Trang bìa
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Lại Lâm Anh
QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN: KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2013
ii
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Lại Lâm Anh
QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN: KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số : 62.31.07.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS. Nguyễn Thanh Đức
2. PGS. TS. Bùi Tất Thắng
HÀ NỘI - 2013
iii
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu thu thập, trích dẫn, xử lý từ các nguồn chính thức
và/hoặc của riêng tác giả. Kết quả nêu trong luận án là trung thực,
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Lại Lâm Anh
iv
Mục lục
TRUNG QUỐC, MALAYSIA VÀ SINGAPORE
2.1. Quản lý kinh tế biển của Trung Quốc 44
2.1.1. Quan điểm, Chiến lược kinh tế biển của Trung Quốc 44
2.1.2. Thực trạng quản lý kinh tế biển của Trung Quốc 47
v
2.1.2.1. Quản lý kinh tế hàng hải của Trung Quốc 47
2.1.2.2. Quản lý Các khu kinh tế ven biển của Trung Quốc 53
2.1.3. Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của Trung Quốc 56
2.1.3.1. Những thành công trong quản lý kinh tế biển của Trung Quốc 56
2.1.3.2. Các vấn đề tồn tại trong quản lý kinh tế biển của Trung Quốc 59
2.1.4. Một số bài học về quản lý kinh tế biển của Trung Quốc 62
2.2. Quản lý kinh tế biển của Malaysia 63
2.2.1. Quan điểm, chiến lược quản lý kinh tế biển của Malaysia 63
2.2.2. Thực trạng quản lý kinh tế biển của Malaysia 64
2.2.2.1. Quản lý hệ thống cảng biển của Malaysia 64
2.2.2.2. Quản lý vận tải bằng tàu biển của Malaysia 67
2.2.2.3. Phát triển nguồn nhân lực, an toàn và an ninh hàng hải, hợp tác
quốc tế về hàng hải của Malaysia 71
2.2.3. Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của Malaysia 73
2.2.3.1. Những thành công trong quản lý kinh tế biển của Malaysia 73
2.2.3.2. Các vấn đề tồn tại trong quản lý kinh tế biển của Malaysia 75
2.2.4. Một số kinh nghiệm trong quản lý kinh tế biển của Malaysia 76
2.3. Quản lý kinh tế biển của Singapore 78
2.3.1. Quan điểm, chiến lược quản lý kinh tế biển của Singapore 78
2.3.2. Thực trạng quản lý kinh tế biển của Singapore 79
2.3.2.1. Quản lý kinh tế hàng hải của Singapore: 79
2.3.2.2. Quản lý khai thác dầu mỏ và khoáng sản của Singapore 84
2.3.2.3. Du lịch biển của Singapore 86
2.3.3. Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của Singapore 88
2.3.3.1. Những thành công trong quản lý kinh tế biển của Singapore 88
3.3.7. Kinh nghiệm quản lý khai thác dầu khí và khoáng sản 140
3.3.8. Kinh nghiệm về khai thác hải sản 141
3.3.9. Kinh nghiệm quản lý du lịch biển 142
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
PHỤ LỤC 164
vii
Danh mục các chữ viết tắt
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ tắt Tên gốc tiếng Anh Tên tiếng Việt
AAPA American Association of Port
Authorities
Hiệp hội Cảng Mỹ
CITOS Computer Integrated Terminal
Operations System
Hệ thống Quản lý Tích hợp bằng
Máy tính
CZ Contiguous Zone Vùng tiếp giáp
CS Continental Shelf Thềm lục địa
DOC Declaration on the conduct of
parties in the South China Sea
Tuyên bố về quy tắc ứng xử của các
bên ở Biển Đông
DOF Department of Fisheries of
Malaysia
Bộ Thủy sản của Malaysia
DSLB Domestic Shipping Licensing
Board
Ban Cấp phép Vận chuyển Nội địa
nhất. GRT thường dùng làm đơn vị
tính cảng phí, hoa tiêu phí…
IAPH International Association of
Ports and Harbors
Hiệp hội Cảng và Cảng biển Quốc tế
IMC International Maritime Center Trung tâm Hàng Hải Quốc tế
IZ International Zone Biển quốc tế
IW Internal Water Nội thủy
MISC Malaysian International
Shipping Corporation
Tổng công ty vận chuyển Quốc tế
Malaysia
MSO Merchant Shipping Ordnance Cơ quan Quản lý Hàng hải
MATRA
DE
The Malaysian External
TradeDevelopment Corporation
Cơ quan Phát triển Ngoại thương
Malaysia
MIDA Malaysian Industrial
