Rèn luyện một số kỹ năng nói và đọc cho học sinh lớp 6 - Pdf 28

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu
Trong những năm gần đây việc đổi mới phương pháp dạy học để phù hợp
với SGK mới được xem là yêu cầu cấp bách của ngành giáo dục.
Người giáo viên không chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt kiến thức đơn
thuần cụ thể mà phải cung cấp những kiến thức chìa khóa để tự bản thân các em có
thể khám phá được tác phẩm văn học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Hay nói
cách khác nhiệm vụ của các môn học trong đó có môn Ngữ văn trong nhà trường
phổ thông là làm sao bồi dưỡng cho học sinh cách suy nghĩ làm phát triển tư duy
nhận thức, tư duy sáng tạo và năng lực vận dụng của học sinh. Giờ văn phải đưa
đến cho học sinh những hứng khởi đam mê, những thăng hoa trong tâm hồn hạn
chế trình trạng các em “yêu văn học nhưng chán học văn”. Mặt khác đặc trưng của
bộ môn Ngữ văn không chỉ là hình thành kiến thức mà còn là giáo dục, hình thành
đạo đức cho các em , qua bài học học sinh phải tự rút ra được cách ứng xử cho phù
hợp với chuẩn mực xã hội. Để học sinh lĩnh hội được những giá trị đó của môn học
trong quá trình dạy ngoài kiến thức, phương pháp thì kỹ năng đọc nói cũng là một
khâu quan trọng nó ảnh hưởng rất lớn đến một tiết học. Đặc biệt là trong một tiết
học văn, để dẫn dắt học sinh cảm thụ các tác phẩm văn học, dẫn dắt học sinh không
ngừng lớn thêm về tâm hồn trí tuệ qua môn học phải cần đến kỹ năng đọc và nói.
Cần phải đi từ khâu đọc bài văn, đọc đoạn văn, đọc câu văn mà giáo viên và học
sinh sẽ phân tích.
Để phân tích bài văn thì phải có quá trình trao đổi giữa giáo viên và học sinh
là cần phải nói (khâu nói). ở khâu này, giáo viên mà làm tốt được về ngôn từ, âm
lượng , học sinh trả lời lưu loát rõ ràng thì sẽ đem lại hứng thú cho người học và
hiệu quả bài dạy sẽ cao hơn.
Nhờ vậy đọc và nói, có mối quan hệ mật thiết trong một tiết học văn. Đọc
văn, đoạn văn là thể hiện yêu cầu bám sát bài văn trong quá trình giảng văn, tạo
1
điều kiện cho học sinh căn cứ vào từ ngữ, hình ảnh trong bài văn mà nắm được nội
dung hiện thực và nội dung tư tưởng, ý nghĩa của bài văn, của tác phẩm.
Mặt khác, muốn cho học sinh thưởng thức cảm thụ cái hay cái đẹp của bài

và đọc cho học sinh kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi đã mạnh dạn trình
bày một số ý kiến của mình về việc ‘‘Rèn luyện một số kỹ năng nói và đọc cho học
sinh lớp 6”
nhằm giúp học sinh phát triển được kĩ năng đọc, nói một cách có hiệu quả giúp
cho việc dạy học của giáo viên và học sinh đạt kết quả ngày một cao hơn
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Rèn kĩ năng nói
Kĩ năng nói liên quan mật thiết với việc hình thành và phát triển các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết. Nói tốt không chỉ góp phần rèn luyện tư duy mà còn giúp viết
tốt.Muốn nói và viết tốt, người nói cần phải có kĩ năng tiếp nhận thông tin. Những
kĩ năng này luôn đi cùng nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời. Trong đó, nói
là một trong những kĩ năng rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày. Có một thực
tế là nhiều thế hệ học sinh khi ra trường không biết lắng nghe và thấu hiểu, không
biết nói ra những điều mình nghĩ, không truyền đạt được chính xác một thông tin
hoặc không nói đúng theo những nguyên tắcc giao tiếp, không biết viết những văn
bản tối thiểu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, không biết cách đọc hiểu chính
xác một văn bản
Chính vì thế, mục tiêu dạy môn Ngữ văn THCS, Về kĩ năng, Chương trình
môn Ngữ văn nhấn mạnh ‘‘trọng tâm của việc rèn kĩ năng Ngữ văn cho HS là làm
cho HS có kĩ nưng nghe nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu văn
bản và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực
cảm nhạn vfa bình giá văn học’’. SGK Ngữ văn đã chú trọng hơn tới việc hình
3
thành và phát triển kĩ năng nói.Đây là quan điểm mới về dạy học của môn học.Cụ
thể ở lớp 6 có các tiết luyện nói:
-Luyện nói kể chuyện (bài 7, bài 10)
-Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sanh và nhận xét trong văn miêu tả
(bài 20)
-Luyện nói về văn miêu tả(bài 23)
Mục đích của các giờ học này là để tiếp tục rèn luyện kĩ năng trước tập thể

