1
Bài 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC LÀ GÌ?
Đảng ta chỉ rõ: “Quản lý Nhà nước bằng pháp luật chứ không bằng
đạo lý, pháp luật là thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý
chí của nhân dân, phải được thực hiện thống nhất trong cả nước. Tuân theo
pháp luật và chấp hành đường lối chủ trương của Đảng”.
Điều 12, Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm
1992 ghi: “ Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế Xã hội Chủ Nghĩa… mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân đều bị xử lý theo pháp luật”.
Nội dung trên cho ta thấy được phương thức chủ yếu của quản lý Nhà
nước và sự khác nhau giữa nó với các dạng quản lý xã hội khác. Từ đó có thể
hiểu: “Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực
Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, để
duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện
những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ
nghĩa Xã hội và bảo vệ tổ quốc XHCN”.
Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước gồm:
a) Sự tác động có tổ chức và điều chỉnh: Tổ chức là một khoa học về sự
thiết lập các mối quan hệ xã hội, giữa con người, giữa các tập thể, để thực hiện
quá trình quản lý xã hội. Tổ chức được hình thành là do nhu cầu quản lý, nó phải
hoạt động và hoạt động có hiệu quả. Trong quản lý Nhà nước, chức năng quản
lý Nhà nước là rất quan trọng, vì không có tổ chức thì không thể quản lý được.
Nhà nước phải tổ chức như thế nào để hàng chục triệu con người của đất nước,
mọi người đều có vị trí tích cực đối với xã hội.
Điều chỉnh là sự qui định của Nhà nước thể hiện bằng pháp luật và các
quyết định quản lý về nguyên tắc, tiêu chuẩn, biện pháp… nhằm tạo sự phù hợp
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Tòa án, Viện kiểm sát không
làm được chức năng quản lý Nhà nước đối với xã hội. Nhưng hình thức và
phương pháp quản lý của các cơ quan này không như cơ quan hành pháp và
hành chính (Chính phủ).
Nhà nước là tổ chức quyền lực của nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Nhà nước phải thực hiện đúng đắn
quyền lực của mình, quản lý mọi mặt hoạt động của xã hội bằng pháp luật theo
đường lối, chính sách của Đảng.
- Còn quản lý Nhà nước là dạng quản lý mang tính chất thực hiện quyền
lực Nhà nước. Cho nên giữa quản lý Nhà nước và hành chính Nhà nước không
có sự khác nhau lớn về nội dung, vì rằng hành chính Nhà nước là hoạt động tổ
chức và điều hành để thực hiện quyền lực Nhà nước trong quản lý xã hội. Tuy
nhiên, quản lý Nhà nước có khái niệm rộng, vì nó bao gồm sự quản lý của tất cả
các cơ quan Nhà nước đối với xã hội. Còn hành chính Nhà nước là chỉ nói trong
hệ thống hành pháp và hành chính.
II. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Quản lý Nhà nước XHCN có những đặc điểm cơ bản sau đây:
1. Quản lý Nhà nước XHCN mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức
rất cao. Mệnh lệnh của Nhà nước mang tính đơn phương. Khách thể quản lý
phải phục tùng chủ thể quản lý một cách nghiêm túc. Nếu không thì phải truy
cứu trách nhiệm và xử lý theo pháp luật một cách nghiêm minh, bình đẳng.
2. Quản lý Nhà nước có mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch
thực hiện mục tiêu. Đặc điểm này đòi hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước phải có
kế hoạch dài hạn, trung hạng và hàng năm. Có chỉ tiêu định hướng chủ yếu, có
biện pháp cân đối để thực hiện các chỉ tiêu ấy để hoàn thành có hiệu quả các
chương trình mục tiêu chiến lược của Nhà nước.
3. Quản lý Nhà nước có tính chủ động sáng tạo, linh hoạt trong việc điều
hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để tổ
3
chức lại nền sản xuất xã hội về cuộc sống của con người trên địa bàn của mình
* Ở địa phương:
- Ủy ban nhân dân các cấp
- Các Sở, Ban, thuộc Ủy ban nhân dân
Trong đó, Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan thẩm quyền
chung, các Bộ, Ủy ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Chính phủ, các Sở, Ban
của UBND là cơ quan thẩm quyền riêng.