Development Authority
Cơ quan Quản lý Công nghiệp
Malaysia
MIMA Maritime Institute of Malaysia Viện Hàng hải Malaysia
MPA the Maritime and Port
Authority of Singapore
Cơ quan Quản lý Biển và Cảng biển
Singapore
nm Nautical mile Hải lý
PIPS Port Improvement Plan of
Thủy sản Việt Nam
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
x
Danh mục các hình
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Sơ đồ quản lý kinh tế biển 17
Hình 1.2: Chiến lược quản lý kinh tế biển 19
Hình 1.3: Ba cách hiểu về Lãnh hải và đường cơ sở theo Điều 3 và Điều 7
UNCLOS 36
Hình 1.4: Quy định về vùng biển theo UNCLOS 37
Hình 1.5: Tổng hợp không gian biển theo UNCLOS 40
Hình 1.6: Đường trung tuyến phân định ranh giới biển theo Điều 15 UNCLOS 41
Hình 2.1: 10 cảng lớn nhất thế giới năm 2011 48
Hình 2.2: Vận tải hàng hóa bằng đường biển của Trung Quốc 51
Hình 2.3: Vận tải hàng hóa bằng đường biển của Hồng Kông 51
Hình 2.4: Vận tải hàng hóa bằng đường biển của Malaysia 70
Hình 2.5: Vận tải bằng công ten nơ của cảng Singapore 80
Hình 2.6: Vận tải hàng hóa bằng đường biển của Singapore 84
Hình 2.7: Xuất khẩu dầu thô của Singapore 85
Hình 3.1: Xếp hạng cảng biển thế giới theo tiêu chí số hàng qua cảng 103
Hình 3.2: Vận tải bằng tàu biển của Việt Nam 104
Hình 3.3: Xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 109
Hình 3.4: Sản lượng khai thác than sạch của Việt Nam 111
Hình 3.5: Tổng giá trị than đá xuất khẩu của Việt Nam 111
Hình 3.6: Sản lượng sản xuất muối của Việt Nam 113
xi
Danh mục các bảng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
lịch nhìn chung vẫn ở trình độ thấp, sức cạnh tranh còn kém.
Để trở thành một quốc gia biển thì cần hội đủ ba thế mạnh là: (1) Mạnh về
kinh tế biển; (2) Mạnh về khoa học biển; (3) Mạnh về thực lực quản lý tổng hợp
biển. Nhận thức rõ được điều này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X
thông qua Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam
đến năm 2020. Điều này cho thấy quyết tâm của Việt Nam đi theo xu hướng trên.
Theo nghị quyết này thì Việt Nam phấn đấu phải trở thành quốc gia mạnh về
biển, làm giàu từ biển. Để trở thành quốc gia mạnh về biển, một trong những
nhân tố quan trọng hàng đầu là phải mạnh về quản lý biển, tức là có chính sách
quản lý biển hữu hiệu và có hệ thống cơ quan tổ chức khoa học.
2
Thế kỷ XXI được thế giới xem như là “Thế kỷ kinh tế biển và đại dương”.
Hướng ra biển - đại dương đang là khẩu hiệu chiến lược của nhiều quốc gia. Việt
Nam là một quốc gia biển, có điều kiện thuận lợi trong cuộc tranh đua đó để phát
triển đất nước, nên không thể bỏ qua xu thế này. Trong quá trình tìm kiếm các
con đường đưa nước ta trở thành một quốc gia “mạnh về biển”, điều hết sức
quan trọng là Việt Nam cần phải xây dựng chính sách quản lý kinh tế biển hiệu
quả. Để thực hiện yêu cầu này, Việt Nam không những cần tổng kết kinh nghiệm
quản lý kinh tế biển trong nước những năm qua, mà còn phải chú ý học hỏi kinh
nghiệm nước ngoài. Kinh nghiệm của các nước Đông Á (như Trung Quốc,
Malaysia, Singapore) rất đáng quan tâm nghiên cứu, bởi vì: Thứ nhất, đây là các
quốc gia châu Á có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam cả về kinh tế, văn hoá-
xã hội, lẫn vị trí địa kinh tế; Thứ hai, các nước này, nhất là Trung Quốc cũng
giống như Việt Nam là nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường; Thứ
ba, các nước này cũng giống như Việt Nam đều là những nước phát triển trung
bình trong khu vực.
Do đó, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Quản lý kinh tế biển: Kinh
nghiệm quốc tế và vận dụng vào Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tính hình nghiên cứu
2.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước
động trên biển. Do đó, việc quy hoạch và quản lý các hoạt động của du lịch biển
để bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa địa phương là hết sức cần thiết.
