Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Niên khóa: 2005 – 2009
Đề tài
GVHD: TS. TRỊNH TIẾN THUẬN
SVTH: ĐỖ THỊ MINH TRANG
LỚP: 4B Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2009
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 2
1. Lý do chọn đề tài ..............................................................................................5
2. Lịch sử vấn đề ..................................................................................................6
3. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................ 11
4. Phạm vi đề tài ................................................................................................. 11
5. Bố cục ............................................................................................................ 11
CHƢƠNG 1: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỒI GIÁO TỪ THẾ KỈ
VII ĐẾN THẾ KỈ XV .......................................................................................... 12
1.1. Sự ra đời của Hồi giáo..................................................................................... 12
1.1.1. Muhammad và Hồi giáo. .......................................................................... 12
1.1.2. Kinh Koran - những giáo lý cơ bản của Đạo Hồi. ..................................... 13
1.2. Sự mở rộng lãnh địa Hồi giáo ra khỏi biên giới Ả Rập .................................... 16
CHƢƠNG 2: NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA TINH THẦN CỦA Ả RẬP
THỜI KÌ “VĂN MINH HỒI GIÁO” (THẾ KỈ VII - XV) .................................. 20
2.1. Giáo dục ......................................................................................................... 20
2.2. Ngôn ngữ ........................................................................................................ 23
2.3. Nền văn học Ả Rập ......................................................................................... 25
2.4. Sử học ............................................................................................................. 30
2.5. Triết học ......................................................................................................... 32
2.6. Nghệ thuật ...................................................................................................... 35
2.6.1. Nghệ thuật tạo hình .................................................................................. 35
2.6.1.1. Nghệ thuật viết chữ đẹp và Arabesque ............................................... 35
2.6.1.2. Kiến trúc ............................................................................................ 39
2.6.2. Nghệ thuật biểu diễn: Âm nhạc................................................................. 43
2.7. Khoa học tự nhiên ........................................................................................... 44
2.7.1. Toán học................................................................................................... 45
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 4
2.7.2. Thiên văn ................................................................................................. 48
1. Lý do chọn đề tài
Hồi giáo là một trong 3 tôn giáo lớn nhất thế giới. Tuy ra đời muộn nhƣng nó
đƣợc coi là một hiện tƣợng tôn giáo bởi số lƣợng tín đồ tăng lên một cách nhanh
chóng.
Hồi giáo xuất phát từ Ả Rập, do đó khi nói tới tôn giáo này ngƣời ta thƣờng
nghĩ ngay tới vùng đất “Nghìn lẻ một đêm”. Ngƣời Ả Rập chỉ chia sẻ một nền văn
hóa chung gọi là văn hóa Ả Rập, trong đó Hồi giáo chỉ là một thành tố cấu thành
chứ không phải yếu tố quyết định để ngƣời ta xem Hồi giáo chính là Ả Rập.
Trong lịch sử, những ngƣời theo đạo Hồi thƣờng đƣợc xem là những ngƣời
trung thành, thông minh và luôn có ý chí vƣơn lên và có thể sẵn sàng tử vì đạo. Đó
cũng là lí do mà ngƣời Ả Rập theo đạo Hồi đã sáng tạo ra một nền văn hóa Hồi giáo
mà ảnh hƣởng của nó đã lan rộng khắp thế giới, trong đó thời kì phát triển nhất của
nền văn hóa này là từ thế kỉ VII đến thế kỉ thứ XV- giai đoạn mà các sử gia thƣờng
gọi là “thời kì văn minh Hồi giáo” - bắt đầu từ khi Mohhamad sáng lập ra tôn giáo
này cho tới lúc Đế chế Andalusia sụp đổ (1492) và xứ này bị quân Mông Cổ tấn
công và tiêu diệt.
Đây là giai đoạn mà ngƣời Ả Rập tự hào nhất vì trong suốt tám thế kỉ từ sau
khi Hồi giáo ra đời, họ đã mang tôn giáo của mình truyền đi khắp châu Á và cả châu
Âu lúc này đang trong đêm trƣờng trung cổ… và từ đó Hồi giáo đã kết hợp với nền
văn hóa bản địa để ra đời một nền văn minh đƣợc gọi là “văn minh Hồi giáo”.