tuân thủ các nguyên tắc hội thoại, biết vận dụng các yếu tố phi ngôn ngữ để lời nói
thêm thuyết phục Đặc biệt tôi chú trọng tạo điều kiện cho học sinh được bộc lộ
những suy nghĩ, tình cảm của các em . Các câu hỏi đặt ra có ngữ cảnh giao tiếp cụ
thể, được đặt trong những ‘‘tình huống có vấn đề” để kích thích óc tư duy và sự
phản xạ nhanh chóng của học sinh. Bên cạnh đó, tôi tạo cho học sinh có tính tự tin,
khuyến khích học sinh bộc lộ những suy nghĩ của mình trong việc phat biểu, thảo
luận ngay cả khi ý kiến đó là sai hoặc chưa hoàn toàn chính xác.
Đối với môn Ngữ văn, muốn học tốt phải đọc tốt, muốn đọc tốt phải nói tốt.
Vì vậy, ngoài việc rèn cho học sinh có kĩ năng nói đúng, đủ nội dung theo yêu cầu,
theo tôi cần rèn luyện cho học sinh thực hiện tốt phát âm đúng, ngắt hơi đúng, đọc
đúng thanh điệu, đọc đúng từ. Để đạt hiệu quả tôi luyện cho học sinh phải nói đúng
rồi đến phải đọc đúng.
Trong khi nói học sinh thường biểu hiện nhiều nhược điểm.Tôi rút ra được
một số nhược điểm của các em học sinh như nói ngọng, nói nhỏ, nói sai ngữ pháp,
nói ngập ngừng, ngượng ngựu,
Từ những nhược điểm, tôi đã nhận thấy cần phải khắc phục thì quá trình tiếp
nhận, khai thác văn bản mới diễn ra tốt, tôi chữa cho các em bằng cách:
1.Chữa phát âm sai:
5
Một trong những lỗi do phát âm sai phổ biến nhất là khi phát âm không phân
biệt được giữa thanh ngã và thanh hỏi
Ví dụ: Nguyễn Hữu Dũng thì các em lại đọc thành Nguyển Hửu Dủng
Tôi đã chữa cho học sinh, học sinh đã có tiến bộ hơn, nhưng kết quả chưa đạt được
như mong muốn
Để chữa sai lầm lẫn giữa dấu hỏi và dấu ngã, chúng tôi cũng hướng dẫn học
sinh cách đọc cụ thể và bắt học sinh đọc.
Ví dụ: Nặng trĩu, ngày giỗ, lỗ mỏng, cổ lỗ, giục dã, dữ dội, nói mãi lỗi vẫn lỗi,
Ngoài hiện tượng đã nói trên, thì còn có hiện tượng phát âm không phân biệt giữa
"gi - d", "s - x", “tr - ch’’ vv Vì lỗi này chỉ có một số ít nên khi em nào bị mắc lỗi
này thì khi nói làm em đó ngượng ngập còn cả lớp thì quan tâm vào đó hơn là quan

