MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XX – thế kỉ của hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta –
đã lùi xa 10 năm. Nền văn học thời chiến (xin được lấy mốc 1945 – 1975) cũng
đã lùi vào quá khứ. Và nền văn học trong thời kì đổi mới (1975 đến nay) đang
tiếp tục con đường phía trước của mình. Đứng ở thế kỉ XXI, nhìn lại nền văn
học qua hai điểm mốc 1945 – 1975 và 1975 đến nay, chúng ta thấy được nhiều
chuyển biến giữa hai giai đoạn văn học, trong đó có sự chuyển biến, đổi mới
trong cách phản ánh hiện thực của văn học giai đoạn 1975 đến nay so với văn
học giai đoạn 1945 – 1975. Điểm nổi bật nhất của văn học trước năm 1975 là
khuynh hướng sử thi lãng mạn. Đây là nền văn học phục vụ cho cách mạng, lúc
này văn học là vũ khí đấu tranh làm nhiệm vụ chiến đấu. Giai đoạn này nhân vật
trung tâm của văn học là những người có sự kết tinh các phẩm chất cao quý của
cộng đồng, gắn bó số phận mình với số phận đất nước. Đó là những anh hùng
đại diện cho giai cấp, cho dân tộc và thời đại. Trong thời kì này đề tài chiến
tranh trở thành mảnh đất màu mỡ để các nhà văn khám phá phẩm chất anh hùng
của con người Việt Nam, đồng thời thể hiện nhiệt tình, nhiệt huyết của mỗi nhà
văn đối với Tổ Quốc, đối với nhân dân.
Nếu văn học trước năm 1975 thường đề cập đến những con người tiêu biểu cho
cộng đồng, thường nói đến cái chung mà ít đề cập đến cái riêng, kể cả tình yêu
đôi lứa cũng được đặt trong tình yêu chung –tình yêu Tổ Quốc thì văn học sau
năm 1975 đến nay lại tập trung đi sâu phản ánh đời sống nội tâm, số phận của
con người thông qua các mối quan hệ của họ trong cộng đồng. Sau năm 1975
đất nước có những thay đổi đáng kể cả về kinh tế lẫn văn hóa –xã hội. Đặc biệt
là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Phương tiện truyền thông phát triển
mạnh mẽ tạo điều kiện cho chúng ta tiếp cận với văn hóa thế giới, trong đó có
văn học nghệ thuật. Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, văn học cũng
phải đổi mới để phù hợp với thực tại và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của
người sáng tác cũng như người thưởng thức. Do giới hạn của bài viết nên tôi
không thể tìm hiểu hết những chuyển biến của nền văn học trước và sau
năm 1975.
cứu sau:
- Thu nhập và xử lí tài liệu
- Phân tích và tổng hợp
- Nhận định đánh giá
5. Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài tiểu luận còn có hai chương:
Chương I: Khái quát chung
Chương II: Vấn đề Đề tài trong nền văn học Việt Nam trước và sau năm
1975
2
NỘI DUNG
Chương I: Khái quát chung
1.1.Khái niệm Đề tài văn học
Trong văn học, đề tài được biểu hiện rõ rệt trong những tác phẩm tự sự
hoặc kịch. Trong khi đó phần lớn các tác phẩm trữ tình, khái niệm đề tài
gần như đồng nhất với khái niệm chủ đề.
Đề tài biểu hiện khái niệm về loại của hiện tượng đời sống, do vậy, có
bao nhiêu loại hiện tượng đời sống là có bấy nhiêu đề tài. Việc phân thức
đề tài phải chỉ ra bản chất xã hội của hiện tượng. Những thuộc tính chung
về đề tài là căn cứ xác định, tập hợp các tác phẩm thành nhóm đề tài như
các tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết du đãng, truyện khoa học viễn tưởng,
truyện ngụ ngôn…
1.2.Văn học bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống
Bối cảnh thời đại ít nhiều dội vang trong tác phẩm. Bối cảnh là một
trong những nhân tố quan trọng. Do đó, yếu tố quan trọng quyết định xu
hướng và đề tài của văn học chính là hiện thực cuộc sống.
Như ý kiến của Trần Đình Sử, Lê Hồng Vân, Lê Xuân Vũ: “Hiện thực trong
mệnh đề “ văn học phản ánh hiện thực” mà chúng ta luôn nghe nhác lại đó phải
được hiểu là cuộc sống của con người với tất cả sự phong phú đa dạng của nó,
chứ không phải là các sự kiện, hiện tượng, các chi tiết ngẫu nhiên, hoạt động
đa chiều, đa diện, trong tốt có xấu và trong xấu có tốt, có khổ đau và có
hạnh phúc… Giờ đây, những hạn chế của thời kì trước được khắc phục và
tất cả các mặt của cuộc sống cứ thế lần lượt được mổ xẻ, soi rọi qua từng
trang viết của mỗi nhà văn.
