Tình hình và hướng giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn xã Hoẳng Lý Tỉnh Thanh Hoá - Pdf 28

LỜI NÓI ĐẦU
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra sản phẩm
vật chất và tinh thần mà con người mong muốn. Lao động có năng suất, chất
lượng, hiệu quả là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước.
Trong suất quá trình phát triển của loài người, lao động đóng vai trò
quyết định vào quá trình xã hội hoá. Lao động đã kết hợp với tư liệu lao động
và đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống con người, nó
còn là động lực quan trọng hàng đầu trong việc tạo ra những bước phát triển
của nền kinh tế. Nhờ đến lao động mà con người dần dần có đầu óc tìm tòi và
sáng tạo.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt nam lần thứ
VIII, tháng 6/1996 đã nhấn mạnh: công nghiệp hoá đất nước trước hết là công
nghiệp hoá kinh tế nông thôn. Vấn đề này được đặt ra không chỉ bởi tầm quan
trọng của phát triển kinh tế nông thôn trong bối cảnh chung của đất nước mà
còn vì nông thôn là nơi cư trú, sinh sống và làm ăn của một bộ phận lớn lao
động và dân cư cả nước.
Nông thôn Việt nam hiện nay chiếm tới 80% dân số và 70% lực lượng
lao động cả nước. Từ khi Đảng và nhà nước tiến hành các chính sách đổi mới
kinh tế, khu vực kinh tế nông nghiệp và nông thôn nói chung đã có bước tăng
trưởng và phát triển tương đối cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu về
kinh tế, nhiều vấn đề xã hội cũng nổi lên gay gắt như: người chưa có việc làm
và thiếu việc làm ngày càng gia tăng, sự phân hoá giàu nghèo tăng nhanh, tệ
nạn xã hội và tội phạm có chiều hướng gia tăng....
Trong các vấn đề xã hội nêu trên, việc làm cho người lao động đang là
vấn đề bức xúc, được toàn thể xã hội hết sức quan tâm. Các văn kiện quan
trọng của Đảng và nhà nước và thông tin đại chúng cũng đã thường xuyên đề
cập vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động đang ngày một tăng lên ở
khu vực nông thôn. Chính vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu về
“ Việc làm ở nông thôn” sẽ có ý thiết thực góp phần hoàn thiện và xây dựng
các chính sách giải quyết việc làm cho người lao động.
Hoằng Lý là một xã thuộc vùng đồng Bằng Trung Bộ, có diện tích nhỏ.

động (đang có việc làm) và những người không có việc làm nhưng đang tích
cực tìm việc làm.
Nguồn lao động trong nông nghiệp gồm số lượng và chất lượng lao
động. * Số lượng lao động: “Là toàn bộ những người nằm trong độ tuổi
quy định (nam từ 15-60 tuổi, nữ từ 15-55 tuổi) có khả năng tham gia lao
động”. Ngoài ra do quá trình sản xuất nhất là sản xuất trong ngành nông
nghiệp những người trên được coi như là một bộ phận của nguồn lao động.
Nhưng khả năng tham gia lao động của họ hạn chế hơn so với những lao động
trong tuổi, tuy nhiên lao động của họ vẫn được coi là lao động phụ. Do đó,
những nguồn lao động này phải được sử dụng để làm tăng thêm sản phẩm cho
xã hội và việc tăng số lượng những người lao động trực tiếp sản xuất có tầm
quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm. Mác nói: “nếu các điều khác nhau
không có gì thay đổi thì giá trị và số lượng của sản phẩm sẽ tăng lên theo tỷ lệ
thuận với số lao động được sử dụng”. Nhưng số lượng những người lao động
phải gắn liền với số ngày lao động, nhất là số ngày số giờ lao động thực tế, số
giờ làm việc hữu ích của người lao động, cùng một số lao động như nhau nếu
số ngày làm việc của mỗi người càng lớn số giờ làm việc hữu ích càng nhiều
thì khối lượng sản phẩm càng cao. * Chất lượng lao động. Chất
lượng lao động chính là sức lao động của bản thân người lao động, chất lượng
sức lao động được biểu hiện ở sức khoẻ, trình độ lành nghề, trình độ văn hoá,
nhận thức hiểu biết khoa học kỹ thuật và trình độ kinh tế tổ chức.Số lượng và
chất lượng của nguồn lao động trong nông thôn luôn biến đổi và sự biến đổi
đó do các nguyên nhân sau: - Việc tăng giảm tự nhiên của dân số và
hàng năm có một số người đến tuổi lao động tham giao vào lao động và một
số khác hết tuổi lao động rút khỏi - Do các chính sách của Đảng và nhà
nước bảo đảm thoả mãn nhu cầu về vật, nâng cao trình độ văn hoá, khoa học
kỹ thuật và chăm lo sức khoẻ cho mọi người. Ngày nay sự thay đổi về
số lượng lao động trong nông thôn là giảm liên tục cả về số tuyệt đối và số
tương đối đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng với tốc độ cao và ổn
định để thuận lợi cho việc chuyển lao động nông nghiệp sang lao động công