người nghe.
3. Chữa nói sai ngữ pháp:
Khi các em phát biểu, tôi theo dõi ý kiến của các em một cách chăm chú
(tuyệt đối không tranh thủ lúc học sinh nói để xoá bảng hoặc ghi bảng). Nghe các
em nói thiếu vị ngữ tôi hỏi nhỏ: Làm sao ?, thế nào ?, có khi chúng tôi còn chêm
vào câu nói của các em những liên từ, giới thiệu từ để các em chuyển ý, nối ý cho
mạch lạc và cung cấp những từ các em còn lúng túng tìm tòi.
Tôi không bao giờ gắt giảng học sinh nói sai ngữ pháp mà dùng giọng nói
nhỏ nhẹ, tác phong điềm đạm, làm cho học sinh thấy mình được thật tình giúp đỡ
nên có hứng khởi phát biểu.
Tôi đề ra một số yêu cầu để giúp các em nói đúng ngữ pháp. Chẳng hạn tôi
yêu cầu là khi trả lời các em phải nhắc lại câu hỏi, không thể trả lời theo kiểu câu
nghi vấn, nghĩa là các em không được dùng những từ "rằng, thì, là, mà" chồng chất
trong câu văn.
4. Chữa tư thế ngượng nghịu khi nói:
7
Lỗi này lớp nào cũng có, tôi tìm ra một số lý do cắt nghĩa tại sao các em lại
hay ngượng nghịu khi nói. Đó là do các em không hiểu bài, không hiểu câu hỏi. Đó
còn là do các em lớn quá, phải đứng trên lớp mãi rất ngượng, hoặc vì các em không
quen nói nên sinh ra nhát gan và cuối cùng là do các em thiếu vốn từ để diễn đạt ý
kiến của mình.
Đối với những em không hiểu bài, không thuộc bài, tôi ghép vào nhóm
những em giỏi văn. Yêu cầu những em giỏi này phải giúp đỡ bạn cho đúng mực về
việc chuẩn bị bài, giảng lại những chỗ bạn chưa tiếp xúc được, nghe bạn đọc thuộc
bài trước khi đến lớp. Học sinh giỏi không phải chỉ được đánh giá ở khả năng đọc
nói, viết của mình mà còn được đánh giá ở chỗ phát huy tác dụng trong lớp. Các
em ít hiểu bài, ít thuộc bài được trả lời những câu hỏi thật hợp với trình độ, có gợi ý
từng phần và đòi hỏi chỉ nhắc được bài đã học.
Đối với các em lớn tôi phải làm công tác tư tưởng, động viên là chính nên
vai trò gương mẫu của học sinh trong lớp. Tôi nhắc nhở giáo viên dạy ở lớp đó

cuốn học sinh, truyền cảm cho học sinh ở giai đoạn cảm tính là việc hết sức quan
trọng. Có tác dụng kích thích hứng thú học tập của học sinh trong cả tiết học, thì
trong tiết giảng văn phải đảm bảo một thời gian đọc thích hợp, cho có chất lượng,
tránh lối làm qua loa, đại khái, đọc để mà đọc vì sợ thiếu giờ giảng. Đọc không có
mục đích đúng đắn, không thu được kết quả nào thì đọc làm gì ? Có lẽ tất cả mọi
giáo viên dạy văn đều biết rằng đọc tốt có ảnh hưởng rõ rệt đến nói và viết, làm cho
nói và viết dần dần trở nên tốt. Qua đọc học sinh có thể hiểu được phần nào ý nghĩa
của bài văn, hỗ trợ một phần công tác tìm hiểu văn bản.
Bởi thế tôi nghĩ không thể nào vô tình hay cố ý, chúng ta lại cắt bỏ khâu đọc
mà phải làm cho khâu đọc trở nên có chất lượng. Giải quyết nỗi lo lắng vì thiếu giờ
chúng ta có thể cho các em đọc toàn bài, nếu bài ngắn, còn bài dài thì đọc một vài
đoạn (đoạn cần nhất).
9
Đối với học sinh THCS đọc không chỉ là một hoạt động đơn thuần, mà đọc ở đây
là một trong những hình thức hoạt động nhận thức của con người, phản ánh năng
lực tư duy bằng ngôn ngữ và thông qua ngôn ngữ. Riêng với văn học, đọc là phản
ánh những tình cảm, những ý chí, những ước vọng, những động lực của tâm hồn,
và cùng với tiếng lòng của nhà văn thể hiện trong tác phẩm, đọc là tiếng đồng vọng
của con người trước thời đại và lịch sử
Đọc để hiểu tác phẩm trước hết là phải giúp học sinh tái hiện tác phẩm, vì tái
hiện là thao tác tư duy đầu tiên, quan trọng hất của đọc để cảm nhận tác phẩm.
Tổ chức tốt tâm thế tiếp nhận tác phẩm cho học sinh, với một bài đọc- hiểu trên
lớp, thì sự mở đầu để tiếp cận tác phẩm có giá trị như là sự khơi mào của tưởng
tượng. Bước tiếp theo là đọc.
Đọc chuẩn một văn bản có nghĩa là phải đọc đúng, đọc rõ, đọc diễn cảm-đọc hay,
đọc như là một sự biểu hiện, như là một sự tự cảm nhận; khi đọc phải tính đến đặc
điểm thể loại của văn bản, tính cách của nhân vật, phong cách của tác giả, giọng
điệu của tác phẩm , tức là phải tính đến sự phức hợp của văn bản. Chính vì vậy,
trước một văn bản tôi cung cấp cho các em kĩ thuật đọc một tác phẩm cụ thể trong
giờ đọc-hiểu, kĩ năng đọc trình diễn tại lớp. ở đề tài này tôi xin đi sâu vào một khâu

