TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
--- --- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2004- 2008
Ñeà Taøi :
QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI - CON NUÔI
TRONG LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
GV HƯỚNG DẪN SV THỰC HIỆN
Th.s Đoàn Thị Phương Diệp Lê Thế Trung
MSSV: 5044146
3.2.1.3 Pháp luật về nuôi con nuôi dười thời Pháp thuộc (1858-1945).............25
3.2.2. Giai đoạn sau cách mạng tháng 8/1945 ......................................................32
3.2.2.1 Thời kỳ từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959...................................33
3.2.2.2 Thời kỳ từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp 1980...................................34
3.2.2.3 Thời kỳ từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992...................................36
3.2.2.4 Thời kỳ từ Hiến pháp 1992 đến nay ......................................................40
CHƯƠNG II
QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI- CON NUÔI KHÔNG CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI
I. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG
VIỆC GIẢI QUYẾT NUÔI CON NUÔI .................................................................. 42
II. XÁC LẬP QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI, CON NUÔI.......................................... 44
2.1 Điều kiện về nội dung..................................................................................... 44
2.1.1 Điều kiện liên quan đến người nuôi........................................................ 44
2.1.1.1 Đối với người nuôi là cá nhân độc thân...................................... 44
2.1.1.2 Đối với người nuôi là vợ chồng................................................... 47
2.1.2 Điều kiện liên quan đến người nuôi........................................................ 50
2.1.3 Mối quan hệ giữa người nuôi và người được nuôi.................................. 52
2.2 Điều kiện về hình thức.................................................................................... 53
2.2.1 Nộp hồ sơ............................................................................................... 53
2.2.2 Xem xét hồ sơ......................................................................................... 55
2.2.3 Đăng ký và giao nhận ............................................................................ 56
2.2.4 Trường hợp ngoại lệ .............................................................................. 56
2.3 Hiệu lực của việc nuôi con nuôi ...................................................................... 58
2.3.1 Quan hệ với gia đình của người nuôi ..................................................... 58
2.3.1.1 Quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi.................................................... 58
2.3.1.2 Quan hệ giữa người được nuôi và các thành viên khác trong
gia đình .................................................................................................. 60
2.3.1.3 Họ tên dân tộc của con nuôi ....................................................... 60
NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM ............................................................... 85
3.1 Điều kiện về nội dung...................................................................................... 85
3.1.1 Điều kiện liên quan đến người nuôi ........................................................ 85
3.1.2 Điều kiện liên quan đến người được nuôi ................................................ 86
3.2 Điều kiện về hình thức .................................................................................... 88
3.2.1 Đối với trường hợp xin đích danh............................................................ 88
3.2.2 Đối với trường hợp xin không đích danh................................................. 95
3.2.3 Đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới............ 97
IV. THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP .............................................................. 99
3.1 Tình hình giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
3.1.1 Những mặt tích cực................................................................................. 99
3.1.2 Những vướng mắc cần tháo gỡ.............................................................. 100
3.1.3 Sự cần thiết của việc quy định hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn ........... 102
3.2 Công tác giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi ở thành
phố Cần Thơ......................................................................................................... 103
3.2.1 Tình hình giải quyết cho người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam tại
Cần Thơ làm con nuôi (2004 – 5/2008)........................................................... 103
3.2.2 Một số kiến nghị, đề xuất liên quan đến công tác giải quyết cho người
nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam tại Cần Thơ làm con nuôi ......................... 105
KẾT LUẬN.............................................................................................................. 106 Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung
đỡ của cộng đồng xã hội. Và thực tế hiện nay có rất nhiều các cá nhân, tổ chức đứng ra
thực hiện việc ni dưỡng chăm sóc những đứa trẻ bất hạnh đó, khơng chỉ các cá nhân
tổ chức trong nước mà còn có một khối lượng khơng nhỏ các cá nhân tổ chức nước
ngồi đứng ra nhận trẻ làm con ni.
Việc ni con ni phải xuất phát từ mục đích quan trọng là vì lợi ích của
người được nhận làm con ni, nhằm mang lại cho đứa trẻ được nhận làm con ni
một mái ấm gia đình được u thương ni dưỡng chăm sóc và giáo dục. Bên cạnh đó
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 2 -
việc ni con ni cũng xuất phát từ nhu cầu tình cảm của người nhận ni, nhằm
thiết lập quan hệ tình cảm gắn bó giữa cha mẹ và con cái. Xuất phát từ ý nghĩa xã hội
và mục đích nhân đạo của việc ni con ni, mà bên cạnh khuyến khích nhận trẻ mồ
cơi, trẻ lang thang cơ nhỡ trẻ bị bỏ rơi bị tàn tật làm con ni. Nhà nước còn cho phép
người đã thành niên là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự
làm con ni hoặc được làm con ni của người già yếu cơ đơn, để cha mẹ ni con
ni nương tựa chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau và việc ni con ni đó là phù hợp với
đạo đức xã hội.