Những ngƣời Ả Rập đã tạo ra một nền văn hóa đặc sắc, mang đậm tính chất
tôn giáo và sự toàn tâm, toàn ý của những ngƣời Hồi giáo đối với tôn giáo của
mình. Hồi giáo không phải là mẫu số chung của nền văn hóa Ả Rập nhƣng nó mang
tính chất quyết định đối với nền văn hóa này, đã tạo ra nét đặc trƣng riêng biệt
không lẫn vào đâu của cƣ dân nơi đây. Các nhà sử học dù rằng đã có nhiều tác
phẩm viết về những thành tựu của nền văn minh Ả Rập nhƣng đa số đều chƣa thể
hiện đƣợc tầm quan trọng của nó đối với xã hội Hồi giáo cũng nhƣ thế giới. Trên
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 6
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 7
không những đối với ngƣời Ả Rập mà nhiều thành tựu còn có ảnh hƣởng đối với
nhân loại hôm nay.
Thứ hai, ngƣời Ả Rập đã tiếp thu đƣợc những thành tựu văn minh, khoa học
của những vùng đất họ chinh phục, đặc biệt là Ba Tƣ, Hi Lạp, Ấn Độ, Ai Cập… tạo
nên sự cộng hƣởng văn hóa, cho ra đời một nền văn hóa mới là “văn hóa Ả Rập”.
Nói chung, sự bành trƣớng của Hồi giáo đã là phƣơng tiện, cơ sở cho sự phát triển
của văn minh Hồi giáo.
Thứ ba, những thành tựu của văn minh Ả Rập thời kì này đã có ảnh hƣởng
rất lớn tới châu Âu, làm nền tảng cho phong trào Phục hƣng của châu Âu vào thế kỉ
XVI.
Cụ thể là:
- Đại cương văn hóa phương Đông [6]: trình bày tổng quan về các nền văn
hóa lớn của phƣơng Đông, trong đó phần Văn hóa Ả Rập đƣợc giới thiệu một cách
khái quát nhƣng khá đầy đủ từ thời kì tiền Hồi giáo cho đến năm 2007. Tác giả chỉ
thuật lại lịch sử một cách sơ lƣợc nhƣng vẫn làm nổi bật lên đƣợc tầm quan trọng
của tiến trình lịch sử khi xem lịch sử nhƣ là yếu tố cơ bản để quyết định đối với sự
phát triển văn hóa Ả Rập.
Nền văn hóa Ả Rập đƣợc trình bày dƣới hình thức giới thiệu các thành tố của
nền văn hóa này: tôn giáo, văn hóa vật chất phục vụ đời sống, nghệ thuật tạo hình,
nghệ thuật biểu diễn, tiếng Ả Rập và nền văn học Ả Rập, khoa học và các phong tục
tập quán. Tác giả đã giới thiệu khá đầy đủ những nét nổi bật và truyền thống nền
văn hóa Ả Rập xƣa và nay. Tuy nhiên, đúng nhƣ tên của nó, cuốn sách này chỉ giới
thiệu chứ khong đi sâu vào những vấn đề khoa học phức tạp.
Bên cạnh đó, tác giả cũng xác định rõ ràng về thời gian và không gian của
thời kì văn minh Hồi giáo. “Phân biệt rõ Hồi giáo không phải là Ả Rập. Người Ả
Rập chỉ chia sẻ một nền văn hóa chung gọi là văn hóa Ả Rập, trong đó Hồi giáo chỉ
là một thành tố cấu thành chứ không phải mẫu số chung của văn hóa Ả Rập”
[tr.103].
của phƣơng Tây (bắt nguồn từ tiếng Latinh) giúp ngƣời viết xác định đƣợc phạm vi
đề tài của mình: “văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm tín ngưỡng nghệ thuật,
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 9
đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực cũng như những thói quen mà
con người đạt được trong xã hội” (văn hóa nguyên thuỷ - Primitive Culture- 1871 ở
Luân Đôn của nhà nhân loại học E.B.Taylor).
- Islam Hồi giáo - tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại [10]: Đây là
cuốn sách tổng quan về Hồi giáo nói chung từ xƣa cho tới năm 2001. Trong đó nêu
đầy đủ những yếu tố của nền văn minh Hồi giáo (nhƣng không chi tiết), các quốc
gia Hồi giáo và Hồi giáo trong thế giới ngày nay.
