Tiểu luận kinh tế vĩ mô giảm phát và bẫy thanh khoản - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN: KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI:
GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN
GVHD : PGS.TS. Hạ Thị Thiều Dao
Lớp : CH16B2
Thực hiện: Nhóm 7
1. Nguyễn Văn Cường
2. Nguyễn Trịnh Thùy Dương
3. Tô Ngọc Linh
4. Đinh Thành Long
5. Bùi Thị Miến
6. Huỳnh Thị Trúc Nguyên
7. Phạm Thị Tuyết Nhung
8. Huỳnh Thị Hoài Phương
9. Phạm Thị Thanh
TP. Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2015
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
H1.1: Giảm phát do cầu giảm và cung tăng
H1.2: AS-AD và IS-LM trong tình trạng bẫy thanh khoản
H2.1.Diễn biến chỉ số Dow Jones từ 1928 đến 1934
H2.2.Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong giai đoạn khủng hoảng.
H 2.3: Giải pháp cho bẫy thanh khoản
H2.4.Tốc độ phát triển của Nhật từ 1971 đến 2001
H2.5.CPI trong thập niên mất mát của Nhật Bản
H2.6: Mô Hình IS-LM khi NHTW Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thắt
chặt
H3.1. Tỷ lệ lạm phát từ năm 1995-2014
H3.2. Tỷ lệ lạm phát 2011-2014

nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu xoay quanh vấn đề sau:
- Nghiên cứu tổng quan lý thuyết về giảm phát và bẫy thanh khoản, mối
quan hệ giữa chúng.
- Nghiên cứu về thực trạng giảm phát và bẫy thanh khoản ở các nước trên
thế giới và giải pháp ứng phó của các quốc gia này.
- Nghiên cứu về thực trạng giảm phát tại Việt Nam trong những năm qua
để thấy được nguyên nhân gây ra giảm phát và nhận định Việt Nam có rơi vào
bẫy thanh khoản hay không, từ đó đề xuất những giải pháp hoạch định chính
sách trong tương lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng giảm phát và bẫy thanh khoản
- Phạm vi nghiên cứu: Một số nền kinh tế lớn trên thế giới đã trải qua hiện
tượng giảm phát và bẫy thanh khoản và thực trạng nền kinh tế Việt Nam có thể
rơi vào bẫy thanh khoản hay không?
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê, so sánh
5. Những đóng góp của đề tài:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về giảm phát và bẫy thanh
khoản và mối quan hệ tác động giữa chúng.
- Về mặt thực tiễn: Đề tài nghiên cứu góp phần tìm hiểu kinh nghiệm ứng
phó của các quốc gia trên thế giới và thực trạng tại Việt Nam để có những nhận
định đúng đắn hơn về tình hình kinh tế của nước ta hiện nay. Thực trạng giảm
phát tại Việt Nam ở quá khứ và hiện tại ra sao và Việt Nam có thể bị rơi vào bẫy
thanh khoản hay không? Từ đó đưa ra một số giải pháp hữu ích và thiết thực hơn
trong việc ứng phó với vấn đề giảm phát và bẫy thanh khoản tại Việt Nam
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm 3 phần chính:

Nguyên nhân thứ nhất là do tổng cầu: Tổng cầu xã hội giảm, thể hiện cụ
thể là vốn đầu tư nước ngoài giảm, đầu tư trong nước thấp. Thu nhập thực tế
6
của người dân giảm làm cho sức mua kém, thêm vào đó cầu từ nước ngoài
giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
Có thể dùng sơ đồ tổng cung- tổng cầu để minh họa điều này. Ban đầu tổng cầu
tương ứng với đường AD. Điểm cân bằng của nền kinh tế là điểm E là giao
điểm của đường AD, LAS, SAS. Sau đó, tổng cầu giảm, đường AD dịch
chuyển song song sang trái thành đường AD2 cắt đường SAS ở điểm A. A là
điểm cân bằng mới của nền kinh tế và so với điểm cân bằng cũ E sản lượng và
mức giá chung đều giảm.
