luận văn quản trị marketing thực trạng hoạt động kinh doanh phát triển của công ty Amazon - Pdf 28

A. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Amazon
1. Giới thiệu một vài nét về công ty
Tên niêm yết trên sàn NASDAQ: AMZN
Năm hình thành 1994
Trụ sở chính Seattle, Washington - USA
Địa điểm kinh doanh Khắp nơi trên thế giới
Người đứng đầu
Jeffrey P.Bezos
(Giám đốc điều hành, chủ tịch hội
đồng quản trị)
Ngành kinh doanh Bán lẻ
Sản phẩm
Amazon.com, A9.com, Alexa
Internet, IMDb, Amazon Kindle,
Amazon Web Services
Doanh thu 19.166 tỉ USD (2008)
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh 842 tỉ USD (2008)
Thu nhập sau thuế 645 tỉ USD (2008)
Số lượng công nhân 20500 (2008)
Website Amazon.com
Cách thức kinh doanh Video và trang web
Các ngôn ngữ Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức, Nhật
Khởi nghiệp 1995
Amazon.com Inc (mã niêm yết trên sàn NASDAQ: AMZN) là một công
ty thương mại điện tử của Mỹ đặt tại Seattle, bang Washington. Đây là hệ thống
bán lẻ lớn nhất của Mĩ với doanh thu bán hàng qua Interet gần gấp ba lần.
Amazon là công ty kinh doanh đa ngành, đa nghề như sách, dịch vụ mua bán
nhạc, phần mềm tin học, trang trí nội thất, game…Quảng cáo của Amazon đập
vào mắt ta bất cứ khi nào ta click vào Internet. Các chuyên gia gọi Amazon.com
là một trong những công ty có tiềm năng và triển vọng bậc nhất hiện nay. Với
doanh thu hàng tỷ đô la/năm trong vòng 4 năm hình thành và phát triển, rõ ràng

của Nhật Bản. Nhưng lúc mà Jeff còn làm ở đây với vai trò tập sự thì Fitel chỉ là
một cái tên chưa ai biết đến. Anh ta không đoái hoài đến những điều đó, cái
quan trọng nhất với anh ta là kế hoạch thăng tiến trong nghề nghiệp phải được
diễn ra đúng theo ý muốn đã định sẵn
Năm 1988, Jeff nhảy sang đầu quân cho một công ty tài chính có tên là
Bankers Trust Company.Tại đây, Jeff được giao trọng trách lập ra chương trình
quản lý tài khoản. Jeff đã chứng minh được mình là một lãnh đạo tốt, một
chuyên gia lập trình cừ khôi và chỉ sau 2 năm anh ta đã được đề bạt lên chức vụ
Vice-President của công ty chuyên trách về IT.
Chưa kịp hân hoan làm lễ nhậm chức thì Jeff đã nhận được một lời mời
khác với chức vụ thấp hơn tại một công ty có tên tuổi hơn: DE Shaw & Co - một
công ty bảo hiểm có trụ sở trên phố Uôn. Và tại đây, sau hai năm, Jeff lại được
đề bạt lên chức Vice-President
Năm 1994, sau khi đắn đo suy nghĩ, Jeff cảm thấy rằng ở tại công ty bảo
hiểm này anh đã không còn đất để dụng võ nưa. Chẳng có gì bất bình thường
bởi các chức vice president đối với một thanh niên 30 tuổi như Jeff thì có thể nói
chỉ có Jeff là người đàn ông trẻ tuổi duy nhất trong lịch sử hình thành công ty có
được một chức vụ cao như thế
Hình như kế hoạch "một bước trong hai năm" của Jeff đã trở nên lỗi thời.
Jeff trăn trở suy nghĩ. Chức vụ “vice president” trong một công ty bảo hiểm tên
tuổi đối với nhiều người là niềm mơ ước cháy bỏng. Nhưng Jeff thì không chỉ
muốn dừng lại ở đó.