Tuy nhiên, tác giả lại cho rằng “văn hóa Hồi giáo chính là văn hóa Ả Rập”.
Đó là một nền văn hóa mới do các dân tộc Trung Cân Đông cùng xây dựng vào thời
kì hưng thịnh của các quốc gia calipha, đặc biệt là khoảng thời gian 4 thế kỉ, trong
đó tiếng Ả Rập và tín ngưỡng Hồi giáo là đặc trưng của nền văn hóa mới” [tr.49].
- Hồi giáo [11]: Ngƣời Ả Rập hiểu rằng tôn giáo độc thần tiến bộ hơn tôn
giáo đa thần vì tính liên kết, thống nhất niềm tin tôn giáo cũng nhƣ tình cảm của
toàn dân tộc. Do đó “cần phải có học thuyết mới và một nền đạo đức mới, chúng
phải vừa thoả mãn được các giá trị vụ lợi, nhấn mạnh đến trách nhiệm cá nhân, đề
cao cá tính mà vẫn giữ được sự thống nhất trong một dân tộc” [tr.21]. Nhƣ vậy tác
giả đã tìm ra đƣợc nguồn gốc về mặt tinh thần của những giá trị văn hóa của ngƣời
dân Ả Rập Hồi giáo.
- Các tôn giáo [25]: cho rằng cái cốt lõi nhất của Hồi giáo đó chình là “tình
cảm sùng đạo quá đáng của xã hội Hồi giáo cùng các thành viên trong xã hội đó là
một thực tế toàn khối và có khi mê hoặc nó thấm đẫm toàn bộ cuộc sống ở mọi
phương diện và ở từng ứng xử nhỏ nhặt” [tr.133]. Vì vậy chúng ta có thể hiểu đƣợc
vì sao mà những ngƣời dân trong cộng đồng Hồi giáo lại có thể tạo ra một nền văn
hóa đạm tính dân tộc tôn giáo nhƣ thế.
Ngoài ra, ngƣời viết còn tham khảo một số tác phẩm sau:
1. Colin Wilson (2004), Các thánh địa trên thế giới, Nxb Mỹ thuật.
là cái nền để văn hóa phát triển.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 11
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: phƣơng pháp này giúp ta thấy đƣợc một cách tổng
thể sự phát triển của các giai đoạn lịch sử Ả Rập thời kì văn minh Hồi giáo cũng
nhƣ khái quát đƣợc tất cả những thành tựu của ngƣời dân Ả Rập trong thời kì này,
qua đó có cái nhìn khách quan, hệ thống sát thực hơn.
- Phương pháp lôgic: để xem xét các sự kiện liên quan trong mối quan hệ
biện chứng của quá trình phát triển, quá trình nhận thức lịch sử, từ đó có thể tìm ra
những vấn đề có tính chất mắt xích, trọng tâm.
- Phương pháp định lượng: phƣơng pháp này cho chúng ta thấy đƣợc sự vĩ
đại, quy mô của những thành tựu thời kì này qua những số liệu cụ thể.
- Phương pháp tiếp cận: tìm hiểu trực tiếp tác phẩm từ đó có sự phê phán
đấu tranh hoặc đồng tình với quan điểm của tác giả.
4. Phạm vi đề tài
Trình bày một vài nét về Hồi giáo cùng những thành tựu của văn minh Hồi
giáo thời kì Văn minh Hồi giáo (thế kỉ VII – XV) và đây cũng là trọng tâm của khóa
luận. Ngoài ra, khóa luận còn giới thiệu một số vấn đề về Hồi giáo ở Việt Nam hiện
nay.