Viên chức lãnh đạo bao gồm những người được bầu và những người được
bổ nhiệm, có quyền pháp lý và được sử dụng thẩm quyền ấy trong quá trình
quản lý Nhà nước đối với xã hội. Ngoài ra còn có một số người không được bầu,
bổ nhiệm nhưng được giao thẩm quyền và sử dụng thẩm quyền được giao trong
khi thi hành phận sự (Công an, cán bộ thuế, Thanh tra viên…).
Chủ thể quản lý Nhà nước là cơ quan là viên chức lãnh đạo gắn chặt với
thẩm quyền. Tách khỏi thẩm quyền, làm sai thẩm quyền thì không có tư cách
chủ thể quản lý hành chính
4
2. Khách thể quản lý hành vi hoạt động của con người:
Hành vi gắn với con người tạo ra hành vi, chịu trách nhiệm hành vi.
Những con người làm ra của cải vật chất cho xã hội; các tập thể lao động; các tổ
chức chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học kỹ thuật… hành vi của
chúng là khách thể quản lý rất quan trọng.
Khách thể quản lý được phân thành nhiều loại, từng loại khách thể có đặc
điểm riêng. Phân loại khách thể sẽ giúp cho công tác quản lý Nhà nước xác định
nội dung, hình thức và phương pháp quản lý phù hợp với từng loại khách thể.
Mọi khách thể quản lý đều tự vận động tích cực, có khả năng tự điều
chỉnh, thích nghi với sự thay đổi của điều kiện hoạt động; có khả năng khắc
phục được khó khăn tìm ra lối thoát tạo điều kiện để hoạt động tốt. Công tác
quản lý Nhà nước nhận biết được các tính chất này, đặc biệt phải hiểu đầy đủ
mỗi con người đều luôn luôn có mong muốn, có nhu cầu, đạt được nhu cầu này
lại nảy sinh nhu cầu khác. Hiểu được các mặt của khách thể, công tác quản lý
Nhà nước sẽ tạo được sự vững chắc và ổn định về mặt xã hội, tạo điều kiện cho
5
bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo đảm an ninh trật tự và
an toàn xã hội.
2. Chức năng tổ chức quản lý kinh tế:
Đây là chức năng cơ bản và đặc thù của quản lý Nhà nước. Điều quan
trọng nhất là phải phân biệt rõ và kết hợp tốt chức năng quản lý Nhà nước về
kinh tế của các cơ quan quản lý Nhà nước (Chính phủ, Bộ, Tổng cục, UBND,
Sở…) với chức năng sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở. Lâu nay
do lẫn lộn giữa hai chức năng này nên có tình trạng các cơ quan hành chính Nhà
nước can thiệp sâu vào hành chính, sản xuất kinh doanh, làm cho các đơn vị sản
xuất kinh doanh vừa không có quyền tự chủ, vừa bị ràng buộc. Mặt khác, một số
đơn vị kinh tế không coi trọng quản lý Nhà nước đối với sản xuất kinh doanh
nên sinh ra tùy tiện, coi thường pháp luật, pháp chế, kỷ cương Nhà nước.
3. Chức năng văn hóa giáo dục, thể dục thể thao…
Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng công tác văn hóa, văn học nghệ
thuật; đẩy mạnh văn hóa quần chúng; xây dựng và sử dụng hệ thống thư viện,
câu lạc bộ, nhà văn hóa, viện bảo tàng, nhà truyền thống… quản lý chặt chẽ các
công tác xuất bản, điện ảnh, phát hành sách, báo, phim ảnh; phát triển các thông
tin đại chúng.
Phải nâng cao chất lượng cải cách giáo dục, phát triển nhiều hình thức
giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chính qui, không chính qui, tập trung tại chức… cải
tiến chế độ thi cử, cấp văn bằng… đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục ở miền núi,
vùng xa, vùng sâu, vùng dân tộc…
Phải chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân, xem đó là
tương lai của nồi giống, là mối quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước
ta; là trách nhiệm của tất cả các ngành, các đoàn thể; là trách nhiệm và lợi ích
thiết thân của mỗi công dân. Cùng với công tác y tế, công tác thể dục thể thao
góp phần khôi phục và tăng cường sức khỏe của nhân dân. Phải nâng cao và mở
rộng phong tào thể dục thể thao quần chúng.
