Ảnh hưởng của các mức độ đồng và kẽm - Pdf 28



1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TNTN
________________

Long Xuyên, tháng 8 năm 2005 2
LỜI CẢM TẠ

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài tôi đã gặp nhiều khó khăn, nhưng được sự động
viên, giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp đã cho tôi lòng tin, kiến thức để
vượt qua khó khăn. Đến hôm nay, tôi đã hoàn thành đề tài. Tôi xin trân trọng bày tỏ
lòng biết ơn chân thành đến:
Thầy PGS. TS. Võ Ái Quấc; Cô TS. Nguyễn Nhựt Xuân Dung, đã nhiệt tình
hướng dẫn và cố vấn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cám Cô Trần Thị Điệp, em Yến và các anh, chị em ở phòng phân
tích dinh dưỡng Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp Trường Đại học Cần Thơ đã
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn đến Ban Lãnh đạo Trường, phòng Quản Lý Khoa
Học và Ban chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp-TNTN Trường Đại học An Giang cùng các
bạn đồng nghiệp đã hết lòng hỗ trợ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn Ban Lãnh đạo Công ty Xuất Nhập khẩu Nông
sản Thực phẩm An Giang, Xí nghiệp Thức ăn Gia Súc An Giang, Trại chăn nuôi Vĩnh
Khánh huyện Thoại Sơn An Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài trong
thời gian qua.
Xin chân thành cám ơn Cô Ths. Nguyễn Thị Kim Lan, Anh Nhựt, Trung, và hai
em Ái Quê, Mai đã hết lòng tham gia, động viên, góp sức cùng tôi thực hiện tốt đề tài.

Đào Thị Mỹ Tiên

với các nghiệm thức thí nghiệm khác trong cùng điều kiện nuôi dưỡng và môi trường
nuôi dưỡng như nhau. Hay nói cách khác nghiệm thức có mức độ Cu: 100ppm và Zn:
500ppm tốt hơn các nghiệm thức có các mức độ Cu và Zn khác. Vậy việc bổ sung Cu và
Zn ở mức độ cao hơn nhu cầu ảnh hưởng có lợi cho heo con. 4
MỤC LỤC
---o0o---
Trang
Cảm tạ .....................................................................................................................
Tóm lược.................................................................................................................
Mục lục ...................................................................................................................
Danh mục các Bảng .................................................................................................
Danh mục các Hình..................................................................................................
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt.......................................................................
Phần1. MỞ ĐẦU.................................................................................................... 1
I. LỜI GIỚI THIỆU ................................................................................................. 1
II. MỤC ĐÍCH......................................................................................................... 1
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ................................................... 2
IV. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU .................................................................................. 2
1. Dinh dưỡng khoáng đối với cơ thể gia súc............................................................ 2
1.1. Khoáng đa lượng.......................................................................................... 2
1.1.1. Calcium (Ca) ........................................................................................ 2

6. Cơ sở bổ sung khoáng vào khẩu phần.................................................................. 15
V. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ............................................................... 16
1. Phương tiện thí nghiệm.................................................................................. 16
2. Phương pháp thí nghiệm................................................................................ 17 6
2.1. Bố trí thí nghiệm.................................................................................... 17
2.2. Các chỉ tiêu theo dõi .............................................................................. 17
2.2.1. Tăng trọng ..................................................................................... 17
2.2.2. Tiêu tốn thức ăn ............................................................................. 18
2.2.3. Hệ số chuyển hoá thức ăn............................................................... 18
2.2.4. Tỷ lệ tiêu chảy ............................................................................... 18
2.3. Hiệu quả kinh tế..................................................................................... 18
2.4.Phân tích hóa học ................................................................................... 18
2.5. Xử lý số liệu .......................................................................................... 18
Phần 2. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN................................................................... 20
I. Trọng lượng bình quân (BQ) và tăng trọng (TT)................................................... 20
II. Tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hoá thức ăn...................................................... 25
III. Tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu các dưỡng chất............................................................ 29
1. Tiêu hoá các dưỡng chất.................................................................................. 29
2. Ảnh hưởng của đồng, kẽm lên quá trình tiêu hoá protein và
năng lượng.................................................................................................. 29
3. Khả năng tích lũy nitrogen và nitrogen bài thải của heo thí nghiệm ................. 31
4. Khả năng hấp thu đồng, kẽm và sự bài thải đồng, kẽm qua phân/ngày
của heo thí nghiệm...................................................................................... 34
IV. Tỷ lệ tiêu chảy và hiệu quả kinh tế ..................................................................... 36
1. Tỷ lệ tiêu chảy của heo thí nghiệm qua các giai đoạn ...................................... 36
2. Hiệu quả kinh tế.............................................................................................. 38
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ....................................................................... 40

