TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA CÔN TRÙNG,
NHỆN THIÊN ĐỊCH TRÊN HAI MÔ HÌNH CANH TÁC
LÚA ĐỘC CANH VÀ LUÂN CANH TẠI CHÂU PHÚ, AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: Ths. PHẠM HỮU PHƯƠNG
BAN GIAM HIỆU KHOA NN-TNTN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Ths. Cao Văn Thích Ths. Phạm Hữu Phương
NĂM: 2011LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các phòng ban Trường Đại học An Giang,
Ban Chủ nhiệm khoa NN-TNTN, cùng các thầy cô Bộ môn KHCT – CS2 đã tạo điều kiện
thuận lợi giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Cúc đã giúp tôi
trong việc giám định và phân loại côn trùng. Và Tiến sĩ Dương Ngọc Thành đã hướng dẫn
tôi về phương pháp thống kê và xử lý số liệu.
Chân thành cảm ơn Ths. Trương Thành Tâm, em Nguyễn Quốc Trinh, em Nguyễn
Bình Mỹ (KTV xã Mỹ Phú), anh Nguyễn Văn Tuấn (KTV xã Bình Thủy), anh Nguyễn
Phước Nên (nông dân xã Bình Thủy) đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài.
i
TÓM LƯỢC
độc canh và luân canh, không ghi nhận có sự khác biệt về năng suất giữa ruộng
phun thuốc ít và phun thuốc nhiều, nhưng năng suất ruộng lúa luân canh đều cao
hơn rõ nét so với ruộng lúa độc canh ở cả 2 nhóm ruộng phun thuốc ít và phun
thuốc nhiều.
ii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Cảm tạ i
Tóm lược ii
Mục lục iii
Danh sách bảng vii
Danh sách hình ix
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt x
Chương 1. Mở đầu 1
I. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 1
1. Mục tiêu 1
2. Nội dung 1
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1. Đối tượng 2
2. Phạm vi nghiên cứu 2
III. Cơ sở lý luận và phạm vi nghiên cứu 2
1. Cơ sở lý luận 2
1.1 Nguồn gốc và tình hình sản xuất lúa 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Tình hình sản xuất 2
1.2 Sự đa dạng về côn trùng và nhện trên ruộng lúa 2
1.2.1 Sự đa dạng về côn trùng và nhện gây hại trên ruộng lúa 2
1.2.2 Sự đa dạng về côn trùng và nhện thiên địch trên ruộng lúa 3
2.2.3 Phương pháp điều tra nông dân 18
2.2.4 Phương pháp điều tra đồng ruộng 19
2.2.5 Phương pháp thu mẫu 19
2.2.6 Phương pháp định danh 20
2.2.7 Xử lý thống kê số liệu 20
Chương 2. Kết quả và thảo luận 21
I. Điều tra nông dân 21
1. Đặc điểm nông dân trồng lúa huyện Châu Phú, tỉnh An Giang 21
2. Kỹ thuật canh tác lúa 22
2.1 Loại giống lúa 22
2.2 Nguồn gốc và xử lý giống trước khi sạ 22
2.3 Lượng giống gieo sạ và phương pháp gieo sạ 23
2.4 Làm đất và vệ sinh đồng ruộng 23
2.5 Bón phân 23
3. Nhận định chung của nông dân 25
3.1 Ảnh hưởng của mật độ sạ 25
3.2 Nhận định của nông dân về việc bón nhiều phân N 25
iv
3.3 Tình hình dịch hại 26
4. Tình hình sử dụng thuốc BVTV 26
4.1 loại thuốc BVTV được nông dân sử dụng 26
4.2 Phun thuốc BVTV 28
4.3 Thời điểm phun và chọn thuốc BVTV để phun 29
5. Sự hiểu biết của nông dân về dịch hại và thiên địch 30
6. Đánh giá nông dân 31
7. Thảo luận chung 31
II. Điều tra trực tiếp ngoài đồng 33
1. Tình hình chung trên hai mô hình độc canh và luân canh 33
2. Tình hình thiên địch trên ruộng lúa vụ Đông xuân 2010 39
địch trên ruộng lúa
