Cải cách hành chính quốc gia - Pdf 28


Lêi më ®Çu
Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các
nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như
một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và
các mặt khác của đời sống xã hội.
Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm
1986, tính đến nay đã gần 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với
việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành. Cuộc cải
cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều
kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan
trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước. Ở Việt Nam đang
còn rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đã tồn tại từ lâu và mới nảy sinh cần phải
được giải quyết tích cực và có hiệu quả. Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hoá
đang đặt ra trước Việt Nam những thách thức và cơ hội mới đòi hỏi phải có
những cố gắng cao độ. Điều đó cũng có nghĩa là quá trình cải cách hành chính
ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết. Cái khó
trong cải cách hành chính Ở Việt Nam là phải tiến hành một cuộc cải cách
hành chính có tính chất cách mạng từ quản lý lập trung quan liêu, bao cấp
sang quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng dân chủ. Thực tiễn
đang đòi hỏi phát triển tư duy lý luận về cải cách hành chính. Việc phát triển
lý luận đem lại sự nhận thức sâu sắc về bản chất và quy luật của quá trình cải
cách hành chính, làm cho hoạt động cải cách diễn ra chủ động và tự giác hơn.
Công tác cải cách hành chính cũng luôn là một trong những vấn đề trọng
tâm tại các kỳ họp thường kỳ của Chính phủ hàng tháng. Thủ tướng, với tư
cách là Trưởng Ban chỉ đạo cải cách hành chính, đã thường xuyên yêu cầu
người đứng đầu các bộ, ngành báo cáo về kết quả thực hiện các nội dung của
cải cách hành chính, chỉ rõ những bất cập và hướng khắc phục.
Ngay tại kỳ họp đầu tháng 1 năm nay, Chính phủ và các lãnh đạo bộ
ngành, địa phương trong cả nước đã quyết định phải tạo bước đột phá về cải
cách hành chính trong năm 2007 với trọng tâm là ưu tiên rà soát sửa đổi các

sau õy:
Th nht Vit Nam l mt trong rt ớt nhng quc gia ban hnh vn bn
ó khụng tỏch riờng bit cỏc quy nh mang tớnh ni dung vi nhng quy nh
v th tc. a s, nhng quy nh v th tc u nm ri rỏc, xen ln vi cỏc
quy nh ni dung. Nguyờn nhõn ny, dn n "hu qu" l ngay chớnh cỏn
b, cụng chc qun lý v lnh vc, ngnh mỡnh ph trỏch cng khú lũng m
bit c khi gii quyt cụng vic ca mỡnh cn bao nhiờu h s, th tc,
hung h l ngi dõn.
Thứ hai, ngoài việc chưa phân tách những quy định về thủ tục với quy
định nội dung, do một thời gian dài chúng ta chưa có quy định nào quy định
cơ quan, cấp nào có thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính (Quyết định số
181/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế "một cửa"
giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh). Do đó, nhiều nơi, nhiều chỗ
đã lạm dụng việc ban hành các quy định thủ tục hành chính.
Lý lu¹n thùc tiÔn cña c¶i c¸ch hµnh chÝnh
Yêu cầu về sự phát triển đi lên của mỗi quốc gia, dân tộc luôn là một
điều tất yếu. Có nhiều biện pháp, cách thức để thực hiện yêu cầu này; cải cách
hành chính không nằm ngoài mục đích, yêu cầu tất yếu đó. Song, nhìn từ lịch
sử hình thành, phát triển của mỗi quốc gia, chúng ta phải khẳng định rằng cải
cách hành chính, hay đổi mới hành chính, biện pháp quản lý của nhà nước với
xã hội vốn dĩ đã luôn tồn tại, song hành như một nhiệm vụ bắt buộc
Cải cách hành chính là một nhiệm vụ, yêu cầu bắt buộc mà mọi quốc gia
đều "bắt buộc" phải làm và làm thường xuyên, lâu dài chứ không chỉ trong
một giai đoạn, thời kỳ.
Việt Nam cải cách hành chính, không ngoài mục đích cao cả mà sự
nghiệp cách mạng vĩ đại do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã xác định đó là nhằm không ngừng nâng cao, hoàn thiện đời sống cả
về vật chất và tinh thần cho nhân dân; bảo đảm mọi quyền lực của nhà nước
đều thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Lý luận về quản lý hành
chính, về quản lý nhà nước được hình thành từng bước cùng với thực tiễn xây