Ni con ni là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều
quốc gia và trong pháp luật quốc tế. Nhưng để hiểu và áp dụng đúng các quy định của
pháp luật về vấn đề này khơng phải là một vấn đề dễ dàng. Với hi vong chia sẽ những
khó khăn của những đứa trẻ bất hạnh đó, giúp mọi người có cái nhìn chính xác hơn về
chế định ni con ni cũng như góp phần xây dựng hồn thiện hơn hệ thống pháp
luật trong lĩnh vực này tơi chọn nghiên cứu đề tài: “Quan hệ cha mẹ ni con ni
trong pháp luật Việt Nam hiện hành”
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Như đã trình bày ở trên vấn đề quan hệ cha mẹ ni- con ni rất phức tạp bởi
nó liên quan đến rất nhiều vấn đề như những điều kiện liên quan đến người ni và
tắc cơ bản trong việc giải quyết ni con ni, điều kiện xác lập quan hệ cha mẹ ni-
con ni, quan hệ của con ni với gia đình cha mẹ ni, quan hệ cha me ni với gia
đình gốc, cũng như những quy định của luật về chấm dứt quan hệ cha mẹ ni con
ni.
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp chủ yếu là phân tích luật viết
thơng qua việc suy lý diễn dịch, quy nạp, tam đoạn luận và các thao tác khác tổng hợp,
so sánh, liệt kê… tác giả hi vọng sẽ mang đến cho mọi người một cái nhìn tồn diện
hơn, đầy đủ hơn về quan hệ cha mẹ ni con ni theo quy định của luật pháp hiện
hành. Do giới hạn về thời gian và nguồn tài liệu tham khảo cũng như vẫn đề nhận thức
của cá nhân chưa thật sâu sắc và đầy đủ nên chưa thể hồn tồn đáp ứng một cách
tuyệt đối đầy đủ các u cầu đặt ra rất mong sự đóng góp ý kiến của q thầy cơ và
các bạn!.
IV. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 chương:
- CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ CHA MẸ NI- CON NI
Nội dung của chương 1: Chỉ ra khái niệm ni con ni, phân loại con ni,
nêu lên bản chất của vấn đề ni con ni. Sơ lược q trình phát triển của chế định
ni con ni theo pháp luật thế giới và Việt Nam.
- CHƯƠNG 2: QUAN HỆ CHA MẸ NI CON NI TRONG NƯỚC
Nội dung của chương 2: tập trung giải quyết các vấn đề về mang tính quy định
của pháp luật như ngun tắc của việc ni con ni, điều kiện xác lập, hiệu lực của
việc ni con ni, và quy định về việc chấm dứt việc ni con ni.
- CHƯƠNG 3: QUAN HỆ CHA MẸ NI CON NI CĨ YẾU TỐ NƯỚC
NGỒI.
Nội dung của chương là việc khái qt các điều ước quốc tế về chế định ni
con ni giữa Việt Nam và các nước. Nêu lên những quy định của pháp luật Việt Nam
điều chỉnh quan hệ này.
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung
Nam với nhau hoặc giữa cơng dân Việt Nam với nhau mà căn cứ pháp lý làm phát sinh
thay đổi chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngồi hoặc tài sản liên quan đến quan hệ
đó tồn tại ở nước ngồi
Hiểu theo nghĩa rộng, ni con ni có yếu tố nước ngồi còn bao gồm việc ni con
ni giữa cơng dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngồi
21
Bình luận khoa học luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam, TS Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh,
2002 Trang 197
2
100 Câu hỏi về pháp luật ni con ni có yếu tố nước ngồi, TS Nguyễn Cơng Khanh, Nxb Tư pháp Hà Nội,
2004, Trang 9
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 5 -
Theo luật Hơn nhân và gia đình năm 2000 Điều 8 khoản 14 thì quan hệ ni
con ni có yếu tố nước ngồi bao gồm nhưng quan hệ sau:
+ Quan hệ ni con ni giữa người nước ngồi và trẻ em Việt Nam trên lãnh
thổ Việt Nam.