7. Năng suất lúa vụ Đông xuân 2010 trên các nhóm ruộng khảo sát 56
Chương 3. Kết luận và đề nghị 58
I. Kết luận 58
II. Đề nghị 58
Tài liệu tham khảo 59
Phụ chương
DANH SÁCH BẢNGBảng Tựa bảng Trang
1 Các loại thuốc được sử dụng cho bố trí thí nghiệm 19
2 Thông tin chung về đặc điểm nông dân vùng điều tra 21
3 Xử lý giống và nguồn gốc giống 22
4 Lượng giống gieo sạ (kg/1000m
2
) và phương pháp sạ 23
5 Lượng phân sử dụng trên vụ (kg/ha) 24
6 Tình hình dịch hại và ảnh hưởng của dịch hại đến phần trăm năng
suất theo ghi nhận của nông dân
26
7 Các loại thuốc trừ dịch hại nông dân sử dụng trong 1 vụ lúa 27
8 Số lần phun thuốc trừ sâu-bệnh và năng suất lúa (T/ha) 29
9 Thời điểm phun thuốc trừ sâu và lý do chọn các loại thuốc để phun 29
10 Sự hiểu biết của nông dân về thiên địch 30
11 Đánh giá về sự hiểu biết và kinh nghiệm của nông dân đối với người
điều tra
31
12
52
23 Mật số rầy nâu và sâu cuốn lá nhỏ trên ruộng lúa vụ Đông xuân 2010 53
24 Mật số rầy nâu trên mô hình độc canh và luân canh vụ Đông xuân
2010
53
25 Mật số sâu cuốn lá nhỏ trên mô hình độc canh và luân canh vụ Đông
xuân 2010
54
26 Chỉ số đa dạng (H) và đồng đều (Eh) của thiên địch trên ruộng lúa vụ
Đông xuân 2010 trên mô hình độc canh và luân canh
56
27 Năng suất lúa (T/ha) trên mô hình độc canh và luân canh 57
DANH SÁCH HÌNH
Hình Tựa hình Trang
1 Lượng phân sử dụng (kg/ha) vụ Đông xuân 25
2
Tỷ lệ nhóm côn trùng hiện diện trên các ruộng khảo sát ở mô
hình độc canh
38
3
Tỷ lệ nhóm côn trùng hiện diện trên các ruộng khảo sát ở mô
hình luân canh
39
4
Số loài côn trùng và nhện có ích trên ruộng lúa vụ Đông xuân
2010 ở mô hình độc canh và luân canh
41
5 Các loài ong thuộc bộ Hymenoptera 42
Độc canh ĐC
Luân canh LC
Năng suất tấn trên hecta T/ha
Nông dân ND
x
Chương 1. MỞ ĐẦU
Thời gian qua việc sản xuất lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng còn
biểu hiện sự thiếu ổn định và bền vững. Sự xuất hiện nhiều loại dịch hại với mức
bộc phát, lan truyền ngày càng cao và liên tục đã làm suy giảm đáng kể năng suất
và sản lượng lúa của toàn vùng, tình hình này đang đặt ra những vấn đề cần quan
tâm, nhất là việc bảo vệ thiên địch, sử dụng giống và bố trí mùa vụ canh tác phù
hợp trong sản xuất lúa ở ĐBSCL hiện nay.
Canh tác 3 vụ lúa hiện nay ở An Giang có thể nói là liên tục và không còn
ranh giới giữa Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông (vụ 3) nghĩa là không có khoảng
thời gian trống cho đất nghỉ nếu xét trên địa bàn một cánh đồng trên một xã.Ví dụ
ở xã Mỹ Phú huyện Châu Phú theo niên giám thống kê năm 2007 cho thấy diện
tích sản xuất các vụ như sau: Đông xuân 2.863 ha, Hè thu 2.861 ha, Thu đông
1.424 ha. Điều này có nghĩa là sâu bệnh luôn có cây ký chủ để hoàn thành nhiều
vòng đời trong một năm, áp lực của các loài sâu bệnh gây hại gia tăng và khó
khăn trong việc cắt đứt nguồn sâu bệnh nên có khả năng bộc phát cục bộ thành
dịch, từ đó làm tăng chi phí phân bón, thuốc trừ sâu, giảm năng suất và chất lượng
lúa gạo. Đặc biệt, đối với rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và đạo ôn là những
đối tượng dịch hại quan trọng đối với cây lúa.
