Một số phương pháp giúp nâng cao kỹ năng tiếng việt cho học sinh THPT - Pdf 28

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Phần một: ĐẶT VẤN ĐỀ
Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc chọn đề tài.
1. Môn văn – Tiếng việt trong nhà trường trung học có một tầm quan
trọng dặc biệt.
Tính chất là môn học công cụ ở bậc học này, không những vẫn được
thực tiễn mà còn có yêu cầu cao hơn. Đây là môn học ngoài việc cung cấp
kiến thức mẹ đẻ cho học sinh còn hình thành ở các em những kĩ năng tiếng
việt để còn hoạt động giao tiếp và góp phần hình thành nhân cách con
người mới.
Học sinh học tiếng việt là học tiếng mẹ đẻ. ở bậc trung học, việc sử
dụng tiếng mẹ đẻ trong hoạt động giao tiếp không cho phép học sinh chỉ
dừng lại ở những hiểu biết và thói quen có tính trực cảm. Nói cách khác
việc sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp của học sinh trung học không còn là
việc làm tự phát như một yêu cầu bản năng mà phải là một việc làm có ý
thức, phải được rèn luyện kĩ năng thường xuyên. Và như vậy “ hành trang”
của học sinh khi vào đời không thể không có vốn kiến thức tiếng việt, mà
đặc biệt là những kĩ năng thực hành tiếng việt – kĩ năng giao tiếp bằng
tiếng việt.
Nói hoạt động ngôn ngữ là nói đến, việc dùng ngôn ngữ vào hoạt
động giao tiếp. Vậy hoạt động giao tiếp có những yêu cầu gì?
Để giao tiếp, người tham gia giao tiếp phải trực tiếp sản sinh ra văn bản
1
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
( nói hoặc viết ) để thông báo. Với tư cách người nhận thông tin, chuyển
các mã thông tin thành những thông báo qua đó nhận thức những nội dung
cần giao tiếp. Như vậy trong hoạt động giao tiếp, các bên tham gia giao
tiếp phải có những kĩ năng cần thiết là “nghe” ,“nói”, “đọc”, “viết”. Những
kĩ năng này trong giao tiếp không ngoại trừ phạm vi hẹp là học sinh mà là
yêu cầu tất yếu của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Như vậy, việc sản sinh và giải mã các văn bản ( trong giao tiếp ) ở

Từ những kết quả khảo sát năng lực tiếng việt đối với 240 học sinh
lớp 10, chúng tôi nhận thức rằng. Cần phải rèn luyện học sinh ngay từ đầu
cấp học các năng lực tiếng việt có như vậy mới giúp được các em học tốt
các môn học khác. Và quan trọng hơn việc rèn luyện các kĩ năng tiếng việt
trong nhà trường sẽ giúp các em tham gia tốt hơn các hoạt động giao tiếp
ngoài xã hội, vận dụng kiến thức ngôn ngữ phục vụ cuộc sống.
Tuy nhiên, do thời gian giành cho môn học không nhiều, nhưng lượng tri
thức cần cung cấp cho học sinh ( theo phân phối chuong trình ), lại nhiều,
3
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
trình độ học sinh không đồng đều, nhiều học sinh có năng lực văn hóa quá
yếu… nên việc tiến hành triển khai đềtài chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn.
Mặt khác do phạm vi bao quát khá rộng ( 4 lớp/ 10 lớp). Nên việc tập hợp
tình hình cũng như triển khai thực nghiệm không tránh khỏi sự bất cập. Vì
vầy trong đề tài này chúng tôi xin chỉ giới hạn cách thực hiện trong phạm
vi sau đây.
- Chỉ khảo sát và hướng dẫn học sinh của hai phần ba khối lớp 10, các
khối khác với phạm vi đại trà chưa thể được thực nghiệm theo hướng
của đề tài này.
- Chỉ tập trung hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng tiếng việt trực tiếp
qua các tiết dạy cụ thể, bằng cách thức lồng ghép, kết hợp chưa thể biên
soạn thành hêh thống bài tập hoàn chỉnh.
- Hoạt động giao tiếp suy cho cùng là hoạt động của các chủ thể tham gia
giao tiếp. Ở các tiết học, chủ thể của một hoạt động giao tiếp là học
sinh. Và do vậy, việc rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, mà chúng
tôi tiến hành là nhằm vào đối tượng cá nhân. Từng học sinh sẽ được làm
việc theo định hướng của thầy cô. Hoạt động của thầy và trò trong việc
rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ có đạt được hiệu quả cao hay không tùy
thuộc rất nhiều vào khả năng thái độ của học sinh. Đây là công việc
phức tạp khó khăn. Nhưng với suy nghĩ mục đích cuối cùng của môn