+ Quan hệ ni con ni giữa người người nước ngồi và trẻ em Việt Nam ở
nước ngồi.
+ Quan hệ ni con ni giữa cơng dân Việt Nam và trẻ em nước ngồi ở nước
ngồi.
+ Quan hệ ni con ni giữa cơng dân Việt Nam và trẻ em nước ngồi cư trú
trên lãnh thổ Việt Nam.
+ Quan hệ ni con ni giữa người nước ngồi với nhau phát sinh ở Việt
pháp luật Việt Nam là
hệ thống pháp luật duy nhất được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ này.
- Đối với quan hệ ni con ni có yếu tố nước ngồi: Theo pháp luật Việt
Nam thì xung đột pháp luật về điều kiện ni con ni được giải quyết theo ngun
tắc nước sở tại, luật quốc tịch và luật nơi cư trú cụ thể như sau:
+ Người nước ngồi xin nhận trẻ em Việt Nam (hoặc trẻ em thường trú tại Việt
Nam) làm con ni thì phải tn theo quy định của Luật hơn nhân và gia đình Việt
Nam hiện hành và quy định trong pháp luật của nước nơi mà người đó là cơng dân về
điều kiện ni con ni.
+ Cơng dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngồi thường trú tại Việt Nam làm
con ni phải tn theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước trẻ em
đó mang quốc tịch. Nếu là vợ chồng xin nhận con ni thì mỗi người đều phải tn
theo quy định này.
+ Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập mà các
bên trong quan hệ cha mẹ ni con ni chịu ảnh hưởng hay thuộc sự điều chỉnh của
điều ước quốc tế đó thì các bên tham gia quan hệ tn thủ các quy định trong điều ước
quốc tế đó.
1.2 Ý nghĩa
Ý nghĩa cơ bản nhất của việc ni con ni chính là đảm bảo cho người được
nhận làm con ni được trơng nom ni dưỡng, chăm sóc và giáo dục phù hợp với đạo
đức, với truyền thống văn hóa của dân tộc với bản chất xã hội mà nhân dân ta đang
xây dựng.
Hiện nay, có rất nhiều trẻ em khi sinh ra đã bị bố mẹ bỏ rơi, nhiều em bị dị tật
bẩm sinh hoặc vì hậu quả của chiến tranh để lại... Các em đã phải sớm bươn chải kiếm
sống khơng có một mơi trường giáo dục tốt, một mái ấm để các em phát triển tồn diện
về thể chất, tinh thần và còn có biết bao gia đình vì q nghèo nên khơng có đầy đủ
những điều kiện để chăm sóc và giáo dục các em. Nếu như các em đó được nhận làm
con ni, được hưởng sự chăm sóc và ni dưỡng tốt từ phía cha, mẹ ni thì sẽ bảo
đảm được sự phát triển tồn diện tránh đi vào con đường lầm lỡ. Vì vậy trong bất cứ
điều kiện và hồn cảnh nào thì việc ni con ni đều phải bảo đảm mục đích là làm
điều ước quốc tế về bảo vệ trẻ em và hiệp ước song phương trong lĩnh vực ni con
ni.
1.3 Phân loại con ni theo phong tục Việt Nam
* Có ba loại con ni: Con ni chính thức, con ni danh nghĩa và con ni
giả vờ.
Con ni chính thức: Có hai loại
- Con lập tự : Gia đình khơng có con trai, ni con anh em ruột hoặc con anh
em chú bác ruột. Có thể ni từ bé, hoặc lớn rồi mới ni, thậm chí có người đã thành
gia thất, có con rồi mới nhận làm con ni. Người con ni lập tự đó chịu trách nhiệm
săn sóc, ni dưỡng cha mẹ ni lúc tuổi già và hương khói tang tế sau khi mất, nên
khi được hưởng quyền thừa kế gia tài hơn cả những người con gái do chính cha mẹ
sinh ra, vì con gái là "con người ta", sau khi gả chồng lo cơ nghiệp nhà chồng. Con
ni lập tự được hưởng ruộng hương hoả nếu cha ni là tộc trưởng, được họ hàng
chấp nhận là cùng huyết thống nội thân. Nếu người con ni lập tự là con thứ của ơng
em thì con người con trưởng của ơng em vẫn phải gọi người con ni lập tự đó bằng
bác (đáng lẽ gọi là chú) . Khi cha mẹ ni chết, tang chế của vợ chồng người lập tự
cũng ba năm như cha mẹ đẻ. Trường hợp cha mẹ chết trước, phải xin phép cha mẹ
ni mới được về chịu tang, nhưng khơng được phép mặc áo khâu gấu, khăn ngang
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 8 -
khơng được để hai giải bằng nhau. Khi cha mẹ ni đã sinh con trai thì thơi quyền lập
tự nhưng vẫn là con ni được hưởng quyền thừa kế như các người con khác.