Theo xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững và an toàn sinh thái, biện
pháp bảo tồn, phát huy mật số và sự phong phú của các loài thiên địch tạo nên một
sự cân bằng sinh thái trong tự nhiên là một việc làm hết sức cấp thiết và quan
Côn trùng và nhện thiên địch trên ruộng lúa.
2.Phạm vi
Thí nghiệm được thực hiện tại xã Mỹ Phú và xã Bình Thủy thuộc huyện
Châu Phú, tỉnh An Giang.
III. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.Cơ sở lý luận
1.1 Nguồn gốc và tình hình sản xuất
1.1.1 Nguồn gốc
Tuy có nhiều ý kiến chưa thống nhẩt, nhưng căn cứ vào các tài liệu lịch sử,
di tích khảo cổ, đặc điểm sinh thái học của cây lúa trồng và sự hiện diện rộng rãi
của các loài lúa hoang dại trong khu vực, nhiều người đồng ý rằng nguồn ngốc
cây lúa là ở vùng Đông Nam Á, rồi từ đó lan dần đi các nơi.Thêm vào đó, sự kiện
thực tế là cây lúa và nghề trông lúa đã có từ rất lâu ở vùng này, lịch sử và đời sống
của các dân tộc Đông Nam Á lại gắn liền với lúa gạo đã minh chứng nguồn gốc
của lúa trồng (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.1.2 Tình hình sản xuất
Diện tích trồng lúa tập trung ở Châu Á khoảng 90%. Các nước có diện tích
lúa lớn nhất theo thứ tự phải kể là Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh,
Thái Land. Việt Nam đứng hàng thứ 6 trước Miến Điện. Mặc dù năng suất lúa ở
các nước Châu Á còn thấp nhưng do diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là
nguồn đóng góp rất quan trọng cho sản lượng lúa trên thế giới (trên 90%). Các
quốc gia dẫn đầu về sản lượng lúa theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Indoniesia,
Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar, tất cả đều nằm ở Châu Á. Như
vậy, có thể nói Châu Á là vựa lúa quan trọng nhất thế giới. Việt Nam có tổng sản
lượng lúa hàng năm đứng thứ 5 trên thế giới, nhưng lại là nước xuất khẩu gạo
đứng hàng thứ 2 thế giới hiện nay với sản lượng gạo xuất khẩu bình quân trên
dưới 4 triệu tấn/năm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.2 Sự đa dạng về côn trùng và nhện trên ruộng lúa
Bambaradeniya, C. N. B. (2000) ghi nhận có khoảng 280 loài côn trùng và
60 loài nhện hiện diện trên các ruộng lúa tại Sri Lanka. Theo Lã Phạm Lân et al.
sâu hại lúa.
Phạm Văn Lầm (2000) phát hiện 415 loài thiên địch trên lúa ở Việt Nam
thuộc 14 bộ, 58 họ, 241 giống của các lớp côn trùng, nhện, nấm và tuyến trùng.
Số lượng loài phát hiện thuộc các bộ cánh màng, cánh cứng, cánh nửa, nhện lớn
lần lượt là: 165 (39,7%), 95 (22,8%), 70 (16,8%) và 49 (11,8%). Có khoảng 85
loài hiện diện thường xuyên trong ruộng lúa, chiếm 20,4% trong tổng số loài đã
phát hiện được.
Theo Phạm Bình Quyền (2002), “thành phần thiên địch trong hệ sinh thái
ruộng lúa Đồng bằng sông Cửu Long khá phong phú, có 29 loài ký sinh, 186 loài
côn trùng và nhện ăn thịt đã được thu thập”
Về cấu trúc quần thể theo Lã Phạm Lân et al. (1995) nhóm sâu hại chiếm
20%, trong đó bộ Homoptera chiếm 50% chủ yếu là họ Delphacidae và
Cicadellidae; bộ Diptera chiếm 33-38%. Nhóm ăn mồi chiếm khoảng 20-30%,
trong đó chủ yếu là Aranea và Hemiptera. Nhóm kí sinh chiếm 2-14% và nhóm
khác chiếm 2-50% đóng vai trò chủ yếu là cầu dinh dưỡng. Diễn biến hệ sinh thái
trong ruộng lúa như sau: từ khi cây lúa được gieo cấy trên đồng ruộng các nhóm
chức năng thường xuyên hiện diện. Nhóm ăn mồi phát triển quần thể khá ổn định,
đạt đỉnh cao vào giai đoạn lúa đẻ nhánh trùng với đỉnh cao của nhóm khác (nhóm
cung cấp nguồn năng lượng cho chuổi thức ăn: cầu dinh dưỡng). Nhóm ký sinh
hiện diện tương đối thấp, có chiều biến thiên cùng chiều với sự xâm nhập của sâu
hại. Đỉnh cao chung thứ nhất các nhóm vào lúc 32-39NSS với côn trùng
Collembola chiếm đa số. Đỉnh cao thứ nhì lúc 74-81NSS với rầy nâu ở thế trội
chiếm khoảng 50% quần thể. Tính phong phú và đa dạng của quần thể ký sinh
thiên địch ở những nơi cư trú gần ruộng lúa thì cỏ dại là nơi cư trú chính của
nhiều loài ký sinh thiên địch (Lã Phạm Lân et al., 1995). Tổng số 273 loài nhện và
3
côn trùng đã được giám định và phân loại thuộc 12 bộ, 93 loài nhện và côn trùng.