3
Jeff có thú đọc và nghiên cứu các dự báo về kinh tế vĩ mô. Và một lần anh
đọc được ở đâu đó nói rằng tiềm năng lớn nhất đối với kinh doanh là hệ thống
thương mại điện tử, rằng thương mại điện tử trong vòng mấy năm nữa sẽ phát
triển lên mức mấy nghìn phần trăm/năm, rằng những ai sớm tìm cho mình một
hướng đi vào đó sẽ có cơ hội khi thời cơ đến
Jeff không phải là người quá lãng mạn để thả hồn vào những giấc mơ.
Ông đang nhẩm tính con số tiền bạc thu được và muốn nghe được tiếng sột soạt

lẫn nhân viên miệt mài đóng sách gửi qua đường bưu điện, nhưng sức không đủ,
đơn đặt hàng thì tới tấp, anh quyết định mở thêm các điểm giao hàng. Lợi nhuận
thu được thật như trong mơ! Chỉ trong vòng một năm đầu tiên kinh doanh, Jeff
thu về vài triệu Mỹ kim, và anh quyết định dùng số tiền này để phát triển mở
rộng công ty.
Hiện nay Amazon thu được hàng trăm triệu Mỹ kim lợi nhuận mỗi quý.
Và kế hoạch ngày nào Jeff lập ra: cứ hai năm một lần sẽ phải có một thay đổi
nào đó trên đường công danh của mình đối với Jeff giờ đây cũng không là ngoại
lệ. Jeff quyết định trao quyền thống soái của mình cho Joseph Gall - người đã
từng đầu quân cho Black & Decker - một đại gia trong lĩnh lĩnh vực vật liệu xây
dựng tại Mỹ để về nghỉ hưu ở tuổi 35.
3. Lịch sử và mô hình kinh doanh
Amazon thành lập năm 1994, dựa vào mô hình và Bezos đã gọi là “hệ
thống tối thiểu hóa sự hối tiếc” (regret minimization framework), một nỗ lực của
ông ấy để đẩy lùi sự hối tiếc vì đã không tham gia vào công cuộc đổ xô đi tìm
5
vàng (gold rush). Câu chuyện về công ty nói rằng: Bezos đã viết ra kế hoạch
kinh doanh khi ông ấy và vợ đi xe từ New York về Seattle nhưng điều đó có vẻ
không đáng tin lắm.
Công ty khởi đầu là một cửa hàng sách online tên là “Cadabra.com”, cái
tên này bị cấm ngay sau đó vì nghe giống “cadaver” (xác chết). Thời điểm đó
những cửa hàng sách “xây bằng gạch và vữa” lớn nhất và những danh mục đặt
hàng sách qua mail có thể có 200.000 mục một cửa hàng sách online còn có thể
có hơn thế.
Bezos đặt lại tên công ty là “Amazon” dựa theo tên con sông lớn nhất thế
giới. Từ năm 2000, phù hiệu của Amazon là một mũi tên chỉ từ A đến Z, thể
hiện sự hài lòng của khách hàng và mục tiêu của công ty là có mọi loại sản
phẩm trong bảng chữ cái.
Năm 1994, công ty hợp nhất ở bang Washington, bắt đầu dịch vụ vào
tháng 6-1995 và tái hợp nhất ở Delaware năm 1996. Cuốn sách đầu tiên

cận Seattle, bắt đầu vào giữa 2010, hoàn tất vào 2011. Sự di chuyển này sẽ tập
hợp tất cả nhân viên tại Seattle vào khuôn viên tòa nhà 11 tầng mới.
5 .Các dòng sản phẩm
Amazon đã mở các nhánh bán lẻ đĩa nhạc, băng Video và đĩa DVD, phần
mềm, điện tử tiêu dùng, đồ nhà bếp, dụng cụ, thiết bị làm cỏ, làm vườn, đồ chơi
trò chơi, đồ trẻ em, quần áo, đồ thể thao, thực phẩm, trang sức, đồng hồ, thiết bị
7
chăm sóc cá nhân và y tế, sản phẩm làm đẹp, nhạc cụ, vải vóc, rau quả, nguyên
liệu công nghiệp và khoa học…
Công ty đã vận hành sàn đấu giá A.com, dịch vụ đấu giá vào 3/1999. Tuy
nhiên nó đã thất bại trong việc bào mòn sự phát triển hàng mạnh của kẻ di tiên
phong trong ngành: eBay. Sàn đấu giá Amazon tiếp sau đó là kinh doanh thị
trường giá cố định gọi là zShop vào 9/1999 và liên doanh Sotheby’s/Amazon
gọi là Sotheby.amazon.com vào tháng 11.