4. Chức năng xã hội:
để mỗi người công dân đều có vị trí tích cực trong xã hội và chỉ khi đó mỗi
người mới có thể cống hiến nhiều nhất cho xã hội.
+ Chức năng cán bộ:
Con người là thành phần cơ bản chủ thể và khách thể quản lý Nhà nước,
thực chất các công tác quản lý Nhà nước còn là việc con người quản lý con
người. Vì thế việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, phân bổ, sử dụng viên chức Nhà
nước là rất quan trọng của quản lý Nhà nước XHCN. Chức năng cán bộ phải do
các cơ quan Nhà nước thực hiện.
+ Chức năng kế hoạch hóa:
Chức năng kế hoạch hóa của quản lý Nhà nước tầm cỡ toàn xã hội, có vị
trí của một trong những chức năng quan trọng nhất của quản lý Nhà nước. Chất
lượng thực hiện của chức năng này quyết định rất lớn đối với chất lượng phát
triển toàn xã hội nói chung bởi vì kế hoạch hóa không chỉ trong lĩnh vực kinh tế
mà còn bao gồm cả lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội và cả trong lĩnh vực quản
lý: nó xuyên suốt toàn bộ các bộ phận cơ bản trong hoạt động thực tế quản lý
của Nhà nước cũng như của mỗi một cơ quan Nhà nước. Kế hoạch hóa là sự
biểu hiện khách quan mang tính qui luật của sự phát triển xã hội, là một quá
trình hoạt động nhiều mặt về xây dựng, điều chỉnh, phối hợp, ban hành, thực
hiện, kiểm tra, đánh giá các kế hoạch kinh tế phát triển kinh tế, xã hội đảm bảo
tính đồng bộ, cân đối, tập trung mục tiêu và có cơ sở pháp lý nhất định. Còn kế
hoạch là một văn bản thể hiện ý định của chúng ta với mục tiêu và biện pháp cụ
thể nhằm thực hiện quá trình kế hoạch hóa vấn đề nào đó.
+ Chức năng điều chỉnh:
Nhà nước là người có chức năng điều chỉnh chủ yếu các quá trình xã hội,
các hành vi và hoạt động của con người trong xã hội, vì Nhà nước có một
phương tiện quan trọng đó là quyền lực của Nhà nước; điều chỉnh chính là sự
xác định về mặt pháp lý đối với các quy tắc, tiêu chuẩn hành động của con
người và các tập thể quản lý Nhà nước đối với khách thể là một trong những vấn
đề quan trọng của quản lý Nhà nước.
+ Chức năng kiểm tra:
Việt nam. Các Nghị quyết của Đại hội Đảng, các Ban chấp hành trung ương, của
Bộ chính trị, Ban Bí thư… luôn luôn là nguồn quan trọng nhất để ban hành các
Quyết định quản lý Nhà nước; đồng thời trong hoạt động của mình, quản lý Nhà
nước phải tuân thủ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hoạt
động quản lý Nhà nước một mặt phải bảo đảm quyền dân chủ thực sự của nhân
dân lao động trong việc tham gia quản lý Nhà nước, mặt khác phải tạo điều kiện
để nhân dân lao động hoàn thành các nhiệm vụ chính trị do Đảng đề ra đem lại
lợi ích cho xã hội, cho đất nước và cho bản thân họ.
2. Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng
nhất chỉ đạo mọi hoạt động của tổ chức và sinh hoạt nội bộ và phong cách làm
việc của chúng ta.
Để thực hiện được nguyên tắc này chúng ta cần nắm vững một số vấn đề
chủ yếu sau đây:
- Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đó là Nhà nước
dân chủ khác hẳn với Nhà nước tư sản, Nhà nước lấy dân làm gốc, cho nên việc
phát huy dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động là vấn
đề cơ bản được thực hiện đầy đủ trong tổ chức và hoạt động quản lý của Nhà
8
nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII ghi rõ: “Thực
hiện dân chủ XHCN là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính
trị: (văn kiện Đại hội, trang 90).
- Nhà nước phải giữ quyền thống nhất quản lý những vấn đề cơ bản trong
tay Trung ương (Chính phủ, các Bộ) đồng thời phải giao quyền hạn và trách
nhiệm giải quyết cho các địa phương, các ngành, tức là thực hiện phân cấp quản
lý, giải quyết được sáng tạo và linh hoạt trong tổ chức quản lý điều hành để thực
hiện luật và các văn bản pháp qui của Trung ương cho các cấp, các ngành.