Nguyên nhân thứ hai là do tổng cung: có thể đến từ cú sốc cung tích cực
do sự phát triển của khoa học công nghê, tìm kiếm được nguồn tài nguyên mới
tăng làm năng suất lao động tăng lên, giảm chi phí sản xuất làm tổng cung
tăng, đường AS dịch chuyển sang phải thành SAS1 cắt đường AD tại điểm B.
Tại điểm B kinh tế bùng nổ sản lượng tăng và giá giảm.
H.1.1. Giảm phát do cầu giảm và cung tăng
Ngoài ra giảm phát còn có thể do nguyên nhân khác như sai lầm trong
điều hành vĩ mô, xuất phát từ việc áp dụng các giải pháp chống lạm phát quá
liều, chẳng hạn như thắt chặt tiền tệ, tài khóa và hạn chế cầu quá mức. Khi lạm
phát ở mức cao, nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề và chính phủ phải tìm cách
7
kiềm chế lạm phát bằng cách sử dụng chính sách thắt chặt chi tiêu để giảm bội
chi ngân sách. Kết quả là tốc độ tăng mức giá giảm dần, tỷ lệ lạm phát giảm
dần đến 0 và giảm phát xuất hiện.
1.1.3. Hậu quả:
Khi giảm phát nhân rộng chứ không chỉ bó hẹp trong một vài hàng hóa,
người tiêu dùng sẽ chi tiêu ít đi, các nhà máy buộc phải cắt giảm sản xuất, cắt
giảm nhân công. Điều này làm cho tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và làm cho các hộ
gia đình càng chi tiêu ít nữa cứ vòng lẫn quẫn như thế và rồi điều làm cho giá

hóa gia dụng, giảm giá hàng hóa, dịch vụ, du lịch, vui chơi, giải trí, mở rộng hệ
thống bán lẻ hàng hóa.
Thứ hai, nhóm kích cầu sản xuất: Tập trung mọi nguồn lực tài chính đầu tư
hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, mở
rộng dịch vụ theo hướng tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất
khẩu.
Hỗ trợ lãi suất vốn vay trong chương trình kích cầu nên ưu tiên cho những
doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể tạo thêm nhiều việc làm, thu hút nhiều lao
động đang thất nghiệp hoặc lao động dư thừa ở khu vực nông thôn vốn đang
thiếu việc làm nghiêm trọng do tác động trực tiếp của suy thoái kinh tế toàn
cầu. Tập trung cao độ cho những ngành và lĩnh vực yếu thế nhưng còn nhiều
tiềm năng phát triển toàn diện, tăng trưởng cao, hấp thụ vốn nhanh. Để biến
triển vọng thành hiện thực, một trong những giải pháp quan trọng là tăng
cường đầu tư vốn, khoa học - công nghệ và mở rộng thị trường xuất khẩu nông
sản thông qua gói kích cầu của Chính phủ.
1.2. Bẫy thanh khoản:
1.2.1. Khái niệm:
Bẫy thanh khoản là một tình trạng nguy kịch của nển kinh tế khi mà
chính sách tiền tệ không còn tác dụng,lãi suất danh nghĩa đạt ngưỡng rất thấp,
9
thậm chí 0% (Krugman, Paul R.;. Dominquez, Kathryn M; Rogoff , Kenneth
(1998).
Theo mô hình IS-LM, chính sách tiền tệ (CSTT) mở rộng sẽ vận hành
thông qua việc giảm lãi suất và kích thích chi tiêu đầu tư. Nhưng khi lãi suất đã
giảm đến mức 0% thì CSTT có thể sẽ không còn tác dụng nữa. Vì khi lãi suất
giảm tới 0% thì CSTT mở rộng sẽ làm tăng cung tiền để tăng thanh khoản cho
nền kinh tế nhưng do lãi suất không thể giảm hơn nữa nên thanh khoản tăng
thêm sẽ không có tác dụng kích cầu. Do đó tổng cầu, sản xuất và việc làm sẽ
không tăng. (Mankiw, 2004).