* Khái niệm về tỷ lệ thất nghiệp.Là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số người
thất nghiệp và tổng nguồn nhân lực nhưng đối với các nước đang phát triển,
tỷ lệ thất nghiệp này chưa phản ánh đúng thực sự nguồn lao động.
* Phân loại thất nghiệp. - Thất nghiệp không tự nguyện: Là
những người muốn làm bất kỳ một công việc nào đó mà họ không quan tâm
đến mức tiền lương nhưng họ không tìm được việc làm. - Thất nghiệp tự
nguyện: Là những lao động không quan tâm đến một số nghề, mặc dù họ có
đủ điều kiện để làm vì họ có một phần nguồn sống từ bên ngoài.
II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN LAO ĐỘNG.
1. Các yếu tố ảnh hưởng đến số lao động.
a. Dân số. Dân số là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động.
Quy mô và cơ cấu của dân số có ý nghĩa quyết định đến quy mô và cơ cấu của
nguồn lao động. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự biến động của dân số
hiện nay là: Phong tục, tập quán của từng nước, trình độ phát triển kinh tế,
mức độ chăm sóc y tế và chính sách của từng nước đối với vấn đề khuyến
khích và hạn chế sinh đẻ (tốc độ tăng dân số tạo ra nguồn lao động trong
tương lai). Trên thế giới hiện nay, tốc độ tăng dân số có sự khác nhau
giữa các nước phát triển và đang phát triển, các nước phát triển có mức sống
cao thì tỷ lệ tăng dân số thấp, ngược lại ở những nước kém phát triển thì tỷ lệ
tăng dân số lại cao
b. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
là số phần trăm của dân số trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động
trong tổng số nguồn lực. Nhân tố cơ bản tác động đến tỷ lệ tham gia lực lượng
lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động không có nhu cầu làm việc
vì đang đi học, đang làm việc nội trợ hoặc ở tình trạng khác. Tỷ lệ tham
gia lực lượng lao động thường được sử dụng để ước tính quy mô của dự trữ
lao động trong nền kinh tế và có vai trò quan trọng trong thống kê thất nghiệp.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động.Số lượng lao động mới
phản ánh được một mặt sự đóng góp của lao động vào phát triển kinh tế. Mặt
khác cần được xem xét đến chất lượng lao động, đó là yếu tố làm cho lao

Dưới góc độ kinh tế, sử dụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn là tận
dụng hết sức lao động hiện có khai thác hết khả năng lao động của họ cả về
thể lực và trí lực trong sự kết hợp đúng giữa người lao động với nhau, giữa
những người lao động với tư liệu sản xuất phù hợp với xu hướng tất yếu của
việc sử dụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn để tạo nên một sự chuyển
biến mạnh mẽ về năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
Nói một cách cụ thể hơn, sử dụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn là sử
dụng nguồn lao động đó một cách đầy đủ, có hiệu quả về thời gian lao động;
bố trí sát hợp về chuyên môn nghiệp vụ; tổ chức tốt việc hợp tác và phân công
lao động; sử dụng lao động ở mức trung bình cần thiết trong thời gian nhất
định; đồng thời từng bước cải thiện điều kiện làm việc; nâng cao năng suất
lao động và giảm nhẹ lao động cho con người.
2. Ý nghĩa của việc sử dụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn.
Thứ nhất: Tận dụng tối đa lực lượng lao động dồi dào và ngày một gia
tăng (cả về số và chất lượng) vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, khắc
phục được tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm đang diễn ra bức xúc hiện
nay. Thực tiễn những năm qua chứng minh rằng, bất cứ ở đâu, khi nào
nếu các địa phương có biện pháp tích cực để tân dụng nguồn lao động dư thừa
ở nông thôn vào quá trình sản xuất như: mở mang ngành nghề dịch vụ, đầu tư
thâm canh tăng năng xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đẩy mạnh chăn
nuôi và bố trí sắp xếp đúng người, đúng việc thì ở đó nền kinh tế sẽ phát triển,
thu nhập của người dân sẽ tăng lên, đời sống của người lao động được cải
thiện và bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới. Thứ hai: khai thác
được tối đa những nguồn lực quan trọng đang tiềm ẩn trong khu vực kinh tế
nông thôn về tài nguyên, vốn và ngành nghề. Thực tế cho thấy những
tiềm năng trên ở nông thôn còn rất lớn. Tuy nhiên, chúng vẫn mãi là tiềm
năng nếu như con người không hướng sự chú ý của mình tới, không thông
qua lao động, tác động của các công cụ lao động nên chúng để cải biến chúng
theo mục đích của mình. Vì vậy sử dụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn
là nhân tố biến các tiềm năng thành hiện thực. Thứ ba: thúc đẩy phát