- Trong tổ chức và hoạt động quản lý Nhà nước, hai mặt tập trung và dân
chủ là một thể thống nhất, không đối lập nhau, không hạn chế nhau.
- Đảng và Nhà nước ta đang ra sức khắc phục bệnh tập trung quan liêu,
dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước; nguyên tắc này không cho phép các cơ
quan Nhà nước thực hiện việc quản lý Nhà nước một cách chủ quan, tùy tiện mà
phải dựa vào pháp luật của Nhà nước, để thực hiện nguyên tắc này phải có 03
9
điều kiện: xây dựng và hoàn chỉnh pháp luật; giáo dục pháp luật cho toàn dân;
phải xử lý một cách nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật.
Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh,
mọi người đều bình đẳng trước pháp luật… bất cứ với ai vi phạm pháp luật đều
đưa ra xử lý theo pháp luật, không được giữ lại để xử lý nội bộ. Không làm theo
kiểu phong kiến: “Dân thì chịu hành pháp, quan thì xử theo lễ”… cấm bao che
cho hành động phạm pháp và người phạm pháp dưới bất cứ hình thức nào.
6. Nguyên tắc công khai:
Tổ chức hoạt động quản lý Nhà nước phải công khai cho dân biết trên báo
chí, đài phát thanh, truyền hình…
Phải chú ý đến dư luận xã hội, từ đó mà điều chỉnh kịp thời các quyết
định quản lý Nhà nước, thực hiện phương châm dân biết, dân làm, dân kiểm tra.
Ngoài 6 nguyên tắc cơ bản nói trên, tổ chức hoạt động và quản lý Nhà
nước còn có các nguyên tắc như: nguyên tắc tập trung và thống nhất của hệ
thống, nguyên tắc hai chiều trực thuộc, nguyên tắc trực thuộc thẳng, nguyên tắc
lãnh đạo tập thể…
năng định ra luật pháp và tổ chức quản lý đời sống xã hội bằng pháp luật. Xây
dựng một hệ thống hành pháp và quản lý hành chánh thông suốt từ Trung ương
đến cơ sở, có đủ quyền lực, năng lực và hiệu lực. Đó là một phương hướng chỉ
đạo hết sức cơ bản. Đảng, Quốc hội, Chính phủ cũng như tất cả các cơ quan Nhà
nước và toàn thể nhân dân rất quan tâm đến vấn đề nâng cao hiệu lực quản lý
Nhà nước trong tình hình hiện nay.
Vậy hiệu lực quản lý Nhà nước là gì? Trước khi nói khái niệm hiệu lực
quản lý Nhà nước, chúng ta cần phải nhận thức rằng, xét về góc độ quản lý Nhà
nước, quản lý xã hội phải có đủ 3 yếu tố chủ yếu: Quyền lực, năng lực và hiệu
lực. Ba lực này có mối quan hệ rất chặt chẽ, trong đó quyền lực là yếu tố xuất
phát bao gồm hệ thống pháp luật và nguyên tắc pháp chế nghiêm minh, là sự bảo
đảm tính ổn định vững chắc của hiệu lực. Còn năng lực quản lý được thể hiên
bằng quyết định quản lý Nhà nước đúng đắn có ảnh hưởng đến hiệu lực. Như
vậy, chúng ta có thể thấy hiệu lực quản lý Nhà nước là sự thể hiện cụ thể quyền
lực và năng lực của Nhà nước.
Vậy, hiệu lực quản lý Nhà nước là sự tác động của các chủ thể quản lý
Nhà nước lên các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng
quyền lực Nhà nước, để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội theo tính chất mệnh lệnh
đơn phương của Nhà nước và sự tuân thủ chấp hành pháp luật của mọi khách thể
quản lý một cách nghiêm minh. Duy trì được trật tự xã hội, kỷ cương Nhà nước
trong toàn bộ đời sống xã hội.