Một số lớn các loài được tìm thấy phổ biến ở cỏ dại nhiều hơn là ruộng lúa. Ở
những bờ cỏ quanh ruộng lúa là nơi cư trú thường xuyên của hai loài dế đen
một ký chủ, sau khi phát triển đầy đủ, ấu trùng chui ra ngoài cơ thể ký chủ, kéo
kén hóa nhộng bên xác ký chủ (Kalshoven, L. G. E., 1981).
* Ong cự (Ichneumonidae)
Ong ký sinh họ Ichneumonidae thường có kích thước lớn, dài so với ong
kén nhỏ (Braconidae), màu sắc cũng tươi sáng. Râu dài, cong, có từ 16 đến trên
16 đốt. Con cái thường có ống đẻ trứng nhọn, dài, thường đẻ trứng xuyên vào
cành non. Đa số ký sinh trên ấu trùng bộ cánh vẩy, ruồi và cả côn trùng đục gỗ.
Một số loài ký sinh bậc hai trên các loại ong và ruồi ký sinh (Kalshoven, L. G. E.,
1981).
Sau khi ăn phá bên trong cơ thể ký chủ, ong chui ra ngoài để làm nhộng
trong một cái kén rất đặc biệt với vỏ kén có hoa văn và kén được treo gần vị trí
sâu ký sinh với sợi tơ (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2002).
4
* Ong ký sinh (Chalcididae)
Gồm nhiều loài có kích thước lớn (có thể dài đến 12mm). Trong họ này,
có giống Brachymeria hiện diện rất phổ biến, các loại ong thuộc giống
Brachymeria thường có hình dạng giống như các loại ong mật nhỏ, tuy nhiên gân
cánh thì hoàn toàn khác hẳn, gồm nhiều loài ký sinh bậc một và bậc hai trên ấu
trùng bộ cánh vẩy.
Loài Brachymeria euploeae là loài ký sinh phổ biến tại vùng Đông Nam
Châu Á, phổ ký chủ của loài này rất rộng. Tại Java, loài này được ghi nhận ký
sinh trên sâu họ Hesperidae (Hidari, Erionota), Noctuidae (Plusia, Pygaela),
Limacodidae (Parasa) và Pyralidae (Kalshoven, L. G. E., 1981).
* Ong ký sinh (Encyrtidae)
Nhóm này gồm rất nhiều loài khác nhau, giữ một vai trò rất quan trọng
trong công tác phòng trừ sinh học. Thành trùng có kích thước rất nhỏ, râu đầu
thường gấp khúc rất rõ ràng. Rất nhiều loài thuộc nhóm này sống nội ký sinh trên
rệp dính và rầy bông, tuy nhiên nhiều loài khác trong nhóm này có khả năng tấn
công cả ấu trùng của bộ cánh vẩy và ấu trùng bộ cánh cứng. Một số loại khác lại
diện trong rất nhiều bộ khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các loài quan trọng được tập
trung vào các bộ Coleoptera (Cánh cứng) với ba họ chủ yếu Cocinellidae,
Carabidae và Cicindellidae; bộ Diptera (Hai cánh) với hai họ Syrphidae và
Asilidae, bộ Hemiptera (Cánh nửa cứng) có họ Reduviidae và bộ Orthoptera có họ
Mantidae.