Amazon không còn nhắc đến sàn đấu giá hay zshop trong những trang
chính và trang trợ giúp người bán bây giờ cũng chỉ nhắc đến Marketplace.
Đường link cũ đến zshop bây giờ nối trực tiếp với trang chủ còn link cũ đến sàn
đấu giá đưa người dùng đến một trang về lịch sử các giao dịch. Danh sách sản
phẩm mới không còn nữa cho những dịch vụ này.
Mặc dù zshop đã không tồn tại lâu được như mong muốn nhưng nó vẫn
đặt nền tảng cho thành công lớn của dịch vụ thị trường Amazon tung ra năm
2001, để khách hàng bán sách cũ, CD, DVD, những sản phẩm khác cũng như
sản phẩm mới. Bây giờ đối thủ chính của Amazon Marketplace là dịch vụ
Haff.com của eBay.
Đầu tháng 8/2005, Amazon bắt đầu bán sản phẩm dưới nhãn hiệu riêng:
“Pinzon”. Những ứng dụng thương hiệu mở đầu gợi ra cho công ty ý tưởng tập
trung vào dệt may, dụng cụ nhà bếp và những khóa gia đình khác. Vào tháng 3-
2007, công ty áp dụng mở rộng thương hiệu,để bao quát và đa dạng danh mục
hàng hóa. Để đăng ký thiết kế mới có từ PINZON viết cách điệu và chữ O ở vị
trí kim đồng hồ chỉ một giờ. Danh mục các sản phẩm đăng ký dưới thương hiệu

9
trên tài khoản tín dụng) hoặc để chỉ rằng người bình luận là một trong những top
những người bình luận tính về mật độ được tin cậy. Trang web ở Mỹ nói chung
là có lượng bình luận nhiều nhất. Một lời bình đăng trên một trang web không
cần thiết phải hiển thị ở trang weab này hoặc hiển thị ở trang web khác. “Search
Inside the Book” là một tính năng cho phép khách hàng tìm kiếm những từ khóa
trong đoạn văn hoàn chỉnh của nhiều cuốn sách trong Catalog. Tính năng này
bắt đầu với 120000 đề mục (tức 33 triệu trang văn bản) vào 23/10/2003. Hiện
giờ có khoảng 250000 cuốn sách nằm trong chương trình này. Amazon đã hợp
tác với khoảng 130 nhà xuất bản để cho phép người sử dụng thực hiện thao thác
tìm kiếm này.
“Tiền kiếm bên trong cuốn sách” là một chức năng cho phép khách hàng
tìm kiếm những từ khóa từ văn bản đầy đủ của tất cả những cuốn sách có trong
danh mục. Chức năng này bắt đầu với 120000 tựa đề sách (ứng với 33 triệu
trang sách) vào ngày 23/10/2003. Hiện tại đã tăng lên đến 250000 cuốn sách
trong danh mục. Amazon đã hợp tác với khoảng 130 nhà xuất bản để cho phép
người sử dụng có thể dùng công cụ tìm kiếm này.
Để tránh sự vi phạm bản quyền, Amazon.com không hỗ trợ những văn
bản có thể đọc được bằng máy tính hoặc những bức tranh từ các trang đó, không
cho phép việc in ấn và đặt ra các giới hạn về số trang của một cuốn sách mà một
người sử dụng đơn lẻ có thể truy cập. Một tác giả có thể xem sách của anh ta có
được đọc trực tuyến hay không bằng cách gõ một vài chữ cái. Thêm vào đó,
khách hàng có thể mua một số sách trực tuyến qua chương trình “Amazon
upgrade”, mặc dù sự lựa chọn hiện nay còn khá là giới hạn.