Đại hội 18 Đảng cộng sản Trung Quốc đã khẳng định trong thập kỷ 2011-
2020, Trung Quốc sẽ phấn đấu trở thành “cường quốc về biển”, trong đó nâng
cao trình độ quản lý kinh tế biển có ý nghĩa hàng đầu.
Ariff, M. (1991), Lee Kuan Yew (2000), Poon, J. (2003) đã khẳng định rõ
vai trò quan trọng của kinh tế hàng hải trong kinh tế biển. Các tác giả này đã chỉ
rõ, một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công trong phát
triển kinh tế hàng hải là hệ thống chính sách quản lý của nhà nước, đặc biệt là
các chính sách quản lý tạo thuận lợi cho kinh tế hàng hải phát triển như chính
sách khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin trong khai báo hải quan, chính
sách quản lý tàu thuyền xuất nhập cảnh qua internet và phát triển chính phủ điện tử.
Trong báo cáo của Ban Chính sách biển của Mỹ có tên “An Ocean
Blueprint” đã đề cập đến một quan điểm khá mới trong quản lý kinh tế biển, đó
4
là quản lý tổng hợp biển. Các tác giả của báo cáo này đã đề cập đến quan điểm
này dưới hình thức quản lý liên bang đối với các hoạt động kinh tế biển như
quản lý các vùng nước, các vùng trầm tích bờ biển và quản lý bờ biển (Chương
9, chương 12). Họ cho rằng: Quản lý tổng hợp biển là một trong các cách thức
quản lý đa ngành nghề kinh tế biển, nhằm thoả mãn nhu cầu cần phải điều hoà,
cân bằng giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
Quản lý tổng hợp biển ra đời nhằm khác phục những bất cập do phương thức
quản lý đơn ngành, riêng rẽ đã tồn tại từ lâu.
Nazery Khalid, Armi Suzana Zamil và Farida Farid, với công trình nghiên
cứu mang tên “Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của một số nước Châu Á và
bài học cho Malaysia - The Asian experience in developing the marintime sector:
Some case studies and lessons for Malaysia” (Nazery Khalid, Armi Suzana
Zamil, Farida Farid, 2007) đã nêu bật vai trò và tầm quan trọng của ngành khai
thác tài nguyên biển, đặc biệt là khai thác dầu khí. Một trong các vấn đề quan
trọng mà công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra là khai thác khoáng sản là ngành
đường lối đổi mới, mở cửa nền kinh tế trong tình hình mới. Theo Nghị quyết này,
mục tiêu tổng quát trong chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là “đến năm
2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển”.
Mục tiêu cụ thể về kinh tế là “phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven
biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề
xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển.
Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình
quân chung của cả nước”. Việt Nam sẽ triển khai “xây dựng một số thương cảng
quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh… Xây dựng
một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng
hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các
lĩnh vực về biển”.
Để thực hiện chủ chương của Đảng và Nhà nước, vấn đề quản lý kinh tế
biển được đặt lên hàng đầu. Nhiều chính sách và qui định pháp luật đã được đưa
ra. Hàng loạt các quy định pháp lý đã ra đời. Đặc biệt là năm 2012, Quốc hội
Việt Nam đã thông qua Luật biển Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
trong quản lý kinh tế biển Việt Nam. Về cơ bản, Luật biển Việt Nam phù hợp
với Công ước Quốc tế về Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc. Luật biển Việt
6
Nam nêu rõ các nguyên tắc phát triển kinh tế biển Việt Nam là: (1) Phục vụ xây
dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; (2) Gắn với sự nghiệp bảo vệ
chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển; (3) Phù hợp
với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; (4) Gắn với phát triển
kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo. Luật biển Việt Nam còn
đưa ra 6 ngành nghề kinh tế biển mà Nhà nước ưu tiên phát triển là: (1) Tìm
kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản
biển; (2) Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện
đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; (3) Du lịch biển và kinh tế đảo; (4) Khai
thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; (5) Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và
chuyển giao khoa học - công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; (6)
môi trường, phát triển bền vững, nghiên cứu khoa học-công nghệ biển; Tập trung
xây dựng một số đảo trọng điểm về kinh tế, trước mắt là phát triển du lịch tạo sự
bứt phá về phát triển kinh tế biển, đảo trong thời gian tới thành các đảo có tầm
cỡ khu vực và quốc tế.