H1.2: AS-AD và IS-LM trong tình trạng bẫy thanh khoản

mạnh sang trái của đường cung tín dụng ngân hàng trong điều kiện lãi suất thực
an toàn và chất lượng người đi vay tiềm năng không đổi, hàm ý tín dụng
phải suy giảm rất mạnh và giảm ngay cả khi lãi suất cho vay cũng như tiêu
chuẩn của người đi vay tốt.
• Trong khi đó, nhiều nhà kinh tế lại cho rằng Suy kiệt tín dụng là giai đoạn mà
các ngân hàng từ chối cho vay ngay cả khi người vay đủ điều kiện và sẵn sàng
trả lãi suất cao, hay còn gọi là sàng lọc tín dụng phi lãi suất (Owens và Schreft,
1993; Friedman, 1991; Green và Oh, 1991; Bermuer và Koubi, 2002).
11
• Luồng quan điểm thứ ba dung hòa hai luồng quan điểm trên, theo đó Suy kiệt
tín dụng là tổng hợp của việc thu hẹp cung tín dụng và sàng lọc tín dụng phi lãi
suất (Boever, 2009; Hubbard, 2008; Ding và đồng sự, 1998; Hội đồng các nhà
cố vấn kinh tế, 1991).
• Bằng chứng thực nghiệm cho thấy Suy kiệt tín dụng thường xảy ra trong giai
đoạn khủng hoảng kinh tế khiến rủi ro gia tăng, dẫn đến các NHTM tăng chi
phí cho vay hoặc không sẵn lòng cho vay ra. Khi đó, NHTW có nới lỏng tiền tệ
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì hiệu quả của nó sẽ bị hạn chế do kênh tín
dụng không còn vận hành bình thường, cản trở quá trình hồi phục kinh tế, thậm
chí có thể làm tê liệt nền kinh tế.
1.2.3. Giải pháp thoát khỏi bẫy thanh khoản:
 Theo Paul Krugman: tạo ra lạm phát kì vọng sẽ giúp nền kinh tế khỏi bẫy thanh
khoản (Gauti B. Eggertsson and Paul Krugman, 2010)
 Theo các nhà kinh tế tiền tệ, thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng: tăng cung tiền,
bơm thanh khoản vào nền kinh tế hoặc thông qua nghiệp vụ thị trường mở,
tăng cường mua các tài sản tài chính như trái phiếu dài hạn.
 Theo quan điểm Keynes: thực hiện chính sách tài khóa mở rộng nhằm kích vào
tổng cầu. Chính sách tài khóa lúc thường vốn không phát huy được hiệu lực
đầy đủ do hiện tượng lấn át thì lúc này lại phát huy đầy đủ hiệu lực do hiện
tượng lấn át không còn (vì lãi suất thấp).
1.3. Mối quan hệ giữa bẫy thanh khoản và giảm phát:

nếu ngân hàng trung ương cũng như những nhà hoạch định chính sách không
có một biện pháp thích hợp và hữu hiệu. Trên thế giới trong nhiều năm qua
cũng đã có không ít quốc gia đã phải vất vả để giải quyết bài toán giảm phát và
bẫy thanh khoản.
1.4. Phân biệt sự khác biệt giữa bẫy thanh khoản và suy kiệt tín dụng:
Biểu hiện giống nhau giữa hai hiện tượng Bẫy thanh khoản và Suy kiệt
tín dụng là kênh tín dụng bị đông cứng, nền kinh tế gần như thiếu đi nguồn vốn
cho tăng trưởng và phát triển, hiệu quả của chính sách tiền tệ bị hạn chế, nếu
13
kéo dài thì nền kinh tế sẽ suy thoái trầm trọng
Tuy nhiên, hai hiện tượng này khác nhau về bản chất:
- Bẫy thanh khoản nói đến sự sụt giảm cầu tín dụng và thường xảy ra
khi nền kinh tế đã trong giai đoạn suy thoái trầm trọng kéo dài, khi
đó các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, hộ gia đình đều mất niềm tin
vào triển vọng phục hồi kinh tế. Trong hiện tượng này, lãi suất
thường ở mức rất thấp gần với 0%.