Một cách khác, gọn hơn và dễ hiểu hơn hiệu lực quản lý Nhà nước là tổng
thể của các hiệu lực pháp luật (Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh), các hiệu lực văn
bản pháp qui (Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Chính
phủ là các cơ quan hành chính Nhà nước các ngành, các cấp có thẩm quyền, các
Nghị quyết liên tịch, Thông tư liên Bộ); Hiệu lực của các điều lệ, quy chế, kế
hoạch… được các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và toàn dân chấp hành
thực hiện hết sức nghiêm minh.
Trong thời gian qua, nhất là từ Đại hội Đảng lần thứ VI, qua các kỳ họp
của Quốc hội Khóa VIII và các Nghị quyết quản lý điều hành của Chính phủ,
7. Tiếp tục dân chủ hóa, tất cả các quyền lực thuộc về nhân dân trong mọi
mặt đời sống xã hội. Tiếp tục nâng cao dân trí, chống mọi biểu hiện tiêu cực xã
hội, thực hiện công bằng xã hội.
III. HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC:
1. Một vài nhận thức về hiệu quả nói chung:
a) Hiệu quả là một phạm trù có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận và thực
tiễn, là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá chất lượng hoạt động quản lý kinh tế - xã
hội. Trong hoạt động quản lý có một số người hiểu đồng nhất khái niệm kết quả
và hiệu quả hoặc cho rằng năng suất cao, có chất lượng tốt là hiệu quả rồi. Thực
tế không phải hoàn toàn như vậy, năng suất cao, có chất lượng tốt là những chỉ
tiêu chất lượng rất quan trọng, tạo ra một khối lượng giá trị sử dụng lớn làm thỏa
mãn được nhu cầu về vật chất và tinh thần cho xã hội, những năng suất cao, chất
lượng tốt chưa chắc đã hiệu quả.
Hiệu quả là chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng khoa học và tiến bộ kỹ
thuật, cải tiến biện pháp quản lý… để tạo ra một số kết quả hoạt động (sản xuất,
công tác, dịch vụ…) sao cho kết quả đạt được tối đa còn chi phí cho kết quả đó
ở mức tối thiểu (tiết kiệm nhất).
Như vậy, có thể nói: Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả và chi phí, với
điều kiện là kết quả đạt tối đa còn chi phí tối thiểu.
Trong quá trình so sánh, hiệu quả chỉ có thể đạt được ở các trường hợp
sau:
- Kết quả tăng lên, chi phí cũng tăng nhưng chậm hơn
12
- Kết quả tăng nhưng chi phí vẫn giữ nguyên (không đủ).
- Kết quả tăng, chi phí giảm.
- Kết quả giữ nguyên, chi phí giảm.
- Kết quả giảm, chi phí giảm nhanh hơn.
Tất cả các trường hợp này đều dẫn đến kết luận là muốn có hiệu quả phải
đạt được kết quả cuối cùng nhiều hơn, chi phí tương đối ít hơn. Từ đó cũng có
thể nói: Hiệu quả lao động là sự tiết kiệm lao động xã hội gồm có lao động quá
Nhà nước có nhiều việc phải làm, phải đầu tư, cho dù thời gian đầu không có lãi,
nhưng vẫn phải làm.
Đây là vấn đề rất có ý nghĩa về định tính của chỉ tiêu hiệu quả. Hoặc vì
công việc an ninh quốc gia, việc khắc phục khẩn trương một sự việc như: Bão
lụt, hỏa hoạn để đem lại sự ổn định thì không nên chỉ nghĩ về chi phí lớn mà cho
rằng không có hiệu quả…
2. Hiệu quả quản lý Nhà nước là gì?
13
a) Trước khi nói đến hiệu quả quản lý là gì, chúng ta nên đề cập một số
vấn đề mang tính đặc thù của công chức quản lý Nhà nước.
- Công tác quản lý Nhà nước hình thành, tồn tại và phát triển không phải
chỉ do bản thân Nhà nước. Các cơ quan quản lý Nhà nước, các viên chức lãnh
đạo hình thành và tồn tại không phải vì bản thân bộ máy Nhà nước. Tất cả cái đó
hoạt động chính trị hình thành, tồn tại và phát triển là nhu cầu của xã hội, vì
cuộc sống của tất cả mội người trong xã hội. Thật vậy, mọi hoạt động của cơ
quan Nhà nước, của người lãnh đạo, một quyết định quản lý, một biện pháp tổ
chức thực hiện được coi là có hiệu quả đối với xã hội chỉ khi nào hoạt động ấy,
quyết định và biện pháp ấy đạt được mục đích xây dựng, cải tạo một quá trình,
đem lại lợi ích thiết thực làm thay đổi cuộc sống của mỗi người trong xã hội.