- Con ni hạ phóng tử có những trường hợp sau:
+ Con hoang thai ni từ lúc mới sinh: Có nhà hiếm hoi dặn từ trước, khi sinh
nở thì đón về, sản phụ được bồi dưỡng một ít tiền và sau đó khơng được quyền nhận
hay thăm con
+ Con mồ cơi hay con nhà nghèo khó, đem về ni là phúc, mặc dầu khơng
-Trang 9 -
- Anh em kết nghĩa với nhau thân tình, nhận bố mẹ của anh em cũng như bố mẹ
của mình và ngược lại bố mẹ cũng nhận người anh em kết nghĩa với con mình như con
cái trong nhà.
Trong những trường hợp đó, người Việt thì gọi chung là con ni, bố mẹ ni
nhưng âm Hán gọi là "nghĩa phụ nghĩa tử" khác với "nghĩa phụ tử", tang chế khơng
quy định cho trường hợp "dưỡng phụ dưỡng tử", nếu có gả con cho nhau thì càng tốt
đẹp “thân thượng gia thân”.
Con ni giả vờ:
Vì con khó ni, sợ ma ta quấy nhiễu người mẹ đem con bỏ đường bỏ chợ,
nhưng dặn trước người trực sẵn đưa về ni, sau vài giờ hoặc vài ngày đến chuộc nhận
làm con ni. Đây là cách đánh tráo con đẻ thành con ni, con ni là con đẻ để lừa
ma. Trường hợp này đành rằng phải thơng cảm y ước trước, nhưng cũng phải chọn
người mắn đẻ, con khơng sài đẹn, ni súc vật mát tay…
Ngồi ba loại con ni dương trần nói trên, còn có tục "bán khốn" con cho
thần linh như bán con cho Đức Thánh Trần, Đức thánh Mẫu... Đã là con thần thánh, có
tấu, có sớ, có bùa, có dấu ấn hẳn hỏi thì ma quỷ khơng dám bén mảng đến đã đành mà
bố mẹ ni con cũng phải đặc biệt chú ý: Khơng cho con ăn uống những thứ uế tạp,
phải mặc đồ sạch sẽ, khơng được vá chằng vá đụp, khơng để con bò lê la, khơng được
chửi rủa xỉ vả con, sợ ngài gọi về trời. Con chỉ được gọi cha đẻ bằng thầy, bằng cậu. . .
Gọi mẹ bằng mợ, bằng chị, bằng u, bằng đẻ. Hai từ "Cha, mẹ" chỉ được tơn xưng với
thần thánh. Bán cho Đức Thánh Trần chỉ được xưng họ Trần khi khấn vái, bán cho
phật phải xưng Mầu, nhưng bán cho đức thánh mẫu là Liễu Hạnh khơng phải đổi họ.
Sở dĩ gọi là "bán khốn" vì chỉ bán thời gian còn nhỏ để dễ ni. Đến tuổi 13 tuổi tức
hết tuổi đồng ấu, đến tuổi vào sổ làng xã thì làm lễ xin chuộc về
Chính thể mới hiện nay cơng nhận con ni cũng có quyền lợi và nghĩa vụ
ngang con đẻ, đó là con ni thực sự được chính quyền địa phương cơng nhận trên cơ
sở thoả thuận giữa người ni và người đẻ hoặc giữa người ni và thân nhân đỡ đầu
anh em…Xuất phát từ tấm lòng nhân đạo, họ xin những đứa trẻ này về làm con ni.
- Ngun nhân thứ ba, Có những người, vì một hồn cảnh nào đó, họ khơng thể
hoặc khơng có ý định xây dựng gia đình, nay muốn xin con ni để cuộc sống của họ
sau này đỡ cơ quạnh.
* Ngồi những ngun nhân của việc cho và nhận con ni kể trên thực tiễn
còn thấy có hai ngun nhân của việc cho và nhận con ni đó là:
- Việc cho và xin con ni nhằm mục đích để hợp pháp hóa việc chuyển hộ
khẩu từ nơng thơn về thành phố. Trường hợp này tuy khơng nhiều nhưng cũng đã xảy
ra và việc cho và xin con ni này thường diễn ra giữa những người có quan hệ họ
hàng với nhau.