Theo như thông tin từ diễn đàn của Amazon.com, Amazon có được 40%
doanh số bán hàng từ các chi nhánh mà họ gọi là cộng tác viên, và bên thứ ba -
người mà liệt kê và bán những sản phẩm trên web Amazon. Các cộng tác viên
nhận được tiền hoa hồng từ việc giới thiệu khách hàng bằng cách đặt đường link
10
của Amazon hoặc những sản phẩm đặc biệt của Amazon vào website của họ.

Dẫn đầu thế giới hiện nay là Mỹ với hơn 211 triệu người, chiếm gần 70% dân
số nước này. Lần lượt xếp thứ 2 và 3 trong thống kê này là Trung Quốc và Nhật
Bản.
Hiện trên thế giới có hơn 1,1 tỉ người sử dụng Internet, 20 quốc gia và vùng
lãnh thổ đứng đầu đã chiếm gần 80% số người sử dụng Internet trên toàn cầu.
Ngày nay, khi thương mại điện tử đã phát triển đến giai đoạn người tiêu
dùng có thể thực hiện cả quá trình mua bán hàng hóa chỉ với vài click
chuột, nhiều người bắt đầu hình thành thói quen mua sắm mới. Nhiều bạn
trẻ cho rằng, việc mua hàng trên mạng vừa nhanh, rẻ, tiện lợi mà cũng là
một cách thư giãn sau những giờ làm việc tại văn phòng. Việc đặt mua hàng
rất dễ dàng, hàng hóa lại được vận chuyển đến tận nơi. Nếu sử dụng các thẻ
thanh toán quốc tế trên các website có hình thức thanh toán trực tuyến, việc
mua các hàng hóa thiết yếu như văn phòng phẩm, nhu yếu phẩm, thực
phẩm đóng gói sẽ rất tiện lợi và đơn giản, giúp chị em phụ nữ không còn
phải đi siêu thị định kỳ để mua về. Máy tính, điện thoại di động, máy ảnh,
thiết bị điện tử…cũng được khách hàng tìm kiếm và mua qua mạng nhiều
do có độ chuẩn hóa về chất lượng. Người mua có thể tham khảo về tính
năng, mẫu mã và giá cả của các sản phẩm mới trên một số trang web. Khi
ưng một sản phẩm, bạn chỉ cần lựa chọn giá cả tốt nhất để đặt mua. Người
sử dụng máy tính và mạng Internet càng nhiều thì thị trường thương mại
điện tử càng có điều kiện phát triển. Các mặt hàng được bán trên mạng rất
phong phú, từ đồ dùng văn phòng, quà tặng, đồ trang sức, thời trang, thẻ
game… như một siêu thị thực thụ, đến các dịch vụ đặt tour du lịch, vé máy
bay. Các website du lịch sử dụng hình thức thanh toán trực tuyến khiến cho
việc tham khảo và chọn tour của khách du lịch trở nên dễ dàng, tiện lợi hơn
12
trước rất nhiều. Việc thanh toán cũng được thực hiện ngay trên trang web.
Điều này sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức mà lại tự tham khảo được
nhiều thông tin để lựa chọn.
So với các loại hình mua sắm thông thường khác: nhanh chóng , dễ dàng ,

luôn dao động theo hướng đó bằng cách bán đấu giá giảm dần và khuyến khích
những danh sách giá cố định. Trên thực tế, năm nay là lần đầu tiên GMV của
việc kinh doanh giá cố định trội hơn là theo hình thức bán đấu giá. Vậy, ai có lợi
thế hơn về giá cố định? Trong trường hợp này, lợi thế lại phụ thuộc vào người
mua: Khách hàng của Amazon dường như khá giả hơn eBay và trả giá trung
bình cho các sản phẩm cao hơn eBay.
Thuế
Các công ty có trách nhiệm cho thuế kinh doanh của họ với bất kỳ sản phẩm
nào đưa ra bán trên Amazon. Họ có thể thêm chi phí này vào giá sản phẩm
nhưng làm điều này thực sự phức tạp. Trong dạng Sell-Your-Item, eBay cung
cấp một hệ thống máy tự động cho phép người bán thu nhận thuế thích hợp thêm
vào giá bán của họ. Đây là một lợi thế lớn bởi vì nó chắc chắn rằng những thuế
không được tính toán sẽ không ăn vào lợi nhuận của người bán.