Những tổn thương do thiếu đồng
Nhu cầu dưỡng chất của heo con
Nhu cầu dưỡng chất của heo trong thức ăn hổn hợp
Nhu cầu dinh dưỡng khoáng vi lượng hằng ngày ở heo con
Ảnh hưởng của yếu tố đồng và kẽm lên tăng trọng của heo thí nghiệm
Tương tác của đồng và kẽm lên trọng lượng và tăng trọng bình quân của heo
thí nghiệm qua các giai đoạn
Ảnh hưởng của yếu tố đồng và kẽm lên tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hóa
thức ăn của heo con qua các giai đoạn thí nghiệm.
Tương tác của đồng và kẽm lên tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn
qua các giai đoạn thí nghiệm.
Ảnh hưởng tương tác đồng và kẽm lên tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất của
heo thí nghiệm giai đoạn từ 24 – 60 ngày tuổi.
Tương tác đồng kẽm lên quá trình tiêu hóa protein và năng lượng của
heo thí nghiệm giai đoạn từ 24 – 60 ngày tuổi.
Ảnh hưởng tương tác đồng và kẽm lên khả năng tích lũy nitrogen và nitrogen
bài thải của heo thí nghiệm giai đoạn từ 24–60 ngày tuổi.
Khả năng hấp thu đồng, kẽm và sự bài thải đồng, kẽm qua phân/ ngày
Tỷ lệ tiêu chảy của heo thí nghiệm
Chênh lệch giữa giá trị tăng trọng và chi phí thức ăn (đồng/con)
7
12
13
13
20
21

26

27


7

8
9
Chuồng nuôi heo con theo mẹ
Chuồng nuôi heo con cai sữa
Tăng trọng heo thí nghiệm từ 7 – 60 ngày tuổi
Tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn của heo thí nghiệm giai đoạn từ
24 – 60 ngày tuổi
Tương quan giữa lượng nitrogen ăn vào và lượng nitrogen tiểu bài thải
Tương quan giữa lượng nitrogen ăn vào và tổng lượng nitrogen bài thải theo
phân và tiểu
Tương quan giữa phần trăm tích lũy đồng và tăng trọng của heo thí nghiệm
Biểu đồ tỷ lệ tiêu chảy của heo thí nghiệm qua các giai đoạn
Biểu đồ hiệu quả kinh tế của heo thí nghiệm
16
16
22
27