Đây là một quan niệm có ý nghĩa lý luận và thực tế quan trọng.
- Công tác quản lý Nhà nước không trực tiếp sáng tạo các sản phẩm vật
chất và tinh thần nhưng sự tác động quản lý của Nhà nước (thể hiện trên văn bản
luật và dưới luật) ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tốt và không tốt, nhanh
chậm, hoặc giẫm chân tại chỗ của các ngành, các đơn vị, các địa phương và cơ
sở trong mọi lĩnh vực sản xuất và không sản xuất của xã hội. Do đó, công tác
quản lý Nhà nước phải lấy việc phục vụ xã hội để đánh giá hiệu quả hoạt động
của mình.
- Quản lý Nhà nước là hình thức biểu hiện và thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là
tính chính trị của quản lý Nhà nước và là quyền lợi chính trị của nhân dân.
+ Về mặt xã hội: Xây dựng từng bước một xã hội lành mạnh, quan hệ
giữa người với người tốt đẹp, công bằng; xây dựng nền văn hóa mới để từng
bước chiếm lĩnh mặt trận tư tưởng, văn hóa XHCN trong toàn xã hội.
Hiệu quả cao nhất của quản lý Nhà nước là việc thực hiện các chương
trình mục tiêu, trong từng thời kỳ để thực hiện chiến lược kinh tế xã hội. Mức độ
hiệu quả nhiều hay ít là tùy thuộc vào kết quả thực hiện có liên hệ đến chi phí
tiết kiệm hay lãng phí.
- Căn cứ thứ hai: Hiệu quả xã hội riêng.
Đó là hiệu quả hoạt động của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương
và hiệu quả xã hội chung.
- Căn cứ thứ ba: Hiệu quả xã hội cụ thể.
Đánh giá việc tổ chức và hoạt động cụ thể của một cơ quan quản lý Nhà
nước thông qua các yếu tố sau đây:
+ Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan gọn, nhẹ, hoạt động có hiệu quả.
+ Cán bộ công chức trước hết là người lãnh đạo, có năng lực và có uy tín
đối với xã hội, từng người làm việc có hiệu quả.
+ Thời gian đầu tư để giải quyết các tình huống nhanh nhạy, kịp thời, chi
phí tiết kiệm.
+ Kết quả của việc ra và việc tổ chức thực hiện qui định quản lý Nhà nước
mang lại lợi ích thiết thực.
+ Tính pháp chế, tính kỷ luật và trách nhiệm trong cơ quan và cán bộ
công chức Nhà nước được tuân thủ nghiêm minh.
+ Tính dân chủ, công bằng, đoàn kết nội bộ được bảo đảm
+ Việc sử dụng quyền lực Nhà nước tác động đến các quá trình xã hội và
con người được nhân dân tin và làm theo.
IV. NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC:
1. Vài nét tình hình: Trong thời gian qua nhất là sau khi có Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VII và thứ VIII, trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội ở
nước ta diễn ra một quá trình đổi mới mạnh mẽ. Nhà nước đã thể chế hóa các
đường lối chủ trương và biện pháp lớn mà Đảng đã đề ra thành văn bản luật và
lành mạnh, các chính sách xã hội được thực hiện còn quá ít.
2. Phải làm gì để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước.
a) Phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trong công tác quản lý
Nhà nước.
- Phải nhìn thẳng vào cuộc sống, xem cái gì đang cản trở quyền làm chủ
của nhân dân lao động.
- Những hành động gây khó khăn cho dân (đi lại, học hành, công tác, bắt
bớ, giam, tha trái phép…) phải được chấm dứt.
- Những hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ của công dân về các mặt kinh
tế, chính trị, xã hội của một số cán bộ nhân viên Nhà nước phải được xử lý
nghiêm khắc, giải quyết triệt để tệ quan liêu tham nhũng.
- Phát huy tài năng, sức lực, tiền của người dân để họ tham gia vào công
việc xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tập
thể lao động, các tổ chức xã hội khác để họ tham gia vào công việc quản lý Nhà
nước.