Giá trung bình
EBay, theo bản chất của nó rất có sức cạnh tranh và hấp dẫn người mua tìm
kiếm những sản phẩm với giá thấp nhất. Khách hàng của Amazon có xu hướng
chú trọng hơn đến chất lượng và tình trạng sản phẩm hơn là về giá cả, cái mà có
thể giải thích tại sao những công ty bán trên Amazon đưa ra mức giá trung bình
cao hơn eBay cho những sản phẩm tương tự. Đối với những người bán, lợi thế
rõ ràng với những khách hàng sãng sàng chi nhiều tiền hơn.
Phương thức thanh toán
14
Để chấp nhận phương thức thanh toán, những người bán trên Amazon
phải sử dụng phương thức thanh toán Amazon. Amazon lưu giữ số tiền thanh
toán vào tài khoản ngân hàng của người bán mỗi tháng hai lần mà không thêm
một khoản thu phí nào. Lợi ích này cho phép người bán không phải gửi hóa đơn
chuyển tiền hay những phiếu nhắc nhở thanh toán hoặc những sản phẩm chưa
thanh toán. Nếu Amazon không thể có được số tiền khách hàng trả thì những
người bán không giao dịch và mặt hàng đó vẫn nằm trong danh sách. Mặt khó
khăn là mặc dù những khách hàng của Amazon luôn có nhiều sự lựa chọn về

eBay và Amazon là cả hai đều là những “ông lớn” trong bán lẻ trực tuyến và cả
hai đều đóng vai trò quan trọng trong thương mại điện tử. Điều quan trọng nhớ
rằng nhiều gian hàng trực tuyến cực kỳ trung thành với một site và hiếm khi họ
cân nhắc đến một site thương mại điện tử nào khác. “Tại sao bạn lại chỉ chú
trọng đến một thị trường chứ? Bằng cách bán trên cả hai, bạn sẽ có hàng nghìn
con mắt để ý đến sản phẩm của bạn.” Lindhorst nói.
3. Ma trận Swot.
Công cụ được sử dụng để phân tích là ma trận Swot. Ma trận Swot giúp
công ty tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của mình cũng như cơ hội và thách thức mà
môi trường kinh doanh mang lại. Từ những phân tích này công ty có thể đưa ra
những chiến lược kinh doanh phù hợp giúp công ty cạnh tranh tốt với các đối
thủ và phát triển bền vững. Trong giai đoạn khủng hoảng hiện nay, phân tích
này càng đóng vai trò quan trọng.
Ma trận Swot trong giai đoạn khủng hoảng
16
II. Chiến lược cạnh tranh
1. Chiến lược trọng tâm hoá.
1.1. Tập trung cung cấp những mặt hàng thiết yếu tiêu dùng hàng ngày
Trước đây, các mặt hàng mà Amazon cung cấp chủ yếu là liên quan đến
các sản phẩm như máy nghe nhạc, sách, thiết bị điện tử thì ngày nay nhu cầu
mua sắm của khách hàng đa dạng hơn Amazon đã chuyển sang các mặt hàng
đáp ứng nhu cầu hàng ngày của con người đa dạng hơn. Amazon đặt mục tiêu
cung cấp hầu hết các sản phẩm mà khách hàng có nhu cầu giống như biểu tượng
logo cuẩ hang đã chứa đựng đầy tham vọng muốn cung cấp tất cả những sản
phẩm có trong bảng chữ cái. Sau năm đầu tiên thành công ngoài dự tính
Amazon mở rộng thêm các mặt hàng như là bán thực phẩm, quần áo thời trang,
đồ trang sức…Và người ta nói rằng đến với Amazon sẽ có tất cả những thứ ban
cần từ thượng vàng hạ cám. Con người ngày càng chịu nhiều áp lực về thời gian
17
hơn họ ít có thời gian đi mua sắm hơn. Mặt khác công nghệ mua sắm mới làm

phẩm đã mua. Điều này càng khẳng định lòng tin của khách hàng vào sản phẩm
của amazon. Dần dần Amazon đã lôi kéo những khách hàng vốn trung thành với
ebay (đối thủ truyền kiếp của Amazon) về phía mình. Hơn nữa, Amazon đã dành
được cả lợi thế trên cả những khía cạnh mà trước đây được xem như là lợi thế
của eBay.