- Trong khi đó, Suy kiệt tín dụng là sự sụt giảm mạnh nguồn cung tín
dụng trong khi cầu tín dụng vẫn có thể có và không được đáp ứng,
lãi suất thường ở mức cao.
Đáng chú ý là hiện tượng Suy kiệt tín dụng nếu không được khắc phục
kịp thời thì sau một thời gian có thể chuyển thành hiện tượng Bẫy thanh khoản.
Bằng chứng thực nghiệm cho thấy, Suy kiệt tín dụng, thường xảy ra trong giai
đoạn khủng hoảng kinh tế khiến rủi ro gia tăng dẫn đến các ngân hàng thương
mại tăng chi phí cho vay hoặc không sẵn lòng cho vay ra. Khi đó, ngân hàng
trung ương có thực hiện nới lỏng tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì
hiệu quả của nó sẽ bị hạn chế do kênh tín dụng không còn vận hành bình
thường, cản trở quá trình phục hồi kinh tế, thậm chí có thể làm tê liệt nền kinh
tế.
Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (Ding và đồng sự, 1998) chỉ ra hai
kênh tác động chính của Suy kiệt tín dụng tới nền kinh tế.

24 đến ngày 28-10, 15 triệu cổ phiếu được bán ra. Giá giảm liên tục. Nhà đầu
tư đổ dồn tới Wall Street. Niềm tin của cổ đông bị khai tử. Chỉ số Down Jones
đã sụt giảm từ mức cao kỷ lục 381.17 ngày 3/9/1929 xuống còn 230.1 ngày
29/10/1929. Ngày 29-10-1929, với 16 triệu cổ phiếu được bán ra, đã đi vào lịch
sử với cái tên Ngày thứ ba đen tối. Điểm đáy của chỉ số này đạt được ngày
15
5/06/1932 khi chỉ số Down Jones đóng cửa ở mức 41,2- giảm gần 90% so với
mức đỉnh cao nó từng đạt được ba năm trước đó.
H2.1.Diễn biến chỉ số Dow Jones từ 1928 đến 1934
Các cổ phiếu theo nhau rớt giá liên tục trong suốt 3 năm.Thị trường
chứng khoán xuống dốc không phanh. Hệ lụy là kinh tế Mỹ sụt giảm mạnh, tỷ
lệ thất nghiệp tăng cao. Hệ thống ngân hàng Mỹ chấn động mạnh. Sản lượng
công nghiệp ở Mỹ giảm 50%, trong đó gang-thép sụt xuống 75%, ô tô giảm
90%, 11.500 xí nghiệp lớn, nhỏ bị phá sản. Nông thôn cũng bị tác động mạnh
mẽ. Ngành mậu dịch quốc tế bị suy giảm nghiêm trọng, thị trường xuất khẩu bị
đóng băng, thị trường lao động và đầu ra sản phẩm cực kỳ khó khăn.
Bắt đầu ở Mỹ, sau đó, cuộc đại khủng hoảng đã nhanh chóng lan rộng ra
toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy các nước phát triển. Ngày 11-5-
1931, ngân hàng Creditanstalt của Áo sụp đổ, châm ngòi cho làn sóng hoảng
loạn ở châu Âu. Ở Anh, sản lượng gang năm 1931 giảm 50%, thép cũng sụt
gần 50%, thương nghiệp sụt 60%. Ở Pháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối
năm 1930 và kéo dài đến năm 1936, sản lượng công nghiệp giảm 30%, nông
nghiệp giảm 40%, ngoại thương giảm 60%, thu nhập quốc dân giảm 30%. Tại
Đức, sản xuất công nghiệp chịu tốc độ âm 47%. Mọi khía cạnh của nền kinh tế
từ sản xuất, tiêu dùng, thương mại, thu nhập cá nhân, thị trường lao động đều
chịu ảnh hưởng xấu.