PGS. TS. Trần Đình Thiên, trong bài viết “Về chiến lược kinh tế biển của
Việt Nam” (Trần Đình Thiên, Báo Tia Sáng, ngày 12/8/2011), ông đã nêu rõ, đã
đến lúc cần có những đột phá mới trong tư duy và chiến lược quản lý để phát
triển kinh tế biển. Phải chuyển nhanh từ phương thức “mò cua bắt ốc” sang
phương thức kết hợp: Khai thác mặt tiền (biển - lợi thế địa chiến lược) + tự do
hóa (thể chế vượt trước). Đây là công thức thành công của nhiều quốc gia đi
trước trong nỗ lực phát triển kinh tế biển để trở thành cường quốc biển.
Để định hình tư duy mới về kinh tế biển, theo ông, có hai điểm cần lưu ý.
Thứ nhất, việc định hình chiến lược quản lý để phát triển kinh tế biển cần được
thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện. Một là khai thác vùng không
gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); Hai là khai thác vùng bờ
biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven
biển); Ba là phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết
nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học - công nghệ
biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền, v.v.). Ba
phương diện này hình thành các khâu liên tục của một chuỗi phát triển cho bất
cứ ngành kinh tế biển cụ thể nào. Thiếu một khâu bất kỳ nào, các ngành kinh tế
biển cũng đều sẽ bị mất cân đối, khó vươn lên thành ngành hiện đại, hoạt động
hiệu quả và có năng lực cạnh tranh quốc tế. Thứ hai, cùng với cách tiếp cận
8
chuỗi (hệ thống tổng thể), cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong
phát triển. Với nguồn lực có hạn, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến
lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Thực
chất của yêu cầu này là căn cứ vào điều kiện cụ thể và lợi thế hiện có - hiện nay,
đối với nước ta, chủ yếu là lợi thế “tĩnh”, bao gồm các lợi thế về tài nguyên biển
và lợi thế địa kinh tế, lợi thế địa chiến lược để lựa chọn điểm đột phá cụ thể cho
Qua việc điểm lại các công trình nổi bật trong và ngoài nước có thể thấy
được các thành tựu, cụ thể như sau:
Thứ nhất, phần lớn các công trình nghiên cứu đã đề cập nhiều đến khái
niệm thế nào là kinh tế biển. Các khái niệm này cũng đã được làm rõ nhưng chưa
có một sự thống nhất. Nhưng nhìn chung các khái niệm về kinh tế biển được chỉ
ra từ các công trình nghiên cứu đều xuất phát từ thực tiễn về phát triển kinh tế
biển. Các khái niệm này đều cho rằng kinh tế biển chính là các hoạt động về kinh
tế có liên quan trực tiếp hoặc liên quan gián tiếp tới biển. Trong đó, hoạt động
kinh tế biển nếu được hiểu theo nghĩa hẹp thì nó là toàn bộ các hoạt động kinh tế
diễn ra trên biển, nhưng hiểu theo nghĩa rộng thì nó còn bao gồm các hoạt động
kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển
nhưng những hoạt động kinh tế này lại nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục
vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển. Còn quản lý kinh tế biển ở
góc độ quản lý vĩ mô thì chính là các hoạt động quản lý, các chính sách quản lý
các hoạt động kinh tế biển. Quản lý kinh tế biển ở góc độ vi mô chính là hoạt
động quản lý ở cấp độ doanh nghiệp hoặc các chủ thể trực tiếp khai thác biển.
Thứ hai, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra được vai trò cũng như tầm
quan trọng của quản lý kinh tế biển. Đây là một trong những yếu tố quyết định
tới phát triển kinh tế biển cũng như phát triển kinh tế nói chung của các quốc gia
ven biển. Các siêu cường như Mỹ và các cường quốc như Nhật Bản, Anh,… đều
đi lên từ kinh tế biển và kinh tế biển chiếm tỷ trọng lớn trong phát triển kinh tế
của họ. Tuy nhiên, luận điểm cho rằng chỉ có các quốc gia ven biển (tức là tối
thiểu phải có bờ biển) thì biển mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
không phải lúc nào cũng đúng. Thực thế đã cho thấy, có những quốc gia không
có đường bờ biển vẫn có thể coi biển làm một nhân tố quan trọng trong phát
triển kinh tế, chẳng hạn như: Mông Cổ, một quốc gia không có biển nhưng vẫn
10
phát triển kinh tế hàng hải, vẫn có đội tàu và thực hiện các dịch vụ về kinh tế
hàng hải; Thụy Sỹ có công ty vận tải bằng tàu biển lớn nhất thế giới.
Thứ ba, các nghiên cứu trên đã nêu được các nội dung của quản lý kinh tế
không phát triển ngành khai thác hải sản, không làm muối, phần lớn hải sản ở
Singapore được nhập khẩu từ Ấn Độ và Việt Nam).