2.2 Tốc độ cung ứng sản phẩm nhanh
Việc áp dụng thương mại điện tử đã làm cho việc giao dịch trên Amazon
được tiến hành một cách nhanh chóng và tiện lợi. Bezos đã nhận định rằng
thương mại điện tử chính là yếu tố sống còn của Amazon. Là công ty đầu tiên
tiến hành việc bán lẻ qua mạng Amazon đã biết tận dụng ưu thế của mình nhờ
việc ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin vào trong việc quản lí kho
hàng, mạng lưới phân phối rộng khắp đảm bảo sản phẩm đến với khách hàng
với thời gian nhanh nhất có thể. Thời gian cung ứng sản phẩm của Amazon đã
giảm từ 5, 6 ngày xuống còn 1 đến 2 ngày. Nhờ vậy mà lợi nhuận của họ ngày
càng tăng lên
III. Chiến lược chức năng.
1. Chiến lược e_ marketing
1.1 Khái niệm e_marketing
Chúng ta đã quen với khái niệm marketing và những công cụ phương tiện
marketing truyền thống. Có rất nhiều hình thức marketing cho sản phẩm của
doanh nghiệp từ so khai cho đến hiện đại như sử dụng biển quảng cáo , quảng
cáo trên báo chí, truyền hình, radio…. Mỗi phương thức đều có ưu nhược điểm
riêng và những đăc trưng lợi thế mà các loại hình quảng cáo khác không có
được. Thế giới càng văn minh hiện đại thì hình thức phương tiện marketing càng
phong phú và đa dạng. trong thời đại bùng nổ công nghệ như hiện nay thì một
19
phương thức marketing được xem là mang lại hiệu quả cao cho các doanh
nghiệp khi muốn bán sản phẩm của mình đó là E _ marketing. Vậy e_ marketing
là gi? Về bản chất, đây là hình thức áp dụng các công cụ của công nghệ thông
tin thay cho các công cụ thông thường để tiến hành các quá trình marketing. E_

Ví dụ như các nhà marketing trực tuyến cần phải biết sử dụng công cụ tìm kiếm
(Search Engines) để có thể tìm kiếm thông tin một cách nhanh nhất và hiệu quả
nhất trên Internet. Hoặc khi khách hàng tiến hành mua hàng tại một website,
người làm marketing trực tuyến phải biết cách xây dựng các giải pháp tiếp nhân
và tự động xử lý các đơn đặt hàng, cũng như tự động theo dõi quá trình bán hàng
cho đến khi người mua nhận được sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ đặt mua. Tất cả
đều không có sự ngắt quãng. Thực hiện được điều đó sẽ tiết kiệm được chi phí
và giữ được khách hàng tiếp tục quay lại mua hàng. Do vậy, các nhà marketing
trực tuyến cần phải có sự hiểu biết về công nghệ thông tin để thành công.
Vốn tri thức: Trí tưởng tượng, sự sáng tạo và khả năng kinh doanh là những
yếu tố quan trọng hơn cả vốn bằng tiền. Vì chúng ta đang ở trong thế kỷ 21 nơi
mà sự giàu có về tiền tệ đang dần được thay thế bằng những sáng kiến, sáng tạo
có ý nghĩa. Những tài sản vô hình như vốn tri thức hay các kiến thức chuyên
môn là nguồn tài sản vô giá mà người làm marketing cần phải có.
Khả năng xử lý thông tin nhanh: Thời gian mà một nhà marketing kiểm soát
được khách hàng của họ qua màn hình máy tính là 30 giây. Nó được bắt đầu
bằng việc lướt qua các kênh, kiểm tra và nhấn chuột. Tất cả những người mua là
các cá nhân hay các doanh nghiệp đều đang rất khắt khe và khó tính bởi vì đang
21
có một số lượng rất lớn các nhà cạnh tranh trên toàn cầu, tất cả đều đang cạnh
tranh rất khốc liệt. Do vậy, khả năng xử lý thông tin và đưa ra những giải quyết
kịp thời là yếu tố vô cùng quan trọng.