Khác với nhóm ký sinh, sinh vật ăn mồi thường có khả năng tấn công trên
nhiều con mồi khác nhau. Nhóm ăn mồi thường rất năng động trong việc tìm kiếm
mồi, chúng có thể sử dụng miệng nhai gậm để cắn và nhai con mồi (như bọ rùa,
bọ ngựa, chuồn chuồn, bọ chân chạy) hoặc sử dụng miệng chích hút dịch cơ thể
của con mồi (bọ xít bắt mồi, ruồi ăn mồi) (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2002).
Bọ rùa (Coccinellidae)
Trong tự nhiên có rất nhiều loài bọ rùa với nhiều loại màu sắc, hoa văn
hiện diện trên cơ thể khác nhau. Hầu hết các loài bọ rùa thuộc nhóm có lợi, tấn
công chủ yếu các loại rầy mềm, nhện gây hại, rầy phấn trắng, rệp sáp và các loại
côn trùng có kích thước nhỏ và trứng của một số loại côn trùng khác. Cả thành
trùng và ấu trùng đều ăn mồi. Thành trùng ăn cùng một loại thức ăn như ấu trùng,
chỉ một thời gian ngắn sau khi vũ hóa, thành trùng đã có khả năng bắt cặp, số
lượng trứng đẻ tùy thuộc vào lượng thức ăn được tiêu thụ (Kalshoven, L. G. E.,
1981).
Bọ xít mù (Miridae)
Kích thước cơ thể nhỏ hoặc trung bình. Râu đầu có 4 đốt, không có mắt
đơn, vòi có 4 đốt. Trên phần cứng cánh trước có 4 mép (embolium), phiến nêm
(cuneus). Phần màng có 1-2 buồng cánh, còn mạch cánh khác đều tiêu biến. Cùng
một loài thường có dạng cánh lớn, cánh ngắn và không có cánh. Bàn chân có 3 đốt
(Nguyễn Viết Tùng, 2006).
Bọ chân chạy (Carabidae)
Cả thành trùng và ấu trùng đều ăn mồi, tấn công trên ấu trùng, nhộng,
trứng và thành trùng của các loại côn trùng có thân mềm khác hiện diện trong đất.
Có rất nhiều loại có kích thước khác nhau, từ rất nhỏ (khoảng 3mm) đến rất lớn.
Phần lớn có màu đen, bóng, mắt to, râu dài. Thành trùng sinh sống chủ yếu trên
trắng và có điểm trắng đầu đỉnh râu. Chúng thường sống trên các ruộng khô và
làm tổ dưới đất ở những gốc cây trồng. Con cái chăm sóc trứng khi đẻ ra, mỗi con
đẻ khoảng 200 – 350 trứng. Con trưởng thành sống từ 3 – 5 tháng và hoạt động
chủ yếu vào ban đêm. Loài này chui vào các rãnh trên thân lúa do sâu đục thân đã
đục để tìm sâu non. Đôi khi chúng trèo lên trên lá để tìm con mồi. Mỗi ngày một
con bọ đuôi kìm có thể ăn từ 20 – 30 con mồi (Shepard, B. M. et al, 1989).
Đa số có cơ thể dẹp, màu nâu hoặc đen, hiện diện trên nhiều loại sinh cảnh
khác nhau, tuy nhiên đa số thích sống trong điều kiện có độ ẩm cao hơn là trong
điều kiện khô hạn. Tại Ấn Độ, đã có trên 130 loài được mô tả (Kalshoven, L. G.
E., 1981).
Kiến (Formicidae)
Nhóm này rất phổ biến, gồm nhiều loài, phân bố hầu như khắp nơi với số
lượng nói chung rất cao, có tập quán và hành vi rất tiến hóa, sống thành một xã
hội. Trong tổ kiến ghi nhận có kiến chúa, kiến đực và kiến thợ. Kiến chúa có kích
thước lớn hơn các nhóm khác, thường có cánh và thường biến mất sau khi giao
phối, kiến đực có cánh và thường nhỏ hơn kiến chúa, đời sống ngắn, thường chết
sau khi bắt cặp, kiến đực thuộc nhóm bất thụ không cánh chiếm số lượng lớn cá
thể trong tổ (Borror, D. J. et al., 1981). Tập quán sinh hoạt rất thay đổi. Nhiều loài
ăn mồi chuyên tấn công những động vật nhỏ như kiến lửa Solenopsis geminate
Fabricius, kiến vàng Oecophylla smaragdina, kiến hôi Dolichodorus
thoracicus,…
Theo Shepard, B. M. et al (1989) thì loài kiến Solelopsis geminate thường
hiện diện trên các bờ ruộng lúa hoặc những nơi khô ráo và đây là loài kiến có màu
nâu đỏ, làm tổ ở những nơi khô hoặc bờ ruộng ướt. Chúng thường tìm mồi cách tổ
vài mét, nhiều loài côn trùng và động vật nhỏ là con mồi của loài kiến này.