4
- Hai là việc cho và xin con ni nhằm mục đích để đứa trẻ xuất cảnh hợp pháp
ra nước ngồi. Trường hợp này cũng thường xun diễn ra giữa những người có quan
hệ họ hàng với nhau.
II. BẢN CHẤT CỦA VẤN ĐỀ NI CON NI
2.1 Bản chất xã hội –lịch sử
Ni con ni là một hiện tượng mang tính xã hội lịch sử. Nó tồn tại phát triển
trong những điều kiện, hồn cảnh lịch sử nhất định. Nếu trong thời kỳ phong kiến việc
phát sinh vấn đề ni con ni là do sự bóc lột nặng nề của giai cấp địa chủ phong
4
Ngun nhân này chắc khơng còn tồn tại vì từ khi có Luật cư trú được Quốc hội khóa XI thơng qua ngày
29/11/2006 và có hiệu lực tư ngày 01/7/2007 vấn đề hộ khẩu tại các thành phố lớn đã trở nên thơng thống hơn
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 11 -
kiến làm cho đại đa số nhân dân đã bần cùng lại càng cực khổ hơn nữa họ phải bán
bản chất là là cấu thành sự kiện pháp lý phức hợp giản đơn
5
. Sau đây chúng ta sẽ đi
5
Sự kiện pháp lý phức hợp giản đơn còn gọi là phức hợp “tự do” là tập hợp những sự kiện mà giữa chúng có
mối liên hệ linh hoạt. Các sự kiện cấu thành phức hợp giản đơn có thể phát sinh ở các thời điểm khác nhau miễn
là chúng phải đầy đủ và liên kết lại ở thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp
luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr. 450
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 12 -
sâu vào xem xét các sự kiện pháp lý cấu thành nên bản chất pháp lý của việc ni con
ni, bao gồm sự thể hiện ý chí của người nhận ni con ni, của cha mẹ đẻ, người
giám hộ của người con ni, của bản thân người con ni và sự cơng nhận của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
* Sự thể hiện ý chí của người nhận ni con ni:
Người nhận ni con ni có thể nhận ni con ni với nhiều lý do khác nhau
nhưng trước hết là từ nhu cầu của người ni muốn ni dưỡng một đứa trẻ nhằm thiết
lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên. Nhu cầu đó bị chi phối trước tiên bởi yếu tố
tình cảm, xuất phát từ ý chí và sự chủ động của người nhận ni con ni. Người ni
con ni muốn thơng qua việc nhận ni một đứa trẻ để thỏa mãn nhu cầu nhất định
của bản thân và của gia đình. Bản thân người nhận ni con ni mới nhận thức được
đầy đủ và hiểu rõ mong muốn của mình trong việc nhận ni con ni. Nhu cầu của
người ni là lý do chủ yếu dẫn đến việc nhận ni con ni. Người nhận ni con
ni thường có suy nghĩ kỹ càng trước khi quyết định nhận ni con ni. Việc có
nhận ni con ni hay khơng là do chính bản thân người ni quyết định trên cở sở
hồn tồn tự nguyện, chủ động và hiểu biết đầy đủ về hậu quả pháp lý của nó. Song sự
đưa đơn bất cứ lúc nào mà họ muốn. Hành vi đó của người nhận ni con ni chỉ
phát sinh hậu quả pháp lý khi người nhận ni phù hợp, được cha mẹ đẻ hoặc người
giám hộ đồng ý và được cơ quan có thẩm quyền cơng nhận. Như vậy có thể nói sự thể
hiện ý chí của người nhận ni con ni là hành vi pháp lý đơn phương, nó chỉ có hiệu
lực khi các chủ thể liên quan tiếp nhận.
* Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được cho
làm con ni
- Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ: Khoản 1 Điều 71 Luật Hơn nhân và Gia đình
quy định: “Việc nhận người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành
vi dân sự làm con ni phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ đẻ của người
đó…”. Việc cho con mình làm con ni người khác là việc làm bất đắc dĩ trong những
điều kiện và hồn cảnh nhất định. Do đó, cha mẹ đẻ ln cân nhắc, suy nghĩ kỹ trước
khi quyết định cho con mình làm con ni với mong muốn đứa trẻ sẽ có mơi trường
điều kiện sống tốt hơn, khi bản thân họ khơng có điều kiện ni dưỡng chăm sóc cho
trẻ. Việc cho con làm con ni phải xuất phát từ sự tự nguyện thực sự
6
của cha mẹ đẻ
trên cơ sở lợi ích của trẻ. Mọi sự đồng ý cho con làm con ni vì mục đích trục lợi đều
khơng phù hợp với bản chất của việc ni con ni và khơng phải tự nguyện thực sự.