1.2.3. Những thách thức khi áp dụng E_marketing trên nền tảng thương mại
điện tử
Mặc dù mang lại những lợi ích kinh tế lớn, thương mại điện tử cũng đồng
thời tạo ra những thách thức mới đối với người làm marketing, đặc biệt trên thị
trường quốc tế.
Khó khăn trong xây dựng nhãn hiệu toàn cầu: Câu hỏi đặt ra đối với nhà
marketing quốc tế là nên xây dựng một nhãn hiệu toàn cầu hay xây dựng nhãn
hiệu khác nhau phù hợp với văn hoá từng địa phương? Nên xây dựng các trang

quảng cáo, tăng cường quan hệ với công chúng, xây dựng những cộng đồng trên
mạng để tạo những ấn tượng tốt cho thương hiệu.
Marketing điện tử khuyến khích người tiêu dùng tham gia tích cực vào phát triển
thương hiệu, đọc thông tin về sản phẩm, hướng dẫn cụ thể cách sử dụng. Hiệu
quả phát triển thương hiệu của những tập đoàn lớn như Fedex, Charles Schwab,
The New York Times, Nike, Levi Strauss, Harley Davidson đã chứng minh vai
trò của marketing điện tử trong chiến lược marketing thế kỷ 21.
Marketing trực tiếp: Nhiều nhà marketing đặt ra những mục tiêu cụ thể hơn
trong chiến lược marketing trên mạng là sử dụng Internet thực hiện marketing
trực tiếp. Internet tiết kiệm tối thiểu chi phí và đem lại hiệu quả lớn hơn nhiều so
với phương pháp gửi quảng cáo bằng thư truyền thống: không tem, không phong
bì, không tốn giấy và các chi phí khác. Trên cơ sở dữ liệu về người tiêu dùng,
23
nhà marketing có thể gửi hàng triệu e-mail bằng một lần nhấn chuột, hoặc có thể
sử dụng chương trình tự động gửi e-mail cho từng nhóm khách hàng hoặc từng
khách hàng những nội dung phù hợp với đặc điểm nhóm này.
Bán hàng trên mạng: Người tiêu dùng có thể tìm thấy mọi thứ mình cần trên
mạng từ chocolate đến ô-tô. Amazon.com từng có doanh số bán sách 32 triệu
USD trong năm đầu khai trương cửa hàng trên mạng.
Hỗ trợ tiêu dùng: Hỗ trợ tiêu dùng và khách hàng là một trong những ưu điểm
quan trọng của marketing điện tử mà nhiều công ty không chú ý đến. Hiện nay,
hỗ trợ tiêu dùng mới chỉ dừng lại ở dạng sơ khai dưới hình thức các câu hỏi
khách hàng thường hỏi (FAQs-Frequent Asked Questions). Những hình thức
khác doanh nghiệp có thể áp dụng là trả lời thắc mắc của khách hàng, email trả
lời tự động, thông tin cập nhật, diễn đàn người tiêu dùng, tán chuyện trên
mạng…
Điều tra thị trường: Internet mang lại hiệu quả cao trong nghiên cứu thị
trường, thông qua xây dựng hệ thống dữ liệu khách hàng cập nhật và đầy đủ.
Điều tra thị trường qua mạng tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp và thời gian
cho khách hàng. Đồng thời, độ tin cậy của điều tra cũng có thể được kiểm tra

Bezos. Các kho hàng của Amazon không hề giống với các kho hàng truyền
thống mà được tin học hoá cao độ. Các nhà kho của Amazon sử dụng công nghệ
cao đến nỗi chúng đòi hỏi rất nhiều dòng mã hoá để vận hành và phức tạp không
kém trang web của Amazon. Máy tính bắt đầu quy trình bằng cách gửi tín hiệu
thông qua mạng không dây tới cho công nhân để họ biết cần phải lấy thứ gì
xuống khỏi giá; sau đó họ đóng gói mọi thứ theo trình tự để gửi đi. Trong quá
trình gửi hàng, máy tính tạo ra vô số dòng dữ liệu từ những sản phẩm bị đóng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status