuế
quan thuộc khu kinh tế phải tuân thủ quy định của pháp luật về mặt hàng, thuế
xuất nhập khẩu, nhưng được áp dụng thủ tục hải quan thuận lợi. Hàng hóa
được tự do lưu thông giữa khu thuế quan và nội địa.
• Về các lĩnh vực đầu tư: KKT cho phép đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực,
nhưng có mục tiêu trọng tâm, phù hợp với từng khu kinh tế được thành lập ở
mỗi địa bàn khác nhau.
• Về các ưu đãi đầu tư của Nhà nước đối với các khu kinh tế: nhà đầu tư
có dự án đầu tư vào khu kinh tế được hưởng rất nhiều các chính sách ưu đãi
đầu tư của Nhà nước đặc biệt là các chính sách về thuế. Một ưu đãi đáng chú
ý của pháp luật Việt Nam đối với KKT là vấn đề người lao động nước ngoài
cư trú và làm việc tại KKT, theo đó: người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài làm việc, hoạt động đầu tư, kinh doanh tại KKT và các thành
viên gia đình của họ được cấp thị thực xuất, nhập cảnh có giá trị nhiều lần và
có thời hạn phù hợp với thời hạn làm việc tại KKT; được cư trú, tạm trú có
thời hạn trong KKT và ở Việt Nam.
 Vai trò của các khu kinh tế
Với mục tiêu được đặt ra là đến năm 2020, các khu kinh tế ven biển trên
cả nước đóng góp từ 53%-55% GDP quốc gia và 55%-60% tổng kim ngạch
xuất khẩu. Điều này cho thấy vai trò hết sức quan trọng của khu kinh tế ven
biển trong phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Kể từ năm 2003, mô hình
khu kinh tế mở đầu tiên Chu Lai được thành lập, tính đến nay đã có 18 KKT
ra đời. Các khu kinh tế ngày càng được quy hoạch và phát triển mạnh mẽ trên
8

tế.
- Sự thành công của KKT được thể hiện ở chỗ: mức thu hút vốn đầu tư,
tạo việc làm cho người lao động, tỉ trọng đóng góp trong tăng trưởng kinh tế,
năng lực xuất khẩu, chuyển giao công nghệ mới, làm hạt nhân thúc đẩy địa
phương, vùng và “đầu tàu” lôi kéo các vùng lân cận phát triển. Đặc biệt là sự
ổn định lâu dài của nền kinh tế địa phương, vùng và quốc gia.
2.1.1.3 Khái lược về chính sách phát triển khu kinh tế của Việt Nam
Khu kinh tế đầu tiên của Việt Nam là khu kinh tế mở Chu Lai, thành lập
năm 2003. Ngày 23/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số
1353/ QĐ- TTg về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển các KKT ven
biển của Việt Nam đến năm 2020”. Theo Vụ quản lý các KKT, đến thời điểm
tháng 12/2012, cả nước có 15 khu trong quy hoạch nói trên đều đã được chính
thức thành lập là KKT hoặc được hưởng quy chế ưu đãi như KKT. Trong năm
2010, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý bổ sung thêm 3 KKT ven biển vào quy
hoạch (gồm KKT Đông Nam Quảng Trị, KKT Ven biển Thái Bình, KKT
Ninh Cơ). Như vậy, hiện nay có 18 KKT ven biển được phê duyệt trong quy
hoạch phát triển KKT ven biển của cả nước đến năm 2020 với tổng diện tích
mặt đất và mặt nước 733.066 ha, bằng khoảng 2,2% tổng diện tích cả nước.
Bảng 2.1 Danh sách các khu kinh tế Việt Nam đến năm 2012
STT Danh sách các KKT Địa điểm Thời điểm
thành lập
Diện tích
(ha)
1 Đình Vũ- Cát Hải Hải Phòng 10/01/2008 21.600
2 Vân Đồn Quảng Ninh 31/05/2006 217.133
3 Nghi Sơn Thanh Hóa 15/05/2006 18.612
4 Đông Nam Nghệ An Nghệ An 11/06/2007 18.826
5 Vũng Áng Hà Tĩnh 03/04/2006 22.781
6 Hòn La Quảng Bình 10/06/2008 10.000
7 Chân Mây-Lăng Cô Thừa Thiên Huế 05/01/2006 27.108