Một số loài kiến khác sinh sống trên nấm, sáp phấn hoa, mật hoặc nhiều
chất tương tự và một số loài khác tấn công trên thực vật.
Do thích chất mật ngọt nên trong tự nhiên nhiều loài kiến thường sống
cộng sinh với các loại côn trùng thuộc nhóm chích hút như rầy mềm, rệp sáp, rầy
bông….Kiến xây những tổ bằng mùn chung quanh các quần thể rệp sáp nhằm bảo
mồi càng tìm cách thoát, càng mắc chặt vào lưới.
Araneus inustus có một vạch hình trứng màu đen quanh bụng. con cái đẻ
trứng trong lá đã bị cuốn và phủ chúng bằng một lớp sợi trắng. Araneus săn mồi
những côn trùng nhỏ : rầy lá, rầy thân và ruồi (Shepard, B. M. et al, 1989).
Nhện nhảy Salticidae
Đây là họ nhện lớn nhất với trên 4000 loài đã được mô tả trên thế giới
(Barion, A. T. and J. A., Litsinger, 1995; Jackson, R. R. and S. D. Pollard, 1996).
Đặc diểm của chúng là không giăng lưới, hiện diện ở khắp nơi, từ dưới đất tới trên
cây cao, hoạt động ban ngày, chạy nhảy và săn mồi tự do.
Hầu hết đều có kích thước nhỏ. Đặc biệt là bốn mắt trước AE rất to như
đèn pha hay giống như mắt mèo, rất linh hoạt và có khả năng dõi mắt theo con
mồi hoặc con người, nên còn gọi là nhện Linh Miêu. Hai mắt bên sau PLE ở rất
xa về phía giữa của phần đầu - ngực có khả năng nhìn thấy con mồi từ phía hai
bên, rồi sau đó mới quay đầu lại để tập trung bốn mắt trước quan sát kỹ con mồi.
Chúng săn mồi bằng cách đi tìm, xác định con mồi thích hợp rồi lựa thế để nhảy
vào chụp con mồi. Người ta tặng cho loại nhện này từ “ thông minh” trong cách
8
bắt mồi vì chúng có thể tìm cách lừa con mồi để khi sơ hở thì mới nhảy vào bắt
con mồi.
Đây là loài nhện có khả năng thiên địch rất cao vì hiện diện ở khắp nơi,
nhanh nhẹn và khôn khéo trong cách bắt mồi (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002).
Nhện nhảy Phidippus sp. có các mắt lồi, không giống nhện Lycôsa, khi bị
động, chúng di chuyển không nhanh. Thân nhện nhảy Phidippus có lông màu
nâu. Ổ trứng hình thon dài phủ tơ mịn và nằm bên trong một lá cuốn. Con cái
cảnh giới số trứng đã đẻ và sinh sản ra từ 60 – 90 con con, chúng sống 2 – 4
tháng. Chúng thường ẩn trong màng chúng làm ở những lá lúa bị cuốn và chờ mồi
bọ rầy. Mồi của chúng là bọ rầy xanh và các loài côn trùng khác, chúng có thể ăn
2- 8 con mỗi ngày (Shepard, B. M. et al., 1989)
Nhện chân dài Tetragnathidae
gian phát dục của nhện rất rõ, thời gian phát dục của nhện non khác nhau (Bùi Hải
Sơn, 1995).