5. Bố cục
CHƢƠNG 1: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỒI GIÁO TỪ THẾ
KỈ VII ĐẾN THẾ KỈ XV
CHƢƠNG 2: NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HOÁ TINH THẦN CỦA
ẢRẬP THỜI KÌ “VĂN MINH HỒI GIÁO” (THẾ KỈ VII – XV)
CHƢƠNG 3: ẢNH HƢỞNG CỦA HỒI GIÁO ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG
NGƢỜI CHĂM Ở VIỆT NAM
tồn tại dai dẳng trong các bộ lạc du mục cũng lâm vào khủng hoảng do sự xuất hiện
Hình 1: Muhammad
[nguồn: http://my.opera.com/]
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 13
các mâu thuẫn giai cấp, sự phân biệt giàu nghèo. Ở nhiều nơi trên bán đảo xuất hiện
những ngƣời tự xƣng là các nhà tiên tri. Họ kêu gọi dân chúng tin theo một đấng tối
cao duy nhất. Hiện tƣợng này phản ánh nhu cầu về một nhà nƣớc thống nhất của
ngƣời Ả Rập. Cũng trong thời gian này việc buôn bán ở Ả Rập cũng sút kém vì con
đƣờng buôn bán đi lại giữa Địa Trung Hải với Ấn Độ - Ba Tƣ qua Ả Rập bị Ba Tƣ
chiếm giữ, do đó các quý tộc nơi đây thấy cần phải liên kết với nhau trong việc bảo
vệ quyền lợi thƣơng nghiệp nữa. Dân du mục cũng muốn phá vỡ phạm vi bộ lạc nhỏ
hẹp để đi tìm những bãi cỏ mới. Vậy là, đầu thế kỉ VII, trên bán đảo Ả Rập không
những có cơ sở để bƣớc sang xã hội có giai cấp mà còn yêu cầu liên hiệp lại thành
một quốc gia thống nhất. Và sự ra đời của Hồi giáo (Islam) chính là sự đáp ứng nhu
cầu phát triển của bán đảo thời đó.
Thực ra, trƣớc khi đạo Hồi xuất hiện, ngƣời Ả Rập trong sa mạc có một tôn
giáo riêng, sơ khai nhƣng tế nhị: họ thờ vô số thần (ngẫu tượng). Trung tâm của các
tín ngƣỡng, tôn giáo ấy chính là thành Mecca và đền Kaaba huyền bí, đồng thời đây
cũng là hai trung tâm giao lƣu buôn bán của bán đảo Ả Rập. Do đó, việc thống nhất
bán đảo Ả Rập không những cần thiết về mặt lãnh thổ mà còn cả về mặt tôn giáo tín
ngƣỡng. Và khi bán đảo đã đƣợc thống nhất, tất cả ngƣời dân ở đây tôn thờ thánh
Allah, tin theo vị tiên tri của Ngƣời là Muhammad thì cũng chính là lúc Ả Rập trở
thành một trong những đế quốc rộng lớn với đội quân hùng mạnh, sẵn sàng tử vì
đạo với những ý đồ bành trƣớng lãnh thổ ra bên ngoài.
1.1.2. Kinh Koran - những giáo lý cơ bản của Đạo Hồi
Đạo Hồi, tiếng Ả Rập gọi là Islam (nghĩa là “phục tùng”), về sau, dân tộc
Hồi ở Trung Quốc theo đạo này nên ta quen gọi là đạo Hồi.
Tất cả những giáo lí của đạo Hồi đều đƣợc thể hiện trong kinh Koran, tiếng
quan trọng nhất, các tín đồ phải đến thánh đƣờng.
- Ăn chay trong tháng Chín (Ramađan) theo lịch Hồi giáo.
- Phải nộp thuế cho đạo.
- Ít ra một lần trong đời, các tín đồ Hồi giáo nếu có điều kiện về sức khoẻ
cũng nhƣ tiền bạc phải đến thăm thánh địa Mecca một lần (kinh Koran, chương III,
điều 91).
Ngoài 5 giáo luật trên, tín đồ còn có một bổn phận nữa là dự các cuộc thánh
chiến nhằm mục đích bành trƣớng thế lực và truyền bá tôn giáo. Nhƣng thánh chiến
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 15
không đƣợc gọi là giáo luật căn bản và cũng chỉ thực hiện đối phó với các cộng
đồng ở kế cận lãnh thổ Hồi giáo mà không chịu cải đạo.
Về quan hệ gia đình, đạo Hồi thừa nhận chế độ đa thê vì thời đó tử suất tử
của nam cao hơn nữ. Tuy nhiên một ngƣời đàn ông chỉ đƣợc lấy tối đa 4 vợ (trừ
Muhammad) và không đƣợc lấy ngƣời theo đa thần giáo.
Nhà nƣớc nắm quyền tối cao mọi đất đai và quyền ban phát cho các cá nhân.