sắp xếp trình bày riêng từng kĩ năng chỉ là hình thức để tiện theo dõi mà thôi.
1. Rèn luyện kĩ năng viết.
6
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Viết là một trong bốn kĩ năng mà môn văn – tiếng việt ở nhà trường có
nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh. Kĩ năng viết bao gồm kĩ năng viết chữ, viết
chính tả, viết câu – đoạn văn đúng ngữ pháp và viết văn bản ( sản sinh văn bản
viết )
A- Thực tế qua hơn hai trăm bài viết đầu tiên của học sinh đầu cấp
học mà chúng tôi khảo sát cho thấy.
- Học viên viết chữ ghi tiếng chưa đúng qui định.
+ Đa phần các em viết chữ sai mẫu chữ ( thiếu nét, không đúng tư thế, khoảng
cách các con chữ và các chữ ghi tiếng…)
+ Một số học sinh viết chữ quá xấu, quá cẩu thả nên không thể đọc được.
+ viết sai lối chính tả khá nhiều: khoảng 47% ( 110/240 em ). Viết chữ sai qui
tắc chính tả. Các lỗi thường gặp là: Lẫn lộn các phụ âm đầu, trong chữ ghi tiếng
như không phân biệt ch/tr, d/gi, d/r. không phân biệt cách ghi các nguyên âm đôi
như u/uô. i/iê….
+ Tình trạng viết chữ tùy tiện khá phổ biến: Học sinh không phân biệt khi nào
phải viết chữ bình thường, khi nào viết chữ “ hoa” ở các chữ đầu câu, đầu đoạn
văn không viết “ hoa”. Trong khi đó lạ viết hoa ở những chỗ không cần thiết.
Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do thói quen , nhưng chủ yếu là do
không nắm vững qui tắc chính tả tiếng việt ( ví dụ như không biết ghi tên người,
tên địa lí, cách ghi chữ phiên âm tiếng nước ngoài…)
Để góp phần khắc phục tình trạng trên chúng tôi đã tiến hành một số việc “ để
rèn luyện kĩ năng viết chữ ” cho học sinh như sau:
7
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
- Tổng hợp các lỗi trong cách viết của học sinh, xác định mức độ, phạm
vi các lỗi viết, để giành thời gian thích hợp cho việc giúp học sinh sửa

mình” đã thu được những kết quả. Công việc này nếu làm thường xuyên trong
các khối lớp trong tất cả các môn học khác vói sự hưởng ứng của đồng nghiệp sẽ
góp phần tạo cho học sinh yêu mến hơn tiếng mẹ đẻ và se hăng say hơn trong
việc học tập môn văn – tiếng việt hiện tại và kể cả khi công tác và lao động ỏ
nhiều lĩnh vực của đời sống lúc các em vào đời.
B- Rèn viết câu – đoạn văn:
B1. Câu là đơn vị cư bản của ngôn ngữ dùng để tạo văn bản và giao tiếp “ nói và
viết”. Nói và viết phải thành câu thì quá trình giao tiếp mới được thực hiện có
kết quả tốt rèn kĩ năng viết câu và tạo lập văn bản vừa là yêu cầu của bản thân
môn học vừa là yêu cầu đời sống xã hội – yêu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Chương trình môn tiếng việt từ bậc tiểu học đến bậc trung học phổ thông ddeuf
có kiến thức về câu. Chương trình có cấu tạo đồng tâm này đòi hỏi ngày càng
cao ở bậc trung học. Học sinh trung học không những phải nhận biết câu ( các
9
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
kiểu câu, dạng văn …) mà quan trọng hơn là phải biết dùng câu để tạo văn bản
nói và viết để học tập và giao tiếp xã hội.
Kiến thức về câu và khả năng viết câu của học sinh lớp 10 ở TTGDTX là vấn đề
đáng quan tâm không chỉ của giáo viên dạy văn – tiếng việt mà còn là điều mà
giáo viên dạy môn học khác thường phàn nàn. Kĩ năng viết câu của hoc sinh
thường biểu hiện ở các dạng lỗi sau đây:
- Phần lớn học sinh chưa biết diễn đạt lời văn ( lời nói ) bằng đơn vị câu.
Câu văn các em viết thường không đầy đủ thành phần nòng cốt ( hoặc
câu thiếu chủ ngữ, hoặc câu thiếu vị ngữ) trường hợp lẫn lộn các thành
phần câu cũng khá phổ biến, nhiều em chỉ mới nêu được thành phần
phụ của câu ( như trạng ngữ) hoặc mới nêu được chủ đề ( đề ngữ )
nhưng sau đó không có nòng cốt câu để làm sáng rõ đề ngữ…
- Khi viết câu, nhiều học sinh không biết đạt dấu câu hoặc đạt dấu cân
không thích hợp với nội dung diễn đạt. Nhiều câu viết hàng trang mà
không có dấu câu chưa kể đến việc các em vận dụng các kiểu câu theo