9
Ổ trứng của các loài thường được thấy đẻ trên lá hoặc trên các cành cây
khô, cây thân buội ở gần ruộng (Shepard, B. M. et al., 1987). Trứng nhện thường
được đẻ thành khối và được bao phủ bởi một lớp tơ màu trắng hoặc màu nâu nhạt
(Comstock, J. H. 1965). Trứng nhện có hình dạng tròn, màu vàng lợt hoặc vàng
xậm. Quan sát về sự ký sinh trên trứng nhện, Barrion, A. T. and J. H. Litsinger
(1995) đã thu thập ổ trứng 2 – 3 lần mỗi tuần trên ruộng lúa, cây thân buội, cỏ trên
đất bỏ hoang để theo dõi vòng đời thì không thấy có sự ký sinh. Cũng giống như
côn trùng, nhện cũng trải qua nhiều lần lột xác và sự lột xác giúp cho nhện gia
tăng kích thước cơ thể (Comstock, J. H. 1965).
Loài Tetragnatha javana có thói quen biểu lộ bắt cặp, con đực ve vãn và
con cái quơ chân kìm sờ của nó vào chân thứ nhất trước khi giao phối (Barrion, A.
T. and J. H. Litsinger, 1980). Cùng lúc đó, râu sờ phải và trái luân phiên nâng lên
về một bên và hạ xuống theo sự chuyển động. Sau đó, quan sát thấy chúng giao
phối trong thời gian 5 – 7 phút và thời gian đẻ trứng được kéo dài 20 phút. Chúng
làm ổ trứng vào buổi sáng khoảng 4 – 5 giờ và cuối buổi chiều từ 6 – 7 giờ. Loài
Tetragnatha japonica cũng biểu hiện bắt cặp như loài trên nhưng chúng chỉ đẻ ổ
trứng về đêm và không thấy vào buổi sáng.
Nhện bắt mồi chủ yếu là côn trùng, nhưng chúng cũng sẽ ăn các loài nhện
với nhau ngay cả các thành viên cùng loài nếu chúng đói. Một con nhện trưởng
thành có thể diệt 2 – 3 con mồi trong một ngày. Ngoài côn trùng và nhện, những
động vật nhỏ khác dôi khi cũng bị tấn công bởi loài động vật phàm ăn này
(Comstock, J. H., 1965). Nhện bắt mồi bằng cách giăng lưới và chúng nằm mặt
dưới lưới để phục kích con mồi. Khi con mồi dính lưới, chúng lập tức di chuyển
rất nhanh đến con mồi và dùng hai chân kìm để bắt và giết con mồi (Barrion, A.
T. and J. H. Litsinger, 1995; Comstock, J. H., 1965).
Đặc tính sinh thái và diễn biến mật độ nhện thuộc họ Tetragnathidae trên
Đầu-ngực màu nâu hơi ngả vàng, có viền mắt đen. Hàng mắt trước hơi
cong về phía sau còn hàng mắt sau thẳng. Chelecera có 6 răng ngoài và 9 răng
trong với một răng khóa nanh, nanh không có mấu ở mặt trong; con đực có thêm
một răng cong đơn lẻ ở cuối. Chân dài và mảnh, theo công thức 1243, màu nâu
vàng và đậm đen ở cuối mỗi đốt.
+ Tetragnatha nitens (Audouin)
Kích thước trung bình, con cái 8-9 mm, con đực 11-13 mm, thường có
màu nâu hơi ngả vàng. Hai hàng mắt đều, ít cong về phía sau. Hàm có 7 răng ở
mặt ngoài và 9 răng ở mặt trong; đặc biệt ở cuối hàm của con đực có một gai đưa
tới trước và hai gai mọc ngang nếu nhìn từ phía lưng, hàm con cái thì rất ngắn và
không có các gai đặc sắc này. Bụng không dài lắm, của con đực thì thon dài và
hẹp dần về phía cuối, con cái thì bụng ngắn, to hơn về bề ngang, cao ở phía trước
và thấp dần về sau, cuối bụng không nhọn và có ống nhả tơ ở ngay phía dưới.
+ Tetrangnatha javana (Thorell)
Rất dễ nhận dạng vì bụng dài và nhọn ở cuối, thừa ra xa khỏi vị trí của ống
nhả tơ ở phía dưới. Con cái có chiều dài thân mình 13-14 mm, con đực 11-12 mm.
Đầu-ngực màu nâu với viền mắt đen. Hàng mắt trước hơi cong, còn hàng mắt sau
rất cong về phía sau. Hàm của con cái ngắn, chỉ bằng phân nửa chiều dài của đầu-
ngực. Bụng màu nâu vàng, nhọn ở cuối và vượt xa vị trí của ống nhả tơ. Khá phổ
biến trong ruộng lúa.