11
mình, đặc biệt là quyền sử dụng, thu hồi và trao đổi. Ở các nước duy trì sở
hữu toàn dân đối với đất đai như nước ta, xuất hiện khái niệm thu hồi và bàn
giao đất. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu
rõ “ Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn
lợi ở vùng biển, thềm lục địa đều thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước giao đất
cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Như vậy, thu hồi đất là
quyền lực của Nhà nước ta được quy định trong luật căn cứ vào vị thế đại
diện sở hữu toàn dân đối với đất đai. Thu hồi đất là việc các cơ quan nhà nước
thu hồi quyền sử dụng đất của những các nhân, tổ chức nào đó để giao cho cá
nhân tổ hoặc tổ chức khác sử dụng hiệu quả hơn hoặc để Nhà nước sử dụng
vào mục đích chung. Trong khi đó đối với người bị thu hồi đất, thường là
nông dân, Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ, bồi thường và tái định cư đối
với người bị thu hồi đất.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát triển
các khu công nghiệp là một xu hướng tất yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội của cả nước. Các KCN, KKT thời gian qua đã đóng góp rất
quan trọng vào sự phát triển chung như tạo việc làm, đóng góp vào ngân sách
trung ương và địa phương Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó, việc xây
dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế cũng nảy sinh các vấn đề xã hội bức
xúc liên quan đến đời sống của người nông dân sau khi bàn giao đất.
Việc làm của người dân có đất bị thu hồi: Tạo việc làm cho nông dân sau
thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn
đề cần thiết phải được Đảng và Nhà nước, các địa phương và chủ thể sử dụng
đất thu hồi nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, từ đó có sự quan tâm đúng mức và
phải coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, địa phương. Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển
các KCN, KKT đã có tác động rất lớn đến việc làm, điều kiện sống và thu
nhập của nhiều hộ nông dân, do: Thứ nhất, họ phải thay đổi nơi cư trú từ chỗ
12

thiết. Theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính Phủ về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì tái định cư được
giải thích là: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại
Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một
trong các hình thức sau: (1). Bồi thường bằng nhà ở; (2). Bồi thường bằng
giao đất ở mới; (3). Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới”. Thu hồi đất
không chỉ làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của người bị thu hồi
đất, lợi ích Nhà nước, của xã hội. Do vậy trên thực tế giải quyết những vấn đề
nảy sinh từ thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Việc triển khai tái
định cư cho các hộ dân bị thu hồi đất ở còn gặp rất nhiều vấn đề, gây bức xúc
trong nhân dân. Nhiều khu tái định cư thiết kế không hợp lý, chất lượng xây
dựng quá kém, kết cấu hạ tầng không đồng bộ. Khu dân cư mới thì chuẩn bị
không tốt, các hạng mục cơ sở vật chất cơ bản, thiết yếu chưa hoàn thành. Vì
vậy, việc giải quyết tốt vấn đề tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sẽ là công
việc và nhiệm vụ rất quan trọng để giúp người dân sớm ổn định cuộc sống.
Đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất: Chuyển đổi đất nông nghiệp
sang đất phi nông nghiệp là hướng đi tất yếu của quá trình công nghiệp hóa
hiện đại hóa, giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế có sự
dịch chuyển mạnh mẽ. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều hộ nông nghiệp mất đất
sản xuất, phải tìm cách chuyển đổi lao động sang lĩnh vực phi nông nghiệp
nên cần rất được hưởng chính sách ưu đãi về đào tạo nghề. Bên cạnh đó, chất
lượng lao động ở nông thôn nước ta còn thấp đã làm cho thu nhập của người
lao động không thể tăng nhanh; gây ra chênh lệch khoảng cách giàu nghèo
giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng. Chính vì vậy, đào tạo nghề cho
lao động nông thôn, đặc biệt là người dân bị thu hồi đất đang là một yêu cầu
14
cấp bách. Để giải quyết vấn đề này chính phủ đã có những quy định cụ thể về
việc hỗ trợ cho những người dân bị thu hôi đất trong việc đào tạo nghề mới và
chuyển đổi nghề nghiệp nhằm giúp họ sớm ổn định sinh kế. Tuy nhiên, thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status