- Coi trọng và giải quyết đến nơi đến chốn, đúng pháp luật và kiến nghị,
đơn từ, khiếu tố, khiếu nại của nhân dân, bảo vệ nhân quyền và nhân phẩm của
nhân dân.
b) Nâng cao sự lãnh đạo của Đảng, cải tiến sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác quản lý Nhà nước theo phương hướng Đảng là người lãnh đạo, còn
người tổ chức thực hiện điều hành cụ thể chính là Nhà nước. Cương quyết xóa
bỏ lối bao biện làm thay chính quyền của cấp ủy Đảng và lối dựa dẫm ỷ lại của
16
các cơ quan chính quyền để Đảng phát huy vai trò lãnh đạo, Nhà nước phát huy
hiệu lực điều hành quản lý xã hội.
c) Cải cách bộ máy Nhà nước, đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước đặc biệt
là cơ chế quản lý kinh tế.
- Giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc tổ chức bộ máy gọn nhẹ, có
hiệu lực. Qui định cụ thể chức năng, thẩm quyền, nhiệm vụ của các cơ quan
17
Bài 3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
xác định vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam: "Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân
dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những
quyết định của mình.
Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động
trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
I. ĐẢNG CỘNG SẢN
Thực tế, từ khi thành lập năm 1930 đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam đã
nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
a) Nhiệm vụ, quyền hạn:
Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định, Quốc hội có những nhiệm vụ và
quyền hạn sau đây:
1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị
quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội
thành lập;
3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước;
4. Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định,
sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm
vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới
hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách
nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà
nước;
5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính
phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm
toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ
tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính
phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng
đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn
Điều 71 Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội
là năm năm.
Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải
được bầu xong.
Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu
Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài
nhiệm kỳ của mình theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc kéo dài
nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá mười hai tháng, trừ trường
hợp có chiến tranh.
Điều 83 Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội họp công khai. Trong
trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc
hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc
hội, Quốc hội quyết định họp kín.
Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban thường
vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu
Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường. Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu
tập kỳ họp Quốc hội.
c) Đại biểu Quốc hội: Là công dân Việt Nam, từ 21 tuổi trở lên, có phẩm
chất, trình độ, năng lực, được cử tri tín nhiệm bầu ra.
Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân
ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước.
Đại biểu Quốc hội liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri;
thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội,
các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri
về hoạt động của đại biểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử
tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và hướng dẫn, giúp đỡ
việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.
20
Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp
và pháp luật.
lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà
nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
4. Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại
kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
5. Chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy
ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc
hội;
21
6. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Chủ tịch
Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ
tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu
cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước;
7. Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ nghị
quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến
pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; giải tán Hội đồng nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó
làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhân dân;
8. Quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị
hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
9. Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp Quốc
hội không thể họp được và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
10. Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình
trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
11. Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;
12. Phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết
của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công
bố quyết định đại xá;
4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà
nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc
tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;
5. Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng
quốc phòng và an ninh; quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp
tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân
Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào
nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động
viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban
thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
6. Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị
quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử,
triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh
Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu
lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia
nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước.
b) Nhiệm kỳ:
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội
hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá
mới bầu ra Chủ tịch nước.
hạn quy định tại Điều này; trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự
án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc
hội;
3. Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa
học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc động
viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để
bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân;
4. Trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ;
thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình Ủy ban thường
vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị
hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
5. Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán
bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công
tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu,
tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm
tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật
định;
6. Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người,
quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;
7. Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy
quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm
dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình
Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
24
8. Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ
Theo Điều 105 Hiến pháp năm 2013: Nhiệm kỳ của Chánh án Toà án
nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Việc bổ nhiệm, phê chuẩn, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm
phán và việc bầu, nhiệm kỳ của Hội thẩm do luật định.
5. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao:
Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện
kiểm sát khác do luật định.
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà
25
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Theo Điều 108 Hiến pháp năm 2013: Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
6. Tổ chức bộ máy cấp địa phương:
a) Hội đồng nhân dân:
- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Hội đồng nhân dân huyện.
- Hội đồng nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận.
- Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn.
b) Ủy ban nhân dân:
- Tỉnh và cấp tương đương: gồm các sở, các ủy ban, các cơ quan khác