11
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
+ Chấm kĩ các bài kiểm tra để phát hiện lỗi và tập hợp về các dạng lỗi để tiện
cho việc uốn nắn cách viết cho học sinh. Thời gian dành cho phần chữa lỗi trong
các tiết trả bài kiểm tra không có nhiều vì vậy phải tập hợp các dạng lỗi viết theo
nhóm. Có như vậy mới vừa bảo đảm thời gian vừa có trọng tâm để “khác sâu”
+ Tăng cường rèn kĩ năng viết câu, viết đoạn. Với những tiết học tiếng việt có
yêu cầu thực hành cao thì thời gain cho “ học lí thuyết” chỉ nên vừa phải, phần
thời gian nhiều hơn dành cho học sinh làm các bài tập và tự “ báo cao” kết quả
làm bài của minh.
+ Một yêu cầu nữa mà qua thực tế cho thấy rằng: Giáo viên phải thực sự tận tình
và biết tôn trọng những “ sản phẩm” của quá trình lam việc của học sinh.
Để làm được những công việc tương như đơn giản vừa nêu tren người giáo viên
phải tốn nhiều thời gian và trí lực. Có thể có hai khuynh hướng: Hoặc là để học
sinh tự rèn luyện thụ động hoặc người thầy phải bieetr tổ chức định hướng và
làm việc nhiều với từng cá nhân học sinh để giúp và tạo cơ hội cho từng em phát
huy tính năng động chủ quan trong quá trình rèn luyện.
Nhưng dú cách nào đi nữa thì vẫn cần đến tính nhiệt tình và trí tuệ của người
thầy.
2. Rèn kĩ năng nói:
A. Dạng giao tiếp quan trọng thứ 2 là nói. Nói – xét trong phạm vi hẹp – là giao
tiếp miệng. Hoạt động nói có quan hệ với hiện thực. Đó là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào nhận thực được chuyển hóa thành lời nói có nội dung. Nội dung
nói là cái trìu tượng. Nó phải được mã hóa thành ngôn ngữ, tức là phải chuyển
12
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
những cái trìu tượng thành tín hiệu ngôn ngữ có tính vật chất cụ thể là lời nói:
Nói có nội dung sẽ là những văn bản nói.
- Nói là nhu cầu của giao tiếp. Phải chú ý đến những yêu cầu giao tiếp thì hoạt
động nói mới có kết quả. Kết quả đó phải được đánh giá qua sụ lĩnh hội thông