Kinh Koran bảo vệ quyền tƣ hữu tài sản, nghiêm cấm tội ăn cắp. Quyền thừa kế tài
sản đƣợc quy định chặt chẽ và đàn ông đƣợc hƣởng gấp đôi phụ nữ. Muhammad đặt
ra các luật lệ về hôn nhân và gia đình, về việc bảo vệ trẻ mồ côi. Ban đầu dƣới thời
Muhammad, phụ nữ không cần đeo mạng che mặt.
Đạo Hồi cũng tiếp thu quan niệm của các tôn giáo khác, bắt chƣớc một số
nghi thức và tục lệ của ngƣời Do Thái nhƣ trƣớc khi cầu nguyện phải rửa mặt, khi
cầu nguyện phải hƣớng về Mecca và phải thủ phục chạm đất, cấm ăn thịt heo, thịt
chó, thịt các con vật bị chết vì bệnh, thịt đã cúng thần, cấm uống rƣợu.
Đạo Hồi chỉ có một điều quan trọng không giống các tôn giáo khác là tuyệt
đối không thờ ảnh tƣợng nào vì họ quan niệm rằng thánh Allah toả khắp mọi nơi,
không có một hình tƣợng nào có thể thể hiện đƣợc Allah. Bởi vậy trong thánh thất
Hồi giáo chỉ trang trí bằng chữ Ả Rập chứ không có tƣợng thờ hay tranh ảnh. Chỉ
riêng trong đền Kaaba ở Mecca có thờ một phiến đá đen từ xƣa để lại.
Kinh Koran hƣớng tới những tầng lớp nghèo cùng khổ, dốt nát trong xã hội,
Baghdad, đã làm chúa tể thống trị cả một đế quốc rộng lớn từ sông Ấn tới Đại Tây
Dƣơng, gồm các xứ: Sind, Baloutchistan, Afganixtan, Turkestan, Ba Tƣ,
Messopotani, Armenia, Syria, Palestine, Ai Cập, Bắc Phi.
- Đế chế Andalusia (755 - 1492): với trung tâm là Cordoba ở Tây Ban Nha.
Bên cạnh các đế chế Hồi giáo này còn có các đế chế Hồi giáo ở Cairo (triều
đại Fatimite ở Ai Cập), đế chế Mongol (Ấn Độ), Ottoman (Thổ Nhĩ Kì) và Sefevid
(Ba Tƣ). Tuy nhiên, những đế chế này không đƣợc xem là dế chế “Ả Rập Hồi
giáo”.
Sở dĩ đạo Hồi bành trƣớng nhanh nhƣ vậy là vì có nhiều lí do. Về mặt quân
sự, họ đã học hỏi rất nhiều từ ngƣời Ba Tƣ và Byzantine. Các bộ lạc ở phía bắc bán
đảo Ả Rập có truyền thống đánh thuê cho hai đế quốc này, qua đó học đã học đƣợc
kĩ thuật quân sự, nhƣ cách đánh thành chẳng hạn. Đây là một trong những đặc điểm
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 17
vƣợt trôi về quân sự của họ. Về mặt tinh thần, họ tin rằng nếu chiến đấu vì Allah, tử
vì đạo sẽ đƣợc lên thiên đƣờng, không kể sau mỗi thắng lợi họ đều đƣợc chia phần.
Nếu định cƣ ở đâu thì dân không theo đạo Hồi ở đó phải đóng thuế nuôi họ.
Một trong những điều căn bản đạo đức của Hồi giáo là: Sống trên đời mọi
ngƣời phải biết giúp đỡ nhau, cụ thể là ngƣời giàu phải giúp đỡ kẻ nghèo, vì vậy nó
đã thu phục đƣợc rất nhiều tín đồ, đặc biệt là những ngƣời lao động trong một thời
gian ngắn. Với tinh thần Mohammad, hàng đoàn ngƣời Ả Rập đã rời quê hƣơng
mang “trên đôi tay kinh Koran và thanh gươm”, họ mang tôn giáo thần thánh của
mình tới những vùng đất khác.