32
33

35

37
39
Dinh dưỡng cho heo con theo mẹ rất quan trọng vì ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng, phát triển trong giai đoạn sau cai sữa và tỷ lệ hao hụt. Vì vậy các nhà chăn nuôi
luôn quan tâm là làm thế nào để heo có tỷ lệ sống cao, tăng trọng nhanh, đồng đều, tỷ lệ
bệnh và còi cọc giảm ở mức thấp nhất.
Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã tác động bằng
nhiều cách khác nhau như cung cấp các vitamin, enzyme vào khẩu phần và đặc biệt là
tác động bằng cách cho heo sử dụng kháng sinh để ngừa tiêu chảy và kích thích tăng
trưởng, kháng sinh đã đem đến hiệu quả tốt. Nhưng việc dùng kháng sinh thường xuyên
sẽ dễ tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc và sự tích lũy kháng sinh trong sản phẩm
chăn nuôi sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe người tiêu dùng. Bên cạnh đó, chất
khoáng cũng là một thành phần dùng để xây dựng cơ thể, nhất là khoáng vi lượng thiết
yếu như: Fe, Cu, Zn, Co, I …động vật cần với một lượng rất nhỏ, nhưng chúng tham gia
rất nhiều vào các phản ứng sinh lý, sinh hoá quan trọng. Chúng tham gia xúc tác trong
hệ thống enzyme của tế bào (metalloenzym) và giữ vai trò sinh học nhờ thông qua tác
động của metaloenzym. Sự thiếu hụt một vài khoáng vi lượng nào đó cũng đều có thể
dẫn đến sự rối loạn sinh trưởng và mất cân bằng trong quá trình sinh trưởng và phát
triển, như thiếu Cu sẽ làm suy yếu khả năng hấp thu. Thiếu Cu dẫn đến thiếu máu, chậm
tăng trưởng, sự tiêu hóa bị rối loạn, tổn thương não và cột sống, con vật bị mất sắc tố,
lông xù, cứng và bạc màu. Trường hợp thiếu Zn thì gia súc cũng chậm tăng trưởng, lông
mọc thưa, heo bị da hóa sừng và chậm lớn, chuyển hóa thức ăn kém, da nổi mẫn đỏ, có
vảy và rụng lông.
Trên thế giới, việc bổ sung khoáng trong chăn nuôi đã được áp dụng rộng rãi, và
được xem như một thành phần không thể thiếu được trong thức ăn hỗn hợp. Đặc biệt
các nghiên cứu gần đây cho thấy việc tăng mức độ Cu và Zn lên cao gấp nhiều lần so
với nhu cầu sẽ làm giảm tỷ lệ tiêu chảy và kích thích tăng trưởng của heo con.
Tuy nhiên, việc sử dụng mức độ Cu và Zn như thế nào để tăng năng suất chăn
nuôi, giảm tỷ lệ tiêu chảy mà không tác động xấu đến môi trường do sự bài thải chất
khoáng ra ngoài là lý do chúng tôi tiến hành đề tài : “Ảnh hưởng các mức độ đồng và
kẽm lên khả năng sinh trưởng của heo con từ 7 đến 60 ngày tuổi”.


có ảnh hưởng đến năng suất sản phẩm.
Tóm lại, chất khoáng rất cần thiết để duy trì, điều hợp, xây dựng và tu bổ cấu
trúc cơ thể. Vì nó cần phải bảo đảm nhu cầu về khoáng cho cơ thể gia súc đặc biệt là gia
súc non. Dựa vào nhu cầu cơ thể, người ta chia ra làm hai nhóm khoáng thiết yếu là
nhóm khoáng đa lượng và nhóm khoáng vi lượng. Nhóm khoáng đa lượng như calcium,
phosphor, natrium, lưu huỳnh, magiesium, kalium, chlor. Nhóm khoáng vi lượng: đồng,
kẽm, cobalt, mangan, iod ...
1.1. Khoáng đa lượng
1.1.1. Calcium (Ca)

12
a. Vai trò, nhu cầu và liều gây độc
Trong cơ thể có gần 99% Ca nằm ở xương và răng. Ca còn ở khắp mô bào, trong
huyết tương Ca chiếm từ 9 -11%. Trong khi nồng độ canxi trong máu giảm (do các
nguyên nhân như cung cấp không đủ, thải quá nhiều vào sữa, hormon tuyến cận giáp
kém) sẽ gây ra hiện tượng co giật, gây bại liệt sau khi đẻ ở heo nái, mềm xương ở heo
con, xốp xương, giòn xương ở heo đực. Thiếu hoặc thừa Ca còn gây ra sự mất cân bằng
khoáng với các loại khác đặc biệt là trong mối tương quan với phosphor (Trần Cừ và
Nguyễn Khắc Khôi, 1985). Nhu cầu Ca để duy trì đời sống là 10g, những tháng sau của
thời kỳ có chữa cần bổ sung hằng ngày 5g, mỗi một heo con bú bổ sung 2,2g Ca. Nhu
cầu Ca ở heo con tăng dần theo tuổi, ở heo có trọng lượng 20kg là 7g/ngày đêm, heo
60kg cần 14g/ngày đêm (Henning, 1984). Tiêm lượng lớn Ca vào cơ thể thì gây độc,
nhưng nếu uống thì không độc. Sự dư thừa kéo dài Ca trong cơ thể là điều không thích
hợp. Ở loài độc vị sự dư thừa Ca gây ức chế tiêu hóa một cách rõ rệt (muối Ca của acid
béo trong phân) và giảm đồng hóa thức ăn. Điều này dẫn đến rối loạn cả trao đổi Mg, P,
Fe, Mn, I. Sự dư thừa Ca dài ngày trong khẩu phần dẫn đến ưu nang tuyến giáp. Ở heo
gây chứng á sừng tăng 50% Ca trong khẩu phần so với nhu cầu gây bất lợi cho động