16
Trong 15 nước tư bản đã có tới 18.000 cuộc bãi công của công nhân với
sự tham gia của 8,5 triệu người. Hàng triệu héc ta cây trồng bị phá. Cuộc khủng
hoảng kinh tế đã đẩy nền kinh tế tư bản bước vào tình trạng tiêu điều.

kiến cho rằng, đó là hậu quả của sự sụp đổ hàng loạt các ngân hàng hay thị
trường chứng khoán, hay sự suy giảm giao dịch quốc tế do Mỹ tăng thuế. Tuy
nhiên, ý kiến được nhiều nhà kinh tế đồng thuận, đó là do yếu tố cung của
nguồn tiền cũng như sai lầm trong điều hành của FED khi phản ứng quá chậm
trong việc giải cứu các ngân hàng. Ở bài nghiên cứu của mình, nhóm cũng đưa
ra và phân tích các nguyên nhân chính đến cuộc Đại suy thoái này.
• Ảnh hưởng của việc đầu cơ ồ ạt:
Theo trường phái Áo, nguyên nhân bắt nguồn từ sự can thiệp của Chính
phủ vào thập kỷ 1920. Sự dễ dãi trong tăng tín dụng đẩy các ngân hàng dễ dàng
cho vay, dẫn tới bùng nổ quá mức cung tiền ngay trước khi khủng hoảng, đẩy
thị trường chứng khoán bùng nổ quá mức, ngân hàng cho vay quá nhiều, rủi ro
quá mức không được quản lý. Khi thị trường chứng khoán sụp đổ, kéo theo sụp
đổ dây chuyền của các thể chế tài chính do các khoản nợ xấu không đòi được.
Đại khủng hoảng 1929 bắt đầu từ việc đầu cơ bất động sản ở Florida từ
những năm 1920. Thập niên 1920 là thập niên tăng trưởng tại Mỹ. Từ năm
18
1921 đến 1929, sản lượng công nghiệp tăng khoảng 40%, ngành nông nghiệp
bắt đầu đi vào hiện đại hóa, người nông dân vay mượn để đầu tư sản xuất, đưa
sản lượng nông nghiệp đến tình trạng sản xuất thừa. Ngân hàng phát triển tín
dụng, cho phép người dân mua sắm hàng hóa tiêu dùng lâu bền, xe hơi, nhà ở
Thị trường chứng khoán phát triển mạnh. Tuy nhiên, nhà đầu tư nhanh chóng
trở thành nhà đầu cơ: các cổ đông lúc này không quan tâm đến cổ tức được chi
trả bao nhiêu và chỉ quan tâm vào giá bán cổ phiếu được bao nhiêu. Bùng nổ về
đầu cơ đã khiến hàng triệu người Mỹ đầu tư rất nhiều vào thị trường chứng
khoán, một số lượng lớn còn đi vay tiền để mua cổ phần.Vào tháng 8 năm
1929, các nhà môi giới liên tục cho các nhà đầu tư nhỏ vay hơn 2/3giá trị bề
mặt của các cổphiếu mà họ đang mua. Hơn 8,5 tỉ đôla là các khoản vay, và toàn
bộ số tiền này và nhiều hơn nữa được lưu hành ở Mỹ. Giá cổ phiếu tăng lên
khiến nhiều người mua hơn, bởi vì người ta kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ cao hơn
nữa.Đầu cơ chính là động lực làm tăng giá và tạo ra bong bóng kinh tế. Chỉ số

họ tiêu dùng ít hơn trước. Các ngân hàng đua nhau phá sản nguyên nhân do
người vay vốn đầu cơ không còn khả năng trả nợ, cổ phiếu đầu cơ không còn
giá trị, còn những người gửi tiền lo lắng và rủ nhau ồ ạt rút tiền gửi ra khỏi
ngân hàng. Chỉ vài tháng sau, khủng hoảng chứng khoán biến thành khủng
hoảng ngân hàng. Điều này khiến các công ty không thể tiếp cận nguồn vốn
vay để đầu tư, khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ.