Đạo Hồi là một tôn giáo mang tính chính trị [5, 127] (vì bản thân
Muhammad vừa là ngƣời lãnh đạo về tôn giáo và cả nhà nƣớc Ả Rập) nên những
cuộc chiến mở rộng lãnh thổ của họ chính là thánh chiến, thực hiện ý chỉ của Allah
vì vậy thông qua tôn giáo, đế quốc Ả Rập đã bành trƣớng một cách nhanh chóng
nhƣ vậy. Tuy nhiên, những cuộc thánh chiến của đạo quân Hồi giáo thực chất là
một cuộc “dồn toa” các tộc ngƣời. Đầu tiên ngƣời Ả Rập chinh phục ngƣời Ai Cập,
rồi ngƣời Ai Cập cải theo đạo Hồi, tiến hành thánh chiến về phía tây, chinh phục cả
là do những nhân tố từ bên ngoài: sự ngăn chặn của các cƣờng quốc châu Âu ở phía
tây, các cuộc tấn công của những kẻ xâm lƣợc nhƣ Thành Cát Tƣ Hãn ở phía đông,
những tiến bộ về công nghệ và phát kiến địa lý của châu Âu, các cuộc xâm lƣợc
thực dân. Còn về những nhân tố bên trong, thì luật Shariah (luật Hồi giáo) càng
ngày càng trở nên cứng nhắc hơn, đang phát huy tác dụng ngƣợc chiều. Sự kiểm
soát của bộ luật đƣợc cho là do Thƣợng đế phê chuẩn này không tránh khỏi làm cho
xã hội bị trì trệ, nó ƣu ái sự tuân thủ bảo thủ hơn là sự đổi mới và những tƣ tƣởng
cách tân.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 19
Dù rằng ngày nay Hồi giáo bị chia làm 3 phái chính là Sunnit (80%), Siit
(15%) và Kharij (5%) do lúc Muhammad chết đã không để lại di chúc cũng nhƣ
không chỉ định ngƣời kế vị, nhƣng cho đến bây giờ Hồi giáo vẫn là tôn giáo có số
lƣợng tín đồ nhiều thứ 2 thế giới và đƣơng nhiên, nền văn hóa Hồi giáo cũng đã lan
toả khắp mọi nơi trên trái đất này.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 20
CHƢƠNG 2
NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA TINH THẦN
CỦA Ả RẬP THỜI KÌ “VĂN MINH HỒI GIÁO”
(THẾ KỈ VII - XV)
Trên lãnh thổ bán đảo Ả Rập trƣớc khi Hồi giáo xuất hiện, tồn tại nền văn
hóa của những cƣ dân Ả Rập du mục và định cƣ canh nông, nhƣng khi Hồi giáo
thống trị vùng đất này thì nó đã tạo ra một nền văn hoá mở đối với cƣ dân nơi đây
và cả xã hội Hồi giáo trong suốt nhiều thế kỉ sau đó.
“Nguồn gốc của nền văn hóa Hồi giáo tuy không thuần nhất, song không
phải là một sự kết hợp cổ xưa, mà là một sự sáng tạo, tất cả các yếu tố kể trên, dưới
hình thức Ả Rập- Hồi giáo, đã hoà trộn thành 1 nền văn hóa độc đáo” [10, 49].
Đúng vậy, ngay sau khi vƣợt ra khỏi biên giáo của bán đảo Ả Rập, họ đã “đụng
phí tổn khác do các nhà từ thiện đóng góp. Sự dạy dỗ rất giản dị: những kinh cầu
nguyện cần thiết, tập đọc đủ để đọc đƣợc kinh Koran, khỏi dạy các môn khác vì
kinh Koran vừa là sách thần học, vừa là sử kí, luân lí, luật pháp. Tập viết và làm
toán thì để lên những trƣờng cao cấp. Mỗi ngày ngƣời ta học thuộc 1 đoạn kinh
Koran, mục đích là thuộc trọn kinh.
Nền giáo dục tiểu học nhằm luyện tƣ cách cho trẻ, do đó phƣơng pháp là học
thuộc lòng, luyện tính kỉ luật, dùng roi, còn trƣờng trung học cũng đặt trong thánh
thất. Ngoài thần học, học sinh còn đƣợc học các môn văn học, ngôn ngữ, ngữ pháp,
toán, thiên văn… trong đó môn ngữ pháp đƣợc coi trọng vì ngƣời ta cho rằng tiếng
Ả Rập là ngôn ngữ hoàn hảo nhất và ai nói đúng thứ tiếng này thì đƣợc coi là
thƣợng lƣu. Học trò đi tìm thầy giỏi ở các trung tâm giáo dục lớn trong đế quốc nhƣ
Mecca, Baghad, Damaccus và Cairo. Nhiều khi học trò không phải trả tiền học phí
mà còn đƣợc cho thêm tiền ăn ở nữa.