1997). Thực phẩm chứa nhiều P là những loại thức ăn hạt, các thức ăn đạm thực vật,
động vật và thức ăn khoáng. Sự hấp thu P diễn ra trong đoạn giữa và cuối ruột non.
Tuổi gia súc càng tăng tốc độ đồng hóa P càng giảm. Ở con vật non toàn bộ P
của sữa hoặc của thức ăn khoáng đều được hấp thu, trong khi ở vật già chỉ có 70 – 85%
thức ăn khoáng chất lượng cao được hấp thu mà thôi, còn đối với thức ăn bình thường
thì chỉ có 50%.
Phosphor được bài tiết theo nước tiểu, phân và mồ hôi, ở loài nhai lại nó bài tiết
theo phân, loài ăn tạp vừa theo phân vừa theo nước tiểu.
1.2. Khoáng vi lượng
1.2.1. Sắt (Fe)
a. Vai trò, nhu cầu và liều gây độc
Sắt có vai trò chữa bệnh thiếu máu vì sắt tham gia tạo hồng cầu, gia súc non
thường bị thiếu máu (Vũ Duy Giảng, 1997). Sắt giữ một vai trò quan trọng được xem
như là một loại men hô hấp và enzym oxi hóa khử (Trần Cừ, 1975).
Tất cả các loài gia súc, gia cầm, nếu không được cung cấp đầy đủ sắt sẽ mắc bệnh thiếu
máu và có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào của đời sống, đặc biệt nhất là thú non (Đặng
Đắc Thiệu, 1978)
5
.
(Vindrid,1965)
6
xác nhận rằng thiếu sắt ở heo sẽ dẫn đến không chỉ giảm tỷ lệ
hemoglobin mà còn giảm hoạt tính những men có chứa nguyên tử sắt, những men này
có liên hệ chặt chẽ với việc tổng hợp protein và các hoạt động tế bào quan trọng khác.
Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, giảm huyết sắt tố. Lượng sắt trong
gan giảm, triệu chứng phụ của bệnh ỉa chảy càng gây thiếu sắt trầm trọng (Henning,
1984). Biểu hiện thiếu sắt là gầy yếu, lông da xơ xác, niêm mạc mắt, mũi, mồm nhợt
nhạt, đi phân trắng (Vũ Duy Giảng, 1997). Nhu cầu sắt cho heo con từ 10 -20kg là
60mg/kg chất khô, cho heo thịt dưới 38kg là 40mg/kg chất khô. Heo thịt và heo mẹ luôn
luôn thỏa mãn sắt trong thức ăn. Các bệnh truyền nhiễm, bệnh suy dinh dưỡng, bệnh