- Khuyến khích các em nói điều mình hiểu theo ý cá nhân, theo yêu cầu khẩu
ngữ, không bắt buộc học sinh nói như đọc thuộc lòng bài học tring sách giáo
khoa. Qua cách làm như vậy giáo viên vừa uốn nắn được lệch lạc trong tiếp thu
kiến thức, kiến thức của học sinh vừa tập cho các em cách nói vừa có cơ hội uốn
nắn những lỗi mà các em mắc khi nói.
- Tập cho các em nói phải có chuẩn bị nội dung. Trước khi yêu cầu học sinh trả
lời câu hỏi giáo viên nên nêu yêu cầu của bài tập cho học sinh thao tác trên giấy
nháp ( hoặc vở luyện tập). Sau đó mới cho các em trình bày miệng – cái mà các
em đã có.
Với các bài làm văn viết, học sinh phải được tham gia xây dựng giàn bài, làm đè
cương chi tiết. Giáo viên kiemr tra chặt chẽ về yêu cầu này. Truocs khi viếc vào
14
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
vở học sinh phải được “ thuyết trình” trước lớp về đề cương của mình đã chuẩn
bị.
Đây là một cách rèn nói rất hiệu quả - chất lượng bài viết được nâng cao, năng
lực nói của học sinh cũng được rèn luyện tố hơn.
Ở những tiết học văn, khi gặp những tác phẩm dài ( có yêu cầu đọc trước ở nhà)
chúng tôi thường xuyên yêu cầu học sinh trình bày tóm tắt nội dung, tóm tắt cốt
truyện để học sinh nhơ lâu hơn, đỡ mất nhiều thời gian cho việc đọc “ suông”,
giành được nhiều thời gian cho việc luyện nói …
- kịp thời, nếu có điều kiện giáo viên phải làm cả việc chữa lỗi phát âm cho học
sinh ( vì dấu ấn địa phương vẫn còn đậm đối với học sinh nông thôn – dù là học
sinh bậc trung học) có như vậy việc dùng tiếng việt phổ thông mói toàn diện
sâu sắc.
3. Rèn kĩ năng nghe đọc.
A. Nghe – đọc . Là hai kĩ năng giải mã thông tin tiếp nhận thông báo.
Từ các tín hiệu ngôn ngữ ( với âm thanh và chữ viết ) người tham gia giao tiếp
( nghe – đọc ) phải hoạt động tiếp nhận để chuyển tín hiệu vật chất của ngôn ngữ
thành nội dung trìu tượng trong nhận thức của hoạt động tư duy.

+ Thói quen nghe đọc để ghi bài ở các cấp dưới còn đậm nét
+ Không loại trừ điều kiện khách quan như chỗ ngồi chật, phòng học thiếu
sáng….
B. Từ nhận thức và thục trạng tình hình của đối tượng học tiếng việt như vây
nên chúng tôi cho rằng cần phải rèn kĩ năng nghe, đọc cho học sinh để một mặt
các em ghi bài học được đầy đủ theo tinh thần của cách học người lớn, mặt khác
để các em có thói quen nghe – hoạt động tư duy – nhận thức trong tình hình rất
nhiều thông tin của xã hội hiện đại. Tất nhiên nghe luôn luôn gắn liền với ghi
chép là yêu cầu chúng tôi đặt ra.
Một số biện pháp chúng tôi đã tiến hành thường xuyên và đem lại kết quả
kể trên.
- Giảng bài phải căn cứ vào từng bài học cụ thể để học sinh có thể ghi
chép được, không giảng thuyết trình tràn lan, ở những đơn vị kiến thức
trọng tâm thì nói đo nói lại – nhấn mạnh ( thống nhất chuỗi lời nói từ
lần đầu đến các lấn sau). Nói thong thả để học sinh tự ghi bài, việc này
là khởi đầu để học sinh quan sát tạo thói quen về cách làm việc nhưng
lại rất cần thiết đói với học sinh ngay từ buổi đầu. Nói cách khác đây là
việc để thầy trò làm quen “ cách làm việc” trong khi các em bỡ ngỡ.
- Không đọc bài để học sinh chép theo cách “ đọc – chép” cứng nhắc bởi
lẽ bài học đã có đủ trong sách giáo khoa, tài liệu tham khảo nếu “ đọc –
chép” bài học thì không còn thời gian để đảm bảo lượng kiến thức bắt
17
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
buộc và không còn thời gian để học sinh làm việc “ cá thể hóa” theo yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Hai cách làm này chúng tôi chỉ hi vọng ở học sinh một thói quen làm việc
phù hợp với cách học của bậc học và những định hướng việc đổi mới phương
pháp dạy – học theo tinh thần “ học sinh chủ đọng sáng tạo trong tiếp nhận kiến
thức” biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo nhằm không ngừng nâng
cao chất lượng dạy và học.

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao
chép nội dung của người khác.
Lê Thị Thu Hà
19
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Phần I : Đặt vấn đề: Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc chọn đề
tài
2
1- Môn Văn-Tiếng Việt trong nhà trường trung học có một tầm
quan trọng đặc biệt.
2
2- Thực tế tình hình về năng lực hoạt động giao tiếp của học sinh
trung tâm GDTX Tĩnh Gia
3
3- Nhiệm vụ và cách thức thực hiện đề tài 3
Phần II: Những công việc đã làm để rèn luyện kỹ năng tiếng Việt
cho học sinh
5
1- Rèn luyện kỹ năng viết 5
2- Rèn luyện kỹ năng nói 10
3- Rèn luyện kỹ năng nghe đọc 12
Phần III – Kết luận 14
20
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Khảo sát trên bài làm và bài tập của học sinh qua các năm học
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status