Nhện Lycosidae
Họ này gồm các loài nhện sống ở nơi ẩm ướt nên thường thấy chúng tự do
trong ruộng lúa, trên mặt đất hay trên thảm cỏ. Một số loài làm màng tơ phủ
ngang mặt đất nhưng đa số đều săn mồi tự do, chỉ nhả tơ lúc làm ổ khi đẻ trứng
(Barrion, A. T. and J. H. Litsinger, 1995). Đây là loài thiên địch bắt mồi rất quan
trọng đối với rầy nâu hại lúa (Shepard, B. M. et al., 1987).
Nhện Lycosa Pseudoannulata có vạch hình nĩa trên lưng và bụng có
những điểm trắng. Loại nhện này rất nhanh và đến định cư nhanh chóng tại ruộng
lúa nước hoặc lúa cạn vừa mới chuẩn bị xong. Chúng tụ tập sớm trên ruộng lúa và
bắt mồi sâu hại trước khi chúng ở mức gây tác hại cho cây trồng. Con cái sống 3 –
1989).
1.3.3 Nhóm vi sinh vật gây bệnh
Bao gồm các loại nấm, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, nguyên sinh động vật và
truyến trùng. Vi sinh vật gây bệnh có thể gây chết, làm giảm khả năng sinh sản
hoặc làm chậm quá trình phát triển của ký chủ. Trong một số trường hợp như khi
ẩm độ môi trường cao, nhiều loại nấm có thể gây bộc phát gây dịch bệnh trên các
quần thể ký chủ từ đó làm hạn chế sự bộc phát của dịch hại. Vì những lý do đó mà
nhiều nhóm vi sinh vật đã được xem như là thiên địch của côn trùng (Nguyễn Thị
Thu Cúc, 2002).
1.4 Một số thành tựu về sử dụng côn trùng thiên địch trong phòng trừ dịch
hại
Ngày nay, việc sử dụng nguồn thiên địch có sẵn trong tự nhiên để phòng
trừ dịch hại đã trở nên phổ biến. Người ta có thể sử dụng thiên địch có nguồn gốc
ở địa phương hoặc qua nhập nội đã được thuần hóa. Đối với loài ong thuộc loại
ong mắt đỏ (Trichogrammatidae), hiện nay đã có trên 100 loài phân bố khắp nơi
trên thế giới và được sử dụng rộng rãi ở các nước như: Mỹ, Canada, Đức, Pháp,
Nga, Trung Quốc, …. để phòng trừ sâu hại thuộc bộ cánh vẩy như sâu cuốn lá,
sâu đục thân, sâu xám, … Năm 1971, tại Liên Xô, người ta đã phóng thích ong
mắt đỏ trên 4 triệu hecta cây trồng. Tại Trung Quốc vào những năm của thập niên
70 cũng đã sử dụng ong măt đỏ để phòng trừ sâu róm thông, sâu cuốn lá cam quýt
và đã phát hiện được 17 loài ong mắt đỏ khác nhau, trong đó có một số loài liên
quan đến lâm nghiệp. Mặt khác, để thiên địch có đủ khả năng khống chế sâu hại,
12
nhiều khi phải tiến hành nhập nội nguồn thiên địch (nguồn thiên địch này đã được
thuần hóa để phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu của nơi nhập nội).
Hiện nay ở một số nước tiên tiến để chủ động về giống, người ta cũng đã
nhập nội và thuần hóa thành công nhiều loài côn trùng ký sinh để tiêu diệt sâu hại.
Tại Mỹ, đã nhập nội và làm thuần hóa được 120 loài côn trùng ký sinh và ăn thịt
để diệt nhiều loài gây hại cây trồng.
Nhiều kết quả nghiên cứu trước đây đã chứng minh rõ ràng rằng: khi phun
một vài loại thuốc trừ sâu trong ruộng lúa sẽ thúc đẩy rầy nâu gia tăng mật số dẫn
đến tình trạng bộc phát, và trong hầu hết các trường hợp các loại thuốc trừ sâu này
được phun không phải là nhằm vào để trừ rầy nâu (Joshi, R. C. et al., 1992;
Heinrichs, E. A. and O. Mochida, 1984; Kenmore, P. E. et al., 1984).
13