và nông thôn, giữa nông nghiệp và các ngành khác. Vì vậy, sử dụng hợp lý
nguồn lao động ở nông thôn sẽ khắc phục được tình trạng trên, từng bước
thực hiện được mục tiêu trung tâm của mọi chính sách kinh tế xã hội là phát
triển con người, phát triển nhân tố con người, đảm bảo công bằng và quyền
lợi và nghĩa vụ công dân. đó vừa là yêu cầu trực tiếp trước mắt vừa là yêu cầu
cơ bản lâu dài của nền kinh tế xã hội nước ta trong quá trình tiến lên CNXH.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề sử dụng lao động ở nông thôn. Cơ
cấu lao động thể hiện sự phân công lao động vào các ngành nghề sản xuất
hoặc theo tính chất của lao động trong địa bàn. Phân bố lao động một cách
hợp lý không những sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển mà nó còn tạo ra nhiều việc
làm cho người lao động, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho con người
Ảnh hưởng của cơ cấu lao động thể hiện qua việc sắp xếp lao động vào các
ngành nghề, nếu tỷ lệ lao động phục vụ trong các ngành nghề có thời gian làm
việc lớn, năng suất lao động cao thì đó là sự phân công lao động hợp lý và
ngược lại.
a. Thời gian làm việc. Thời gian làm việc là độ dài thời gian mà
người lao động trong quan hệ lao động phải tiến hành lao động theo quy định
của pháp luật quốc gia, hoặc theo thoả ước tập thể hay hợp đồng lao động trên
cơ sở những quy định của pháp luật lao động quốc gia. Thời gian nghỉ
ngơi là độ dài thời gian mà người lao động trong quan hệ lao động có quyền
được sử dụng tự do, ngoài nhiệm vụ thực hiện trong thời gian làm việc, theo
quy định của pháp luật lao động quốc gia, hoặc theo thoả thuận tập thể hay
hợp đồng lao động trên cơ sở những quy định của pháp luật lao động quốc
gia. Đối với những người lao động nhân về việc làm tại nhà, những
người lao động độc lập, hai loại thời này theo sự sắp xếp công việc bản thân
và có thể dùng làm căn cứ hoạch toán chi phí sản xuất kinh doanh. Thời
gian lao động thường được tính bằng số ngày làm việc trên một năm, số ngày
làm việc trên tuần, số giờ làm việc trên tuần hoặc giờ làm việc trên ngày. Xu
hướng chung của các nước thời gian làm việc sẽ giảm đi khi trình độ phát
triển kinh tế được nâng cao.

SL
Tr.người
CC
(%)
Dân số toàn quốc 69,7 73,3 76,3
Dân số trong độ tuổi theo
khu vực
39,1 100 41,1 100 42,6 100
Thành thị 8,3 21,13 9,2 21,11 9,9 23,1
Nông thôn 60,8 78,87 31,9 77,89 32,7 76,9
Chia theo giới tính
Nam 19,3 49,37 20,1 49,11 20,6 48,4
Nữ 19,8 50,63 21,0 50,86 22,0 51,6
Nguồn: Dự thảo chiến lược về lao động thời kỳ CNH-HĐH ( 1999 – 2001) Trong nông thôn tỷ lệ lao động
thu hút vào sản xuất đã tăng từ 85% năm 1991 lên 89% vào năm 1997 và 91%
năm 1998. Trong cơ cấu lao động xã hội ở nông thôn đã có sự dịch chuyển
theo xu hướng tăng tỷ trọng lao động công ngiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng
lao động thuần nông nhưng còn chậm. Đến nay mới có 32% lao động ở nông
thôn chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ vẫn còn 68% chuyên làm nông
nghiệp (biểu 2), do vậy tỉ trọng linh tố nông thôn vẫn mang nặng về nông
nghiệp (70%).
Biểu 2: Một số chỉ tiêu về lao động nông thôn.
Chỉ tiêu 1996 1998
1. Số lao động ở nông thôn ( triệu người ) 31,4 32,7
2. Số lao động ở nông thôn thu hút vào sản xuất
(Tr.người)
28,0 30,0
3. Chia ra
a. Lao động nông nghiệp
- Triệu người 32,2 20,4

V. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ.1. Chỉ tiêu đánh giá tình hình phân
bổ và sử dụng lao động.- Chỉ tiêu cơ cấu lao động giữa các ngành:
Chỉ tiêu này thể hiện sự phân bổ lao động vào ngành sản xuất, ngày nay lao
động trong các hộ ở nông thôn chưa được chuyên môn hoá theo ngành sản
xuất mà phần lớn lao động tham gia vào tất cả các ngành sản xuất như ngành
nông nghiệp, công nghiệp-TTCN, dịch vụ, vì vậy để tính cơ cấu lao động giữa
các ngành phải căn cứ vào thời gian lao động từ đó phân bổ lao động cho các
ngành hợp lý, đầy đủ.
C
c
=
100
sld
ld
T
S
Trong đó: C
c
: là cơ cấu lao động giữa các ngành. S
ld
: là
số lao động của ngành. T
sld
: là tổng số lao động của địa
phương.- Tỷ lệ lao động có việc làm: là tỷ lệ lao động có việc làm co với tổng
lưc lượng lao động. UL =
100
L
Lc


n
=
l
ttsx
S
CG

T
n
=
nc
nbq
S
T
Trong đó: T
n
: là thu nhập bình quân 1 lao động (trong năm). G
TSX
: là
GTSX trong năm. C
t
: là chi phí vật chất. S
l
: là số lao động
(trong năm). T
n
: là thu nhập một người/ngày công lao động.
T
nqd
: là thu nhập bình quân 1 lao động (trong năm). S

I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU.1. Vị trí địa lý và ranh giới
hành chính.
Xã Hoằng Lý có hệ thống đường giao thông cơ sở hạ tầng: về cơ bản thì
rất thuận tiện, xã đã có một trục đường liên thôn, liên xã và hệ thống
đường này đã được nhựa hoá. Xã Hoằng Lý là một trong những xã có cơ
sở hạ tầng tương đối tốt, thực hiện theo đúng chủ trương điện-đường-
trường-trạm, đảm bảo vệ sinh, khang trang, đúng như môi trường cảnh
quan chung của một vùng nông thôn trong điều kiện hiện nay. - Hệ
thống thuỷ lợi của xã hiện nay về cơ bản chưa được hệ thống hoá kênh
mương, nguồn nước tưới tiêu chưa được chủ động. - Địa hình của xã
tương đối phức tạp, đất đai canh tác nằm giữa khu vực dân cư, ruộng đất
canh tác được chia thành nhiều thửa khác nhau, thửa cao, thửa thấp, thửa
trung. Nhìn chung toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của địa phương có
khả năng canh tác năm 2 vụ lúa, chỉ có số nhỏ diện tích một vị, đã chuyển
sang trồng hoa màu. Với vị trí địa lý thuận lợi là một yếu tố quan
trọng, là một trong những tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt
để, nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của xã nói riêng và phát
triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nói chung.2. Thời tiết khí hậu. -
Hoằng Lý là một xã thuộc tỉnh Thanh Hoá có khí hậu nhiệt đới gió mùa,
có mùa đông lạnh. Nhiệt độ trung bình năm 23,30C. Nhiệt độ trung bình
tháng cao nhất 28,90C (vào tháng 7). Nhiệt độ trung bình thấp nhất là
15,80C (vào tháng 1), sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và thấp
nhất là 13,10C. - Lượng mưa trung bình hàng năm giao động khoảng
1400-1600mm, nhưng phân bố không đều trong các năm. Mưa tập trung
chủ yếu từ tháng 5-tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô
từ tháng11 đến tháng 4 năm sau: chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm.
- Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1530-1776 giờ, trong đó tháng
nhiều giờ nắng nhất là tháng 7, tháng có it giờ nắng nhất là tháng 1. -
Hàng năm có 2 mùa gió chính: gió mùa đông bắc và gió đông nam. Gió
mùa đông bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status