Ngược lại, mọi sự tác động, dụ dỗ, lừa dối, cưỡng ép… để có được sự đồng ý của cha
mẹ đẻ trong việc cho con mình làm con ni cũng khơng hợp pháp về ngun tắc cũng
khơng có giá trị pháp lý. Sự đồng ý cho con mình làm con ni người khác phải xuất
phát từ tự nguyện và ý chí độc lập của cha mẹ đẻ. Sự đồng ý đó phải được thể hiện
một cách khách quan bằng văn bản và phải được xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp cơ
sở nơi cư trú của cha mẹ đẻ.
Sự đồng ý của cha mẹ đứa trẻ về việc cho làm con ni cần phân biệt một số
trường hợp cụ thể sau:
6
Sự tự nguyện thực sự là sự tự nguyện được hình thành trên cơ sở nhận thức được đầy đủ ý nghĩa và hậu quả
ni hoặc cha mẹ đẻ đó mất năng lực hành vi dân sự
7
. Giấy thỏa thuận đồng ý cho trẻ
em làm con ni của người giám hộ phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cơ sở nơi
cư trú của người giám hộ.
Qua những quy định trên cho thấy về ngun tắc, ý chí của người giám hộ về
việc cho đứa trẻ được giám hộ làm con ni phải xuất phát trên ý chí của cha mẹ đẻ đã
thể hiện từ trước. Nếu cha mẹ đẻ khơng có khả năng thể hiện ý chí của mình thì việc
cho làm con ni phải do chính họ quyết định.
Từ những phân tích ở trên cho thấy sự thể hiện ý chí của người cho con ni là
hành vi pháp lý đơn phương, thể hiện ý chí độc lập của một bên chủ thể (bên cho con
ni). Hành vi pháp lý đơn phương đó có thể do một chủ thể thực hiện (cha đẻ hoặc
mẹ đẻ của đứa trẻ khi một bên chết trước hoặc mất năng lực hành vi dân sự…) nhưng
7
Điển a khoản 3 Điều 44 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 15 -
cũng có thể do hai chủ thể thực hiện (cha mẹ đẻ cùng thỏa thuận cho con làm con
ni). Hành vi pháp lý đơn phương này chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có sự tiếp
nhận của chủ thể phía bên kia là người nhận ni con ni và được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cơng nhận.
* Sự thể hiện ý chí của người được nhận làm con ni:
Một quyền cơ bản của trẻ em là quyền được tự do bày tỏ quan niệm của mình
về “những vấn đề có tác động đến trẻ em, nhưng quan điểm của trẻ em được coi trọng
một cách thích ứng với độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ em”. Pháp luật quy định sự
bày tỏ ý chí đồng ý làm con ni của trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên là điều kiện bắt buộc
-Trang 16 -
Vì vậy có thể nói dưới góc độ sự kiện pháp lý, việc ni con ni có bản chất là sự cấu
thành sự kiện hay sự kiện pháp lý phức hợp đơn giản. Xác định rõ bản chất pháp lý
của việc ni con ni với tư cách là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật
là cơ sở để xây dựng những quy phạm pháp luật phù hợp chính xác điều chỉnh quan hệ
ni con ni
III. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NI CON NI
3.1 Lịch sử thế giới:
Chế định pháp luật về ni con ni là một chế định pháp luật của mỗi quốc gia
và luật pháp quốc tế. Chế định về ni con ni được xây dựng trên ngun tắc về
quyền trẻ em do đó lịch sử phát triển của chế định ni ln gắn liền với q trình phát
triển về quyền trẻ em.