• Các chính sách của chính quyền không hợp lý::
Theo trường phái Keynes, đối với cuộc Đại suy thoái 1929-1930, cơ chế
tự điều chỉnh của thị trường tự do không hoạt động được. Do giảm phát mạnh,
lãi suất danh nghĩa giảm - giá cả giảm 24% từ năm 1929 đến 1933. Dù lãi suất
giảm nhưng đầu tư không tăng được do kỳ vọng về tương lai quá bi quan.
Chính quyền Mỹ lúc đó chỉ quan tâm đến cân bằng ngân sách, để nền kinh tế tự
20
tìm đường đi cho chính nó, hơn việc chấp nhận thâm hụt ngân sách để duy trì
việc làm và sản lượng.
Theo trường phái của kinh tế tiền tệ (monetarist), khủng hoảng là do sự
xiết chặt quá mức của cung tiền năm 1930, và cho rằng Cục dự trữ Liên Bang
đã sử dụng sai chính sách tiền tệ, đáng lẽ phải tăng cung tiền, thay vì đã giảm
cung tiền.
Nhiều nhà kinh tế trong đó có cả cựu Chủ tịch của FED Ben Bernanke
đã đi xa hơn cách lý giải của kinh tế học Keynes và cho rằng nguyên nhân
chính nằm ở chính sách tiền tệ khi FED đã giảm một phần ba cung tiền trong
thời gian 1929-1933, gây ra tình trạng giảm phát và suy thoái trong thời kỳ này.
Giảm phát do thắt chặt tiền tệ thường kéo theo gánh nặng nợ nần và đổ vỡ của
các ngân hàng thương mại mà các nhà kinh tế gọi là tình trạng giảm phát - nợ
(debt-deflation).
Khi mức giá giảm từ 20-50% thì chỉ trong 10 tháng đầu năm 1930 đã có
744 ngân hàng ở Mỹ phá sản, tín dụng ngưng trệ làm tăng mạnh hơn áp lực
giảm phát. Năm 1933 những người gửi tiền ở nhà băng mất 140 tỷ đô-la. Nhiều
nhà kinh tế cho rằng việc giảm buôn bán quốc tế sau năm 1930 làm cho khủng

vãn tình trạng đại khủng hoảng kinh tế, Tổng thống Hoa Kỷ Franklin Roosevelt
đã ban hành Tân chính sách (Phụ lục 2.1) . Chương trình tân chính sách có mục
tiêu nhu cầu và cung cấp việc làm và cứu trợ người nghèo thông qua tăng
cường chi tiêu của chính phủ và cải tổ tài chánh. Chính phủ ban hành luật trao
đổi an toàn năm 1934 tạo ra công ty bảo hiểm tiền gửi ngân hàng FDIC. Chính
phủ Mỹ bắt đầu chính sách trợ cấp thất nghiệp, ổn định thị trường bằng cách
hạn chế sản xuất, khuyến khích hoạt động công đoàn, và xây dựng hệ thống
hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp. Nhờ Tân chính sách của Tổng thống Roosevelt
mà nền kinh tế của Mỹ năm 1934 GDP tăng 7.7%, thất nghiệp từ 24.9% năm
22
1933 còn 21.7% năm 1934 . Suy thoái tháng 5 năm 1937, GDP -4.9% chấm dứt
tháng 6-1938 làm cho chỉ số thất nghiệp lại tăng lên 19% và cuộc khủng hoảng
kinh tế của Mỹ chỉ chấm dứt khi thế chiến thứ 2 bắt đầu khoảng 1939.
Sau năm 1939 khi Mỹ tham gia thế chiến thứ 2 nên cần nhiều quân, 6
triệu quân và công nhân viên sản xuất vũ khí khoảng 6 triệu, thì số thất nghiệp
mới giảm xuống, khi phụ nữ và những người da đen buộc phải đi làm thay thế
cho hàng triệu người đã gia nhập quân đội. Sản lượng kinh tế tăng lên gấp đôi.