Thứ hai, về quan hệ giữa quản lý kinh tế biển và phát triển kinh tế biển
cũng còn nhiều vấn đề còn để ngỏ. Có một số người cho rằng: Phát triển kinh tế
biển và quản lý kinh tế biển là hai lĩnh vực tương đối tách biệt, không nhất thiết
có quan hệ với nhau. Một số người khác lại khẳng định: Phát triển kinh tế biển
và quản lý kinh tế biển có mối quan hệ khăng khít, gắn bó, không thể tách rời,
nếu xét theo mục đích hiệu quả cuối cùng.
Thứ ba, về mối quan hệ giữa kinh tế biển và vấn đề về an ninh quốc
phòng, bảo vệ chủ quyền biển đảo, còn có nhiều ý kiến tranh cãi. Nhiều ý kiến
cho rằng, muốn bảo vệ chủ quyền biển đảo thì phải phát triển kinh tế biển.
Những ý kiến ngược lại cho rằng, phát triển kinh tế biển không nhất thiết phải đi
đôi với vấn đề an ninh quốc phòng.
Thứ tư, cuối cùng vẫn còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu một
cách toàn diện và hệ thống về quản lý kinh tế biển, mà trong đó đề cập tương đối
đầy đủ các vấn đề như: Những vấn đề lý luận của quản lý kinh tế biển, quan
điểm và tư duy về quản lý kinh tế biển, nội dung của quản lý kinh tế biển, các
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế biển
3. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn của quản lý kinh tế
biển của một số nước trên thế giới, trường hợp Trung Quốc, Malaysia và
Singapore.
4. Phạm vi nghiên cứu
Quản lý kinh tế biển là một lĩnh vực rộng, nó bao gồm cả quản lý doanh
nghiệp, quản lý nhà nước về kinh tế biển. Chính vì vậy, phạm vi nghiên cứu của
đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu ở tầm vĩ mô, tức là nghiên cứu quản lý của
nhà nước đối với kinh tế biển, trong đó tập trung vào các chính sách quản lý
kinh tế biển và các cơ quan quản lý kinh tế biển, với trọng tâm là quản lý nhà
nước đối với vào năm lĩnh vực là kinh tế hàng hải, khai thác khoáng sản biển,
khai hải sản, du lịch biển và các khu kinh tế biển.
(4). Từ các vấn đề có tính quy luật trong quản lý kinh tế biển được rút ra
từ thực tiễn phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore, kết
hợp với nghiên cứu thực tiễn Việt Nam, đề tài đưa ra một số đề xuất, mang tính
gợi ý chính sách về quản lý kinh tế biển Việt Nam trong thời gian tới.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý kinh tế biển. Trong chương này, luận
án trình bày các khái niệm về kinh tế biển, quản lý kinh tế biển, vai trò của quản
lý kinh tế biển, các quan điểm và cách tiếp cận về quản lý kinh tế biển,…
Chương 2: Quản lý kinh tế biển của thế giới: Trường hợp Trung Quốc,
Malaysia và Singapore. Trong chương này luận án trình bày, phân tích các vấn
đề về quản lý và phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore
mà trọng tâm vào 5 lĩnh vực chính: (1) Kinh tế hàng hải (phát triển cảng biển và
vận tải bằng tàu biển); (2) Khai thác khoáng sản (chủ yếu là khai thác dầu); (3)
Khai thác hải sản; (4) Phát triển du lịch biển; (5) Phát triển các khu kinh tế ven
biển. Sau khi phân tích luận án cũng đưa ra các đánh giá nhưng thành công cũng
như những thất bại để từ đó tìm ra các vấn đề có tính quy luật trong quản lý kinh
tế biển.
Chương3: Vận dụng kinh nghiệm quản lý kinh tế biển của thế giới vào
Việt Nam và một số gợi ý chính sách. Trong chương này, luận án đi sâu phân tích
vấn đề quản lý kinh tế biển Việt Nam từ trước đến nay để tìm ra được những hạn
chế cần khắc phục, từ đó vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc, Malaysia và
Singapore vào quản lý kinh tế biển Việt Nam và đưa ra một số gợi ý chính sách.
Mặc dù có sự nỗ lực của bản thân nhưng đây là một đề tài rộng, do trình
độ, thời gian, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi
những sai sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để đề
tài được hoàn thiện hơn.
14
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN
2
Huỳnh Văn Thanh (2002), Giải pháp cơ bản nhằm phát triển bền vững và có hiệu quả kinh tế biển thành phố Đà
nẵng, Đề tài Khoa học cấp Thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND Tỉnh Đà Nẵng, năm 2002, tr. 3.