Văn học từ 1975 đến nay đã tạo được sự khác biệt so với giai đoạn trước.
Lúc này, văn học không còn tuyệt đối phục vụ cho chính trị nữa mà nó trở
về với con người, với những gì bình dị nhưng cũng không ít vấn đề nảy
sinh trong cuộc sống đời thường
Văn học từ sau 1975 đặc biệt chú ý đến nông thôn Việt Nam. Một loạt
tác phẩm đã lấy bối cảnh nông thôn như: Bến không chồng – Dương
Hướng, Thời Xa vắng – Lê Lựu, Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra – Nguyễn
Minh Châu, Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc Trường,…
Nông thôn vốn là một không gian yên bình, là nơi bảo tồn những giá trị
truyền thống của dân tộc, là nơi tình người thắm đượm sắt son. Tuy nhiên
đây cũng là nơi trói buộc con người trong những tư tưởng lạc hậu, những
tập tục cổ hủ, những tập quán tréo ngoe. Ta có thể thấy sức mạnh của lời
nguyền từ rất lâu đời của dòng họ Nguyễn qua biết bao bi kịch của các thế
hệ cháu con trong tác phẩm “Bến không chồng” của Dương Hướng:
“Nước sông Đình ngàn năm không cạn/ Cầu Đá Bạc vạn kiếp trơ trơ/ Bến
Tình còn đẹp còn mơ/ Mối thù họ Vũ bao giờ mới nguôi”. Lời nguyền
truyền kiếp đã cản trở tình yêu giữa Vạn và Nhân, đã gây bao trắc trở,
đắng cay, tủi nhục cho Hạnh và Nghĩa. Trong tác Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cũng đã phơi bày một hiện thực nông
thôn rùng rợn, xung quanh mối xung đột kéo dài nhiều thế hệ giữa hai
dòng họ Trịnh Bá và Vũ Đình. Tác phẩm phơi bày những mâu thuẫn gay
gắt, với những màn đấu trí, đấu lực hừng hực lòng thù hận, lúc này chẳng
còn đâu tình hàng xóm láng giềng, tình đồng bào ruột thịt giữa hai dòng
họ. Bao cái dở của dòng họ gặp cái yếu kém và sự lợi dụng của tổ chức
Đảng và chính quyền địa phương đã xáo trộn cuộc sống của rất nhiều
người, gây ra bi kịch cho những con người lương thiện như bà Son, Đào...
2.1.1. Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa –xã hội
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên
ngôn độc lập nhưng nền độc lập đứng trước những thách thức to lớn. Cũng như
bối cảnh xã hội lúc ấy, văn học vừa diễn ra xu hướng hội tụ, vừa tiếp tục sự
phân hóa của các khuynh hướng văn học. Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng
nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đã mở đầu cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm
với Pháp. Trong thời kỳ này, văn học đã được xây dựng để phục vụ cho cuộc
chiến đấu của người Việt Nam mà hạt nhân là Việt Minh. Văn hóa được định
hướng theo phương châm do Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định từ Đề
cương văn hóa Việt Nam năm 1943 là Dân tộc - Khoa học - Đại chúng còn đối
với văn học thì làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng. Trong kháng
chiến chống Pháp, khẩu hiệu Kháng chiến hóa văn hóa - Văn hóa hóa kháng
chiến của Hồ Chí Minh cũng phản ánh mục tiêu và đi kèm với nó là phương
5
pháp chi phối văn hóa nói chung và văn học nói riêng trong giai đoạn ấy. Về
phong cách, để có thể kháng chiến hóa văn hóa, văn học phải nhằm đến đối
tượng quần chúng đông đảo mà chủ yếu là nông dân và do vậy văn học giai
đoạn này được hướng đến phong cách hiện thực, đại chúng.
Trong bối cảnh đó, những người sáng tác mà trong số họ có rất nhiều nhà thơ
của phong trào Thơ mới, những nhà văn hiện thực phê phán với không ít cây bút
tài năng băn khoăn với câu hỏi: viết cho ai? viết cái gì? viết như thế nào? Người
ta im lặng, hoặc cảm thấy bứt rứt vì không thể viết như cũ, nhưng cũng chưa thể
viết được cái mới như ý muốn của mình.
Trong thời gian này đã nảy sinh những
cuộc tranh luận về nghệ thuật, trong đó người nghệ sỹ băn khoăn; đem nghệ
thuật phục vụ chính trị có phải là rẻ rúng nghệ thuật không? Quần chúng có
khả năng thưởng thức nghệ thuật không?
[6]
.