Khi cuộc khủng hoảng lên đến đỉnh điểm, Mỹ đã phải vay nợ hơn một nửa số
tiền trang trải chiến phí. Nửa còn lại được gây dựng từ các khoản đóng thuế
của người dân.
Từ năm 1933- 1942, cổ phiếu US đã tăng 140% nhờ chính sách nới lỏng
tiền tệ thông qua tăng cớ số tiền tệ.
2.1.4.Bài học kinh nghiệm từ khủng hoảng nền kinh tế Mỹ 1929-1930
Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ linh hoạt. Chính phủ
nên có các thông điệp rõ ràng đến thị trường về các mục tiêu ngắn hạn và tuyên
bố tiếp tục hỗ trợ thị trường cho đến khi nền kinh tế phục hồi.
H 2.3: Giải pháp cho bẫy thanh khoản
Lành mạnh hóa ngành ngân hàng bằng việc giải quyết triệt để các khoản nợ
xấu. Hệ thống tài chính ngân hàng được cải thiện, các doanh nghiệp có khả
năng vay vốn với chi phí thấp, giảm nợ, có điều kiện mở rộng khả năng sản

thị trường nội địa. Đầu những năm1970, một đồng USD có lúc lên tới 370 Yen
(năm 1975, hối suất trung bình là 305 và năm 1984 là 251 [1]). Kinh tế Nhật
phát triển mạnh, dư thừa lớn trong cán cân thương mại còn kinh tế Mỹ và Âu
châu suy yếu. Trước tình hình đó, Nhật bị các nước phương Tây áp lực thay đổi
chính sách, đòi hỏi mở rộng thị trường nội địa đối với cả hàng hoá và tư bản tài
chính. Thoả thuận Plaza (Plaza Accord) năm 1985 là điểm mốc quan trọng, lúc
đó một USD là 240 Yen. Nhóm G5 áp lực Nhật chấp nhận đồng thuận trên
nhằm tăng giá đồng Yen và giảm giá đồng USD. Nhật chấp nhận vì không
muốn các nước G5, đặc biệt là Mỹ đưa ra các biện pháp bảo vệ thị trường, ngăn
chặn hàng Nhật. Năm 1995, mười năm sau Thoả thuận Plaza, đồng Yen lên giá
ở đỉnh điểm là một USD bằng 80 Yen. Với giá đồng Yen cao lên, Nhật mất dần
khả năng cạnh tranh nếu chỉ sản xuất ở trong nước để xuất khẩu. Hơn nữa để
đối phó với dư luận chống lại hàng nhập từ Nhật, từ năm 1985, Nhật tăng tốc
đầu tư trực tiếp thị trường các nước ASEAN (lúc đầu là Malaysia, rồi sau đó là
Thái Lan và Indonesia) và vào thị trường Âu Mỹ. Trước khủng hoảng năm
1997, vài nước ở Đông Nam Á được Ngân hàng Thế giới gọi là những con
rồng, con hổ châu Á, coi phát triển thần kỳ này là do chính sách nội địa mà
quên mất vai trò của đồng Yen cao giá đã làm các nền kinh tế này tăng tính
cạnh tranh.
Do kinh tế phát triển cao trong hai thập kỷ 1970-1980, giá tài sản Nhật
lên như bong bóng, đặc biệt là từ năm 1985 trở đi, khi đồng Yen tăng giá, Nhật
thừa tiền do việc dư thừa cán cân thương mại, đã ồ ạt mua tài sản nước ngoài,
kể cả Trung tâm Rockefeller ở thành phố New York, một biểu tượng của tư bản
Mỹ. Nhưng cũng từ đầu năm 1990 trở đi kinh tế Nhật gặp khó khăn khi tốc độ
tăng giảm hẳn xuống, giá trị tài sản giảm và nước Nhật bị chìm trong Một thập
kỹ mất mát(A Lost Decade).
25

Trích đoạn Nguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm phát năm 2000: Biện pháp chống giảm phát của chính phủ trong giai đoạn 1999-2000: Giải pháp phòng ngừa giảm phát và bẫy thanh khoản:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status