nhất quán, tính dự báo, không ít quy định thiếu tính khả thi.
-Nhiều thể chế chậm được ban hành, chậm được sửa đổi, hoàn thiện,cho
đến nay Nhà nước ta vẫn chưa có cách nào khắc phục được tính cục bộ ngành,
lĩnh vực trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mà vẫn
thực hiện theo cách: Luật (hoặc văn bản quy phạm pháp luật) về lĩnh vực nào
giao cho bộ, ngành đó chủ trì soạn thảo. Ðây chính là chỗ để cho cơ quan nhà
nước giành thuận lợi về cho mình, đẩy khó khăn cho người dân, mặc dù
chúng tôi (những người viết bài này) thừa nhận là thời gian gần đây việc xây
dựng, ban hành thể chế đã có nhiều cải tiến như tổ chức lấy ý kiến đóng góp
rộng rãi của các bộ, ngành, đoàn thể, kể cả cơ quan báo chí và nhân dân.
+ Chẳng hạn, hiện nay Văn phòng Chính phủ có Ban Xây dựng pháp
luật, thì những văn bản Chính phủ soạn thảo trình QH, Ủy ban Thường vụ QH
thông qua và những văn bản thuộc thẩm quyền Chính phủ ban hành, giao cho
cơ quan này chủ trì soạn thảo, thay vì giao cho bộ, ngành. Tất nhiên, là phải
quy định rõ chức năng, thẩm quyền để cơ quan này hoạt động; các bộ, ngành
liên quan có đại diện tham gia.
-Chưa có sự phân định rõ ràng, cụ thể cũng như những căn cứ, cơ sở cho
việc phân định về thứ bậc trong hoạt động quản lý, điều hành và thi hành đối
với cả hệ thống đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam
-quá trình hình thành tư duy về cải cách hành chính còn nặng về kinh
nghiệm. Thực tiễn chỉ ra rằng, với trình độ tư duy kinh nghiệm, con người
không thể xem xét một cách sâu sắc mọi quá trình diễn biến phức tạp trong
thực tiễn ; không thể vạch ra cái chung, cái riêng trong việc giải quyết các
nhiệm vụ thực tiễn. Hậu quả là sẽ không phân biệt đâu là nơi cần tập trung
những lực lượng chủ yếu và sự chú ý của mình trong hoạt động thực tiễn.. Sự
nghiệp cải cách hành chính ở nước ta, hơn bao giờ hết, đang đòi hỏi rất cao về
công tác lý luận. Lý luận về hành chính và cải cách hành chính là những nội
dung cốt yếu của khoa học hành chính.lý luận sinh ra không phải vì lý luận,
mà vì nhu cầu của thực tiễn. Hoạt động của bộ máy nhà nước phụ thuộc rất
lớn vào vấn đề : các công chức nhà nước tiếp thu và vận dụng những kiến

B. PH¸P LUËT VÒ C¶I C¸CH HµNH CHÝNH QuèC GIA
1. Ngị quyết số 17-NQ/TW ngày 1/8/2007 hội nhgị lần thứ 5 ban chấp
hành trung ơng khoá 10 về đây mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực
quản lý của bộ máy nhà nớc.
2. Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ 6(15-18/12/1976) báo cáo chính
trị của ban chấp hành trung ơng đảng tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
6.
3. Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ 7(24-27/6/1991).
4.Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 ban chấp hành trung ơng đảng(khoá
7)23/1/1995 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nớc Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cáchnền hành chính quốc gia.
5.Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ 8(28/6-1/7/1996) báo cáo chính
trị của ban chấp hành trung ơng đảng tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
8.
6. Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 ban chấp hành trung ơng Đảng (khoá 8)
18/6/1997 phát huy quyền làm chủ của nhân dân,tiếp tục xây dựng nhà nớc
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trong sạch vững mạnh.
7. Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ơng Đảng (khoá 8)
18/6/1997 nghị quyết về một số vấn đề về tổ chức bộ máy và đổi mới chất l-
ợng hệ thống chính trị ở cở sở xã, phờng , thị trấn.
8. Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/2/2008 của chính phủ về tiếp
nhận xử lý, phản ánh kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính.
9. Côg văn số 426/BNV-TCBC ngày 18/2/2008 của bộ nội vụ về viêc tổ
chức thực hiện nghị định số13,14 ngày 4/2/2008 của chính phủ quy định tổ
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ Ban Nhân Dân cấp tỉnh ,huyện.
10.Chỉ thị số 05 /2008/CT-TTg ngày 31/1/2008 của thủ tớng chính phủ
về việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc của cán bộ công chức
viên chức nhà nớc
11.Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của chính phủ quy
định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh ,thàn phố thực thuộc

thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng,
an ninh và đối ngoại theo đúng chức năng phù hợp với cơ chế mới, đó
là:
- Quản lý kinh tế – xã hội theo pháp luật, giữ gìn ổn định chính trị –
xã hội và trật tự kỷ cương; chăm lo xây dựng kết cấu hạ tầng và những
ngành kinh tế then chốt, bảo đảm môi trường và điều kiện chung cho
nhân dân phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống.
- Thông qua các công cụ quản lý vĩ mô và vai trò của kinh tế nhà
nước để quản lý thị trường, điều tiết thu nhập, kết hợp hài hoà giữa tăng
trưởng kinh tế với thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, thúc đẩy sự
phát triển đồng đều giữa các vùng và các tầng lớp dân cư.
- Tăng cường kiểm kê, kiểm soát sản xuất và phân phối; quản lý, sử
dụng có hiệu quả vốn và tài sản công với tư cách đại diện chủ sở hữu
nhà nước, khắc phục tình trạng vô chủ, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí.
- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với tăng cường
an ninh, quốc phòng và mở rộng hoạt động đối ngoại, để các lĩnh vực
này tác động hỗ trợ nhau cùng phát triển.
2. Phân định trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền
theo hướng phân cấp rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý
ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trên cơ sở bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương về thể
chế, về chiến lược và quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành và toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, cần phân cấp đúng mức và rành mạch trách
nhiệm và thẩm quyền hành chính, nhằm tạo điều kiện và thúc đẩy
chính quyền địa phương phát huy tính chủ động, khai thác mọi tiềm
năng tại chỗ để phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương và đóng góp ngày
càng nhiều cho sự phát triển chung của đất nước. Theo tinh thần đó, cần
tăng trách nhiệm và thẩm quyền của chính quyền địa phương trong việc
quyết định những vấn đề của địa phương, đặc biệt là về quy hoạch phát
triển và kế hoạch đầu tư cho khu vực công cộng, về thu chi ngân sách,

nhiệm của cơ quan thanh tra và toà án hành chính trong việc giải quyết
các khiếu kiện đối với các cơ quan và cán bộ, công chức hành chính, tạo
điều kiện để các toà án hành chính phát huy đúng chức năng và thẩm
quyền.
Đẩy mạnh hoạt động tự thanh tra, kiểm tra trong nội bộ các cơ
quan, tổ chức nhà nước; đề cao trách nhiệm thanh tra, kiểm tra của cấp
trên đối với cấp dưới, của các cấp chính quyền đối với mọi cơ quan, tổ
chức trên địa bàn lãnh thổ.
44. Chính quyền địa phương:
5a. Tập trung sức kiện toàn chính quyền cơ sở.
Phát huy vai trò của hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn trong
việc xem xét, quyết định các nhiệm vụ về kinh tế, xã hội, an ninh trật tự,
đời sống nhân dân, về ngân sách và giám sát việc điều hành của uỷ ban
nhân dân. Kiện toàn hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn với thành
phần bao gồm những cán bộ chủ chốt của đảng bộ, mặt trận và các đoàn
thể, đồng thời thu hút những người ngoài đảng có đủ tiêu chuẩn, có nhiệt
tình, có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong lao động sản xuất, có
tín nhiệm trong nhân dân.
- Thực hiện các hình thức, biện pháp bảo đảm phát huy quyền làm
chủ của nhân dân ở cơ sở, đồng thời quy định một số trách nhiệm nhất
định giao cho nhóm đại diện hội đồng nhân dân xã theo từng thôn (làng,
ấp, bản) như tổ chức việc xây dựng, thực hiện hương ước, giám sát
trưởng thôn (bản, ấp).
- Quy định hợp lý số lượng cán bộ chính quyền cơ sở phân biệt theo
đặc điểm và dân số của từng loaị đơn vị cơ sở; chú trọng công tác đào
tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ phù hợp với chức trách của họ.
Chính phủ quy định nguyên tắc chung, còn mức phụ cấp cụ thể cho mỗi
chức danh cán bộ xã, phường, thị trấn do hội đồng nhân dân cấp tỉnh
quyết định cho sát với điều kiện thực tế của từng địa phương. Có chế độ
thích hợp để chuyên nghiệp hoá một số cán bộ đảm bảo những công việc

- Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân
dân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các
công việc ở địa phương; quyền quyết định của các bộ, sở, ban, ngành về phân
bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử
dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt phù hợp với chế độ, chính
sách
- Sửa đổi Hiến pháp; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục sửa
đổi và xây dựng hệ thống pháp luật về kinh tế, văn hoá, xã hội, về hình sự,
dân sự, hành chính, về quyền và nghĩa vụ công dân… Nâng cao trình độ của
các cơ quan nhà nước về xây dựng luật pháp, sớm ban hành luật về trình tự
xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước
quản lý mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật. Thường xuyên giáo dục
pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân.
- Cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân để làm đúng chức năng quy định.
Đổi mới tiêu chuẩn đại biểu, chế độ bầu cử và quy chế hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân.
- Sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, coi
trọng bàn bạc tập thể, đồng thời đề có trách nhiệm và quyền hạn cá nhân của
người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu bộ trong quản lý và điều hành.
- Xác định lại chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh, huyện, xã để sắp xếp lại
tổ chức của mỗi cấp; đề cao quyền chủ động và trách nhiệm của địa phương,
đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước trung ương. Xây dựng
chính quyền cấp xã, phường vững mạnh.
- Tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của
Viện Kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân. Bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết để các cơ quan
bảo vệ pháp luật làm tốt nhiệm vụ.
- Kiên quyết sắp xếp lại tổ chức và tinh giản biên chế các cơ quan hành
chính, sự nghiệp ngay từ năm 1991, làm cho bộ máy gọn nhẹ và hoạt động có
hiệu quả. Sớm ban hành quy chế viên chức nhà nước. Xây dựng đội ngũ viên
chức nhà nước có phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao và thành thạo
nghiệp vụ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status