đồng tham gia vào thành phần enzym hoặc nhân tố hoạt
hóa hàng loạt loại enzym – tirozinase, lactase ascorbinoxidase, urikase ... Đồng được
chứng minh là có tác dụng lên sự hấp thu sắt và thời gian sống của hồng cầu.
(Geut,1929)
8
đã chỉ rõ rằng chuột bú sữa thiếu đồng nên chậm sinh trưởng và thiếu
máu. Thiếu máu là triệu chứng điển hình do thiếu đồng qua đó kèm theo các triệu chứng
giảm lượng huyết sắc tố, giảm nồng độ đồng trong gan và ức chế hoạt tính của enzym
Cystocrexidase. Đồng có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi glucid, sự tổng hợp
iod và hoạt tính của hormon sinh dục, đồng tham gia quá trình tạo sắc tố melamin, tăng
khả năng miễn dịch và sức đề kháng của cơ thể (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1985).
Đồng cần cho sự phát triển bình thường của xương. Tại những vùng thiếu đồng heo có
hiện tượng tứ chi bị biến dạng, khớp xương cũng bị biến đổi, lớp vỏ xương ống chân bị
mỏng đi và đầu sụn sưng to (Henning, 1984).
7. Trích dẫn từ Vũ Duy Giảng, 1997
8. Trích dẫn từ Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1985
15
Ngoài ra đồng có khả năng diệt ký sinh trùng đường ruột, thiếu đồng gây nhiều
bệnh lý thiếu máu, chân cong, gãy xương tự nhiên (Tengue và Carpau, 1951)
9
chậm
tăng trưởng, rụng lông, mất sắc tố ở lông, mắc bệnh ngoài da, tiêu chảy và rụng móng .
Thiếu đồng làm mất điều vận quay cuồng, bại liệt chân trước (Benet và Sock, 1924), rối
loạn thần kinh trung ương, phì đại cơ tim (Henning, 1984). Khi sử dụng CuSO

) của
lisine ở cacbon ε của lisine được thực hiện nhờ một aminoxidase có đồng. Giảm số
lượng nhóm aldehyt của protein sẽ hạn chế sự dính kết và tăng độ hòa tan.
Biến màu lông: sự tổng hợp melanin được thực hiện bởi polyphenoloxydase,
một enzym có đồng. Thiếu đồng làm enzym này giảm hoạt tính và hạn chế sự sản xuất
melanin. Vì vậy lông bị biến màu.
9. Trích dẫn từ Henning, 1984
10. Trích dẫn từ Dương Thanh Liêm, 2001
11. Trích dẫn từ Luscas, I. A.; Lodge, G. A., 1971
16
Bảng 1. Những tổn thương do thiếu đồng

Cytochrom
oxidase
Ceruloplasmin
Systeme
Complex+Cu

Polyphenol
Oxidase
Systeme
Complex+Cu
Aminooxidase
Con

của lizin
Triệu
chứng
Sinh trưởng
chậm, gầy
yếu, rối loạn
tim
Giảm hàm
lượng
myoglobin
Biến đổi lông
và len
Biến màu
lông
Giảm myelin
hóa, ty thể
mau già
Colagen và
khung xương
bất bình
thường, rối
loạn xương
b. Dự trữ, hấp thu và bài tiết
Hàm lượng đồng trong cơ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố và trong thành ruột không có
bức ngăn để hạn chế sự hấp thu đồng. Hàm lượng đồng cao nhất trong gan 5 – 15mg/kg
chất khô, trong máu 1 - 2mg/lít huyết thanh, đồng cũng có nhiều trong sữa heo. Cơ thể
non tích lũy nhiều đồng hơn cơ thể già. Đồng được hấp thu ở dạ dày và tá tràng, đồng từ
sulfua đồng được hấp thu tốt hơn từ sulfat đồng hoặc acid đồng và carbonat đồng, thành
phần thức ăn có ý nghĩa quyết định đến sự hấp thu đồng, các nguyên tố Fe, Mn, Cr, S,
acid acorbic và phytin làm giảm sự hấp thu đồng. Tỷ lệ hấp thu đồng ở heo là 40%.