câu.
+ Văn miêu tả:
Để làm nổi bật được hình tượng, cảnh sắc cần đọc nhấn vào hệ thống từ, hình
ảnh gợi tả đặc biệt là từ và hình ảnh gợi tả màu sắc, âm thanh, hình khối, đường
nét. Câu văn miêu tả nhìn chung cần đọc thong thả, thoải mái tránh hấp tấp vội
vàng, hoặc dồn dập không cần thiết.
+ Văn kể chuyện:
Đọc lột tả tính cách nhân vật, cần chú ý nhấn mạnh vào những câu diễn tả
tâm lý, hành vi nhân vật. Đặc điểm của truyện đòi hỏi phải chú ý phân biệt giọng
đối với hai câu thể hai loại ngôn ngữ:
11
- Ngôn ngữ trực tiếp.
- Ngôn ngữ dẫn truyện.
+ Thơ:
Nhìn chung đọc sâu lắng, đậm đà, đặc biệt phải nắm chắc nhịp điệu, tiết tấu
của từng đoạn.
Đối với tất cả các thể loại có trong chương trình, mọi học sinh đều phải nắm
vững đặc trưng từng loại thể và được hướng dẫn đọc trong tất cả mọi khâu, theo
một quy trình chặt chẽ: Giáo viên hướng dẫn đọc đến giáo viên đọc mẫu rồi gọi học
sinh đọc, gọi học sinh nhận xét bạn đọc cuối cùng là giáo viên nhận xét.
Tôi còn chỉ dẫn cách đọc các dấu, giọng cho học sinh như sau:
- Dấu hỏi (?): Phải đọc cao giọng.
- Dấu chấm than (!): Phải đọc mạnh, gọn và đanh trong câu mệnh lệnh, đọc kéo dài
và trầm giọng trong câu cảm thán.
- Dấu chấm lửng ( ): Phải đọc chậm, âm thanh ở các từ không thay đổi.
- Dấu ngoặc đơn (): Đọc nhanh và khẽ hơn những từ viết bên ngoài.
- Dấu ngoặc kép "": Phải đọc trang trọng những lời trích dẫn của lãnh tụ, đọc mỉa
mai, châm biếm khi đọc lời trích dẫn của kẻ thù hoặc những từ dùng với nghĩa đả
kích, đọc nhấn mạnh nhữnh từ quan trọng hay đặc biệt.
- Các dấu phẩy (,), dấu chấm (.), dấu chấm phẩy (;), dấu hai chấm (:) thì để thời

số
Sau khi vận dụng phương pháp dạy học mới
Kém Yếu Trung bình Khá Giỏi
6A 34 SL % SL % SL % SL % SL %
0 0 2 5,9 20 58,8 10 29,4 2 5,9
Trên đây là một vài kinh nghiệm và kết quả đạt được của bản thân trong việc
giảng dạy một số tiết học của bộ môn Ngữ văn . Tuy nhiên với những kinh nghiệm
của bản thân còn nhiều hạn chế, nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp
cũng với sự nỗ lực không ngừng của bản thân để đề tài này được hoàn thiện hơn.
13
Rất mong ý kiến đóng góp của thầy, cô và bạn bè đồng nghiệp để đề tài này đạt kết
quả tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Mục lục
Phần mở đầu 1
I. Lý do chọn đề tài 2
II. Mục đích của việc nghiên cứu 2
III. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
IV. Đối tượng nghiên cứu 3
V. Phương pháp nghiên cứu 3
VI. Phạm vi nghiên cứu 3
14
Nội dung chính 3
I. Rèn luyện kỹ năng nói 3
II. Rèn luyện kỹ năng đọc 8
Kết luận 12
II - Mục đích của việc nghiên cứu:
Thông qua thực tế ở các giờ dạy - học của giáo viên và học sinh trường tôi,
nghiên cứu đề tài này tôi nhằm mục đích đưa ra một số giải pháp hữu hiệu, có tính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status