Trong thời gian 3 đế chế này (Omayyad, Abbassid, Andalusia) tồn tại thì
những trƣờng đại học đầu tiên đã đƣợc thành lập trên lãnh thổ của những ngƣời con
Hồi giáo. Trƣờng đại học đầu tiên đƣợc thành lập ở Maroc năm 859, đại học al
Azhar đƣợc thành lập năm 988 ở Cairo (có tài liệu ghi năm 970). Lúc đầu nó chỉ là
một lớp học mở trong thánh thất, gồm 35 sinh viên, do vua al Aziz tài trợ. Dần dần,
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 22
quy mô của lớp học mở rộng và ngày càng thu hút nhiều sinh viên khắp nơi trên đế
quốc Hồi giáo về đây học tập, vì vậy chẳng bao lâu, số sinh viên ở đây đã đạt tới
con số 10 000. Trƣờng có tới 300 giáo sƣ giảng dạy thuộc nhiều lĩnh vực chuyên
môn. Baghdad có hai trƣờng đại học lớn nhất của đế chế Hồi giáo và cổ nhất thế
giới là Nizamiyah và Mustansinyh. Ở các ngôi trƣờng đại học cổ ấy, một trong
những cảnh ngƣời ta thích nhìn nhất là cảnh các sinh viên ngồi thành từng nhóm,
mỗi nhóm ngồi xổm lại thành hình bán nguyệt chung quanh một chân cột, trƣớc mặt
họ là một nhà bác học cùng ngồi truyền thụ kiến thức cho họ. Đại học Cordoba
cũng đã rất nổi tiếng trong các thế kỉ X và XI. Tục mặc lễ phục áo chùng và mũ cao
trong các lễ tốt nghiệp của sinh viên trên toàn thế giới thời nay chính là bắt nguồn
viện của ông có đến 44 000 đầu sách, chỉ riêng danh mục sách đã có 4 quyển, mỗi
quyển 22 tờ. Thừa tƣớng Buidov Ardasir ibn Sabur (mất năm 1024) trong thƣ viện
của mình, chỉ riêng kinh Koran đã có 100 bản do những ngƣời viết đẹp nhất chép
lại, ngoài ra còn 10 400 đầu sách khác. Quả thực lời nhận xét của Will Durant tuy
nghe có vẻ phóng đại một chút nhƣng hoàn toàn có khả năng là sự thật !
Nhƣ vậy, ta có thể thấy rằng sở dĩ nền văn minh Ả Rập hƣng thịnh và đạt
đƣợc những thành tựu nhƣ vậy một phần là nhờ họ có một nền giáo dục tiên tiến
bậc nhất thời bấy giờ.
2.2. Ngôn ngữ
“Tiếng Ả Rập là cơ sở văn hoá Ả Rập” [6, 156] và nó cũng là biểu tƣợng
cho sự thống nhất văn hoá của họ.