peptidase, carboxypeptidase. Qua các men này kẽm tham gia vào các quá trình chuyển
hóa khác nhau, chẳng hạn như carboxydase giữ vai trò quan trọng trong các quá trình hô
hấp bằng cách làm tăng nhanh quá trình kết hợp CO
2
ở mô bào và bài xuất ra ngoài qua
phổi, điều hòa nồng độ acid của máu, tạo HCl ở dạ dày, tạo kiềm ở dịch tụy, góp phần
giải phóng CO
2
khỏi võng mạc và thủy tinh thể của mắt.
Kẽm rất cần thiết cho sự tổng hợp ARN, động vật thiếu kẽm quan sát thấy nồng
độ ARN trong gan giảm xuống, kể cả trong tuyến tụy, dịch hoàn cũng giảm (Ku, 1970).
b. Hấp thu
Ở gia súc nhai lại sự hấp thu kẽm được thực hiện chủ yếu ở dạ múi khế và ruột non,
ở gia cầm chủ yếu ở dạ dày cơ. Kẽm vào cơ thể đóng vai trò hoạt hóa, không liên quan
với phản ứng phosphorrrin oxy hóa. Khác với sắt sự vận chuyển kẽm trong ruột diễn ra
chậm chạp. Kẽm được hấp thu trong bộ máy tiêu hóa với một lượng không lớn, tá tràng
hấp thu kẽm tốt hơn hồi tràng và hơn cả là dạ dày (Arona và ctv, 1960)
13
.
Hấp thu kẽm phụ thuộc vào liều lượng kẽm đưa vào ruột non (Frolova, 1969)
14
. Hấp
thu kẽm cũng như hấp thu các chất muối khoáng khác như: Calxi, mangan, thủy ngân,
sắt, có thể chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: tích tụ chúng vào lớp niêm mạc.
Giai đoạn 2: vận chuyển từ màng nhầy về phía màng cơ.
Trong giai đoạn 1 không cần phải chi phí năng lượng và đặc trưng bằng sự nối
kẽm với vật tải protein trên màng tế bào.
Giai đoạn 2 cần oxy, đòi hỏi chi phí năng lượng.
Quá trình hấp thu bị ức chế nếu có mặt các chất ức chế trao đổi chất (Jigure và

ngoại tiết của tuyến đó chỉ chứa 25mg/kg. Nồng độ kẽm cao nhất là ở vùng đáy màng
mạch mắt của động vật ăn thịt. Vì kẽm cần cho quá trình thị giác, thiếu kẽm con vật sẽ
bị mù. Trong máu khoảng 75% kẽm nằm trong hồng cầu, khoảng 22% trong huyết
tương và 3% trong bạch cầu.
Trong huyết tương một phần kẽm ở dạng kết hợp, phần khác ở dạng tự do, tỷ lệ
kẽm giữa hai phần đó là 2/1. Khi thiếu kẽm cơ thể phần kẽm tự do giảm, người ta cho
rằng transferin là chất vận chuyển kẽm trong máu. Trong hồng cầu kẽm tập trung vào
thành phần của enzym điều hòa sự kết hợp và phân ly CO
2
. Kẽm cũng nằm trong thành
phần của enzym cacboxipeptidase của tuyến tụy và hàng loạt các enzym dehydrogenase,
tham gia phản ứng phân giải acid lactic, rượu etylic và acid glutamic. Ngoài tác dụng
hoạt hóa đối với một số ít enzym, kẽm có tác dụng ức chế, ví dụ enzym thuộc loại
acetyl. Vì vai trò hoạt hóa và ức chế enzym, nên kẽm có tác dụng trong điều hòa trao
đổi chất dinh dưỡng.
d. Trao đổi
Kẽm sau khi vào cơ thể tập trung vào các kho ở các mô mềm, kẽm được trao đổi
nhanh chóng trong gan, tuyến tụy lá lách, ruột non và cả trong bào thai. Về ảnh hưởng
của tuyến giáp trạng đến trao đổi kẽm xác nhận một sự thật là khi dùng liều lớn Ca gây
phì đại tuyến giáp trạng và làm rối loạn chức năng của tuyến này, làm biến đổi sự phân
bố kẽm trong cơ thể. Nghiên cứu kỹ thuật về trao đổi kẽm trong vùng lưng bên của
tuyến tiền liệt thấy rằng sự trao đổi khoáng tuỳ thuộc vào trao đổi chất nói chung. Rất
có thể quá trình phát triển chủng loại từ thế hệ này sang thế hệ khác, đều cần một nồng
độ cao về kẽm trong chất tiết của tuyến tiền liệt. Việc bổ sung kẽm vào khẩu phần thức
ăn trong thực tiễn chăn nuôi cũng có ảnh hưởng tốt đến con đực. Con cái trong giai
đoạn sinh trưởng mạnh lại ít nhạy cảm với sự thiếu kẽm hơn so với con đực. Sự có mặt
trong thức ăn nguyên tố Ca chất đối kháng với kẽm làm cho buồng trứng thoái hoá, con
vật bị nâng xổi. Nghiên cứu về điều hoà trao đổi kẽm chưa được mấy, như đã chứng
minh trong quan hệ đối với sắt; sự hấp thu và bài tiết kẽm có ảnh đến một mối.
(Henning, 1984).