* Đầu tiên phải kể đến đó là Tun ngơn GiơNeVơ năm 1924 là văn kiện đầu
tiên về quyền trẻ em do hiệp hội quốc tế các quỹ hỗ trợ trẻ em soạn thảo . Tun ngơn
kêu gọi “Tất cả đàn ơng và phụ nữ của mọi dân tộc có trách nhiệm tạo cho trẻ những
gì tốt đẹp nhất. . . vượt trên sự quan tâm về chủng tộc quốc tịch, giống nòi. ” Mặc dù
chưa khẳng định thành hệ thống các quyền của trẻ em nhưng tun ngơn đã đưa ra
những khuyến nghị cụ thể về việc chăm sóc và ni dạy trẻ, giành sự quan tâm đặc
biệt đối với các trường hợp trẻ em đói, trẻ em ốm đau, trẻ lạc hậu, trẻ phạm tội, trẻ mồ
cơi và lang thang theo ngun tắc: “Phải trao cho trẻ những phương tiện tiên quyết để
phát triển một cách bình thường cả về thể chất và tinh thần”. Ý nghĩa quan trọng nhất
của tun ngơn là đã làm cho quyền trẻ em thành một khái niệm được khẳng định và
thừa nhận trong cộng đồng quốc tế.
* Tun ngơn của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959 là
sự tái khẳng định và phát triển tinh thần cơ bản “Lồi người phải dành cho trẻ những
gì tốt đẹp nhất mà mình có” . trong lời nói đầu của tun ngơn 1959 đã khẳng định tư
tưởng quan trọng làm nền tảng cho sự phát triển sau này của tồn bộ chế định pháp lý
quan trọng về quyền trẻ em: “Trẻ em do chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực cần
có sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, bao gồm sự bảo vệ pháp lý thích hợp, trước cũng
khơng phù hợp để chăm sóc con. (Điều 4)
- Lợi ích tốt nhất của đứa trẻ đặc biệt là tình thương u, quyền được an tồn và
tiếp tục chăm sóc là điều quan trọng phải tính đến trong mọi trường hợp cho nhận con
ni. (Điều 5)
- Việc cho làm con ni ở một nước khác chỉ được coi là một biện pháp thay
thế để đảm bảo cho đứa trẻ có gia đình trong trường hợp đứa trẻ khơng được nhận ni
hay chăm sóc thoả đáng trong nước (Điều 17)
* Tại kỳ họp thứ XXII Hội nghị La Hay (từ 10-29/5/1993) các đại biểu của 66
nước trong đó có Việt Nam (Việt Nam tham gia với tư cách là khách mời của nước
chủ nhà Hà Lan) đã thống nhất thơng qua văn kiện cuối cùng về nội dung Cơng ước
La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực ni con ni. Cơng ước này có
hiệu lực từ ngày 01/5/1995
Mục đích của Cơng ước nhằm định ra những đảm bảo về việc ni con ni
giữa các nước vì lợi ích tốt nhất của trẻ và tơn trọng các quyền cơ bản của trẻ em được
pháp luật quốc tế cơng nhận; thiết lập hệ thống hợp tác giữa các nước ký kết những
bảo đảm trên được tơn trọng và ngăn ngừa việc bắt cóc, bn bán trẻ em, đảm bảo sự
cơng nhận tại các nước ký kết việc ni con ni được thể hiện phù hợp với cơng ước
(Điều 1).
Đề Tài: Quan hệ cha mẹ nuôi -con nuôi trong Luật Việt Nam hiện hành
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 18 -
3.2 Lịch sử Việt Nam
3.2.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8/1945
3.2.1.1 Pháp luật về ni con ni trong triều đại nhà Lê (1428 – 1788)
* Vài nét về pháp luật nhà Lê:
Năm 1428 Lê Lợi lên ngơi Vua sau khi chiến thắng qn Minh, sáng lập triều
Lê, một triều đại kéo dài 360 năm và đã ghi những trang sử rực rỡ về cải cách xã hội
GVHD: Th. S Đoàn Thò Phương Diệp SVTH: Lê Thế Trung -Trang 19 -
Có khi người ta ni con ni nhằm mục đích lợi lộc, ví dụ để làm việc khơng
phải trả tiền cơng, hoặc chủ nợ nhận ni con ni của người có nghĩa vụ để lấy cơng
trừ vào lãi số tiền cho mượn. Hoặc ni con ni vì mê tín dị đoan. Một gia đình khá
giả nhưng hay bị tai họa người ta thường ni đứa trẻ của một gia đình đơng con mà
người ta cho rằng tuổi tác của đứa trẻ hợp với cung số của gia chủ để đứa trẻ đó gánh
bớt tai họa và mang lại may mắn cho gia chủ.
Tự chung lại, có thể phân loại việc ni con ni theo mục đích của việc ni
con ni thành 2 loại cơ bản:
+ Ni con ni để nối dõi tơng đường (lập tự)
+ Ni con ni thơng thường.