Ngƣời Ả Rập chia sẻ cho các dân tộc bị họ xâm chiếm một nền văn hoá
chung gọi là văn hoá Ả Rập, trong đó có đạo Hồi. Và đối với mỗi ngƣời dân Hồi
giáo, tiếng Ả Rập là ngôn ngữ thiêng bởi nó là ngôn ngữ của kinh Koran - cuốn
sách Thánh của họ. Bất cứ ngƣời Hồi giáo nào đọc kinh Koran cũng đều phải đọc
bằng tiếng Ả Rập. Vì vậy, cũng với việc đạo Hồi vƣơn ra khỏi lãnh thổ bán đảo Ả
Rập nhỏ hẹp thì ngôn ngữ thiêng ấy cũng bắt đầu phiêu lƣu khắp thế giới. Chính
tiếng Ả Rập đã làm cho ngƣời Ả Rập nhận thức đƣợc bản sắc văn hoá chung của họ
và Albert Hourani đã nhận xét rằng: người Ả Rập nhận thức về ngôn ngữ của mình
hơn bất kì dân tộc nào. Và “kể từ khi người Ả Rập mở rộng ra bên ngoài, tiếng Ả
Rập đã trở thành quốc tế ngữ của thế giới tín đồ Hồi giáo rộng lớn” [11]
Ngôn ngữ Ả Rập thuộc họ Semite thuộc hệ ngôn ngữ Á - Phi, gồm 28 chữ
cái, đƣợc viết giống nhƣ chữ thảo từ phải sang trái. Mỗi chữ cái có từ 2 đến 4 hình
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
Trang 24
thái (hay còn gọi là trạng thái, phụ thuộc vào vị thế của chữ cái đó: đứng riêng, ở
đầu, ở giữa, hay ở cuối từ). Các nguyên âm dài đƣợc biểu hiên bằng các chữ w (u), j
(yia), „ (alif); những nguyên âm ngắn (thƣờng không thể hiện trên văn bản), đƣợc
biểu hiện bằng các kí hiệu (tƣơng đƣơng với các âm: a, y, i) ở trên hoặc dƣới dòng
chữ.
ngữ chính thức ở 22 nƣớc Ả Rập trải dài từ Bắc Phi đến bán đảo Ả Rập.
Ngôn ngữ Ả Rập đƣợc coi là ngôn ngữ giàu có và có ảnh hƣởng nhất thế
giới. Ngƣời ta ƣớc đƣợc rằng trong tiếng Anh có khoảng 4% là tiếng mƣợn từ Ả
Rập, còn trong tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng có vài nghìn từ là tiếng Ả
Rập…
Ngôn ngữ Ả Rập trong Kinh Koran của đạo Hồi (Islam) ngôn ngữ của văn
học cổ điển Ả Rập, của văn học nghệ thuật, khoa học và tôn giáo. Và ngôn ngữ Ả
Rập cổ điển ấy, suốt mƣời lăm thế kỷ (từ thế kỷ VII đến nay) là ngôn ngữ chuẩn
(hay ngôn ngữ văn học) của ngƣời Ả Rập, vẫn bảo tồn đƣợc từ pháp cổ đại, tuy có
những thay đổi không đáng kể về mặt từ vựng.
2.3. Nền văn học Ả Rập
Ngay từ đầu ngôn ngữ Ả Rập đã là ngôn ngữ của thơ ca, mƣợt mà, ý nhị và
tinh tế. Ngƣời Ả Rập từ xƣa đã yêu chuộng thơ, mà họ nói cũng nhƣ thơ với giọng
điệu du dƣơng, lời lẽ giàu hình ảnh, ý tứ sâu sắc.
Tác phẩm văn học đồ sộ nhất và đƣợc tất cả các tín đồ Hồi giáo biết đến đó
chính là kinh Koran.
Kinh Koran không chỉ là bộ kinh thánh của các tín đồ Hồi giáo mà còn là
một tác phẩm đồ sộ, ảnh hƣởng sâu sắc đến ngôn ngữ, văn học và nền văn hoá Hồi
giáo. Bộ kinh đã làm cho ngôn ngữ Ả Rập đƣợc thống nhất và bảo tồn, đƣợc truyền
bá rộng rãi trong các nƣớc theo đạo Hồi. Đạo Hồi truyền bá tới đâu, kinh Koran
đƣợc xem là cuốn sách học tiếng Ả Rập tới đó. Vì đạo Hồi quy định tín đồ ở bất cứ
nơi nào trên thế giới khi đọc kinh đều phải đọc bằng tiếng Ả Rập vì vậy, thông qua
kinh Koran, ngôn ngữ Ả Rập đƣợc bảo tồn và duy trì sức sống cho đến tận ngày
nay. Ngoài ra, kinh Koran còn chứa đựng nhiều truyền thuyết, những câu chuyện
lịch sử, phản ánh sinh động xã hội lúc bấy giờ. Đó cũng là những cứ liệu lịch sử xác
thực, là những nguồn cảm hứng bất tận cho biết bao thế hệ nhà thơ, nhà văn sáng
tác ra những tác phẩm bất hủ, làm phong phú cho nền văn học Ả Rập. Lối văn trong
kinh Koran hùng đại và có tính nhịp khí. Lời của nhà Tiên tri nửa nhƣ thơ, nửa nhƣ