Việc phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều chỉnh bằng pháp
luật đối với việc ni con ni, bởi vì việc ni con ni để nối dõi tơng đường song
song với việc lập tự, người con ni phải có nghĩa vụ đối với cha mẹ ni và được kế
thừa tài sản của cha mẹ ni khác với sự ni dưỡng thơng thường. Việc ni con ni
là sự kiện pháp lý làm phát sinh mối quan hệ nhiều mặt giữa người nhận ni và người
được ni, có liên quan khơng ít đến trật tự xã hội và lễ giáo theo quan điểm Nho giáo
vì vậy pháp luật Nhà Lê quy định rất rõ ràng đối với mỗi loại con ni khác nhau tùy
theo vị trí của người con ni trong gia đình cha mẹ đẻ cũng như cha mẹ ni.
* Về hình thức của việc nhận con ni
Việc nhận con ni bắt buộc lập thành văn bằng mới được cơng nhận hợp lệ.
Văn bằng ở đây ghi nhận sự thỏa thuận về việc cho và nhận con ni giữa cha mẹ đẻ
và cha mẹ đứng ni có thị thực của phương hào hay bộ lại tại làng xã người đứng
ni. Văn bằng được gọi là văn khế hay “dưỡng văn tự” đối với con ni thơng
thường và lập tự đối với con nối dõi tơng đường. Trong văn khế, tùy thuộc vào ý chí
của cha mẹ ni mà có thể ghi rõ là sau này có cho con ni điền sản hay khơng. Tên
của người con ni phải được ghi vào sổ hộ tịch theo làng hay giáp của người cha
trong gia đình Việt Nam, con trai trưởng phải có trách nhiệm cúng giỗ tế tự gia tiên
dòng họ mình.
* Hậu quả pháp lý của việc ni con ni:
Việc nhận ni con ni mang lại những hậu quả pháp lý nhất định. Sau khi
khế ước về ni con ni được ký kết giữ người đứng ni với cha mẹ đẻ và tên của
người con ni đã ghi vào sổ hộ tịch của người cha ni, thì phát sinh các nghĩa vụ và
quyền lợi giữa cha mẹ ni và con ni.
Pháp luật Nhà Lê khơng có điều nào quy định riêng biệt về việc con ni có
nghĩa vụ như con đẻ . Song việc phân tích các điều luật về ni con ni trong Quốc
Triều Hình Luật và Hồng Đức Thiện Chính Thư cho thấy rằng pháp luật Nhà Lê quy
định người con ni có nghĩa vụ với cha mẹ ni như con đẻ
10
. Việc con ni có
nghĩa vụ đối với cha mẹ ni như con đẻ cũng được xác nhận trong đoạn 110 Hồng
Đức Thiện Chính Thư: “Kẻ làm con ni nhà nào, sau khi được ni nấng, đơi bên
đều khơng có sự ân hận, tự coi mình như con đẻ, khơng được trái đạo tự tiện bỏ đi…”
- Nghĩa vụ của cha mẹ ni đối với người con ni: Phải ni dưỡng giáo dục
chu đáo ân cần. Đoạn 159, 160 Hồng Đức Thiện Chính Thư viết: “…làm cha mẹ phải
xử mình để tề gia, khiến cho trong nhà đều được nhờ cậy. Vậy phải kính cẩn, trơng lên
để thờ tổ tơn, cúi xuống để ni vợ con, gia đạo được chấn hưng để làm cha ni con
nối dõi . . phải cấp dưỡng cơm áo khơng nên vì đứa con buổi sớm dỗi khơng ăn, mà
cha mẹ giận dỗi đổ bỏ đi…” . Nếu cha mẹ làm tròn nghĩa vụ sẽ được thưởng, bằng
khơng làm tròn nghĩa vụ, “làm cha mẹ có con mà khơng dạy thì là lỗi ở cha. Con làm
9
Đoạn 270 Hồng Đức Thiện Chính Thư con ni phải từ 7 tuổi trở xuống, 3 ti trở lên và đã ghi tên vào sổ hộ
tịch của làng hay giáp của cha ni thì được coi là ở với cha mẹ từ khi con thơ ấu
10
Giáo sư Vũ Văn Mẫn trong Cổ Luật Việt Nam và Tư pháp Sử diễn giảng đã viết: “Đoạn 270 Hồng Đức Thiện
Chính Thư cho ta biết rõ ở với cha mẹ tử khi thơ ấu thì được coi như con đẻ vì đã phụng dưỡng ma chay cho cha