đồng kéo dài khoảng hai tuần (Henning, 1984).
Khẩu phần thiếu kẽm, tính thèm ăn của gia súc bị giảm ngay trong những ngày
đầu. Nếu thiếu ít thì triệu chứng bệnh xuất hiện sau một vài tuần. (Quarterman, 1998)
19

phát hiện thấy tính thèm ăn thay đổi từng ngày. Mức thèm ăn giảm có liên quan chặt chẽ
đến sự biến đổi trong niêm mạc ruột già (tăng lượng niêm dịch và biến đổi thành phần
của nó). Nhờ tăng lượng niêm dịch mà trung hoà acid và giảm nồng độ acid
glucoprotein và acid hyaluconic. Động vật non cũng như động vật trưởng thành qua một
thời gian ngắn đã có sự sai khác hàm lượng kẽm dù trong khẩu phần đủ hay thiếu kẽm.
Khi thiếu kẽm thì lượng kẽm trong các mô của cơ thể giảm xuống. Song nói đúng hơn
điều này chỉ biểu hiện ở một số cơ quan nhất định. Đặc điểm có tính quy luật này cũng
chưa được nghiên cứu mấy. Ở một số cơ quan (gan chẳng hạn) khi thừa Ca lượng kẽm
tăng lên, nhưng ở một số cơ quan khác thì hàm lượng kẽm lại giảm xuống. Thiếu kẽm
trong thức ăn dẫn đến thiếu kẽm trong xương, trong huyết tương, ruột non và biểu bì
lông. Nơi phản ánh nhanh chóng và rõ ràng tình trạng thiếu kẽm trong thức ăn là huyết
tương, máu, còn nói chung khó chẩn đoán được trạng thái thiếu nguyên tố này một cách
rõ ràng. Lông là nơi phản ánh tốt trạng thái thiếu kẽm. Ở heo khi thiếu kẽm mắt và da bị
19. Trích dẫn từ Trương Lăng và Nguyễn Văn Hiền, 2000
20
tổn thương bị sừng hóa, những loài khác triệu chứng hóa sừng ít gặp hơn, hoặc có thì
không kéo dài nhưng có dạng đặc trưng để chẩn đoán. Thường triệu chứng giảm dần,
nếu động vật chịu được hiện tượng thiếu kẽm. Tùy mức độ thiếu kẽm mà ảnh hưởng
nhiều hay ít đến tốc độ sinh trưởng của heo con đực cũng như con cái. Thiếu kẽm còn
làm chậm tuổi thành thục về giới tính, kẽm cần thiết cho sự tạo tinh trùng. Việc bổ sung
kẽm vào khẩu phần thức ăn, trong thực tiễn nuôi cũng có ảnh hưởng tốt đến con đực.
Khi thiếu kẽm không những làm giảm đồng hóa thức ăn, mà còn ảnh hưởng đến sản
21
hưởng đến sự hấp thu sắt, heo ăn khẩu phần chứa hàm lượng đồng kém thì sự hấp thu
sắt ở ống vị tràng yếu . Theo Bunch và ctv (1965) cho biết lượng đồng bổ sung cao làm
giảm lượng sắt bổ sung trong gan. (Miller, 1962)
20
nhận thấy khi ngộ độc đồng ở mức
425ppm được chữa khỏi bằng cách thêm vào 150 ppm sắt và 150 ppm kẽm. Điều này
chứng tỏ sắt, kẽm làm giảm lượng đồng dự trữ trong gan. Sự thiếu máu do thừa kẽm có
thể được ngăn ngừa bằng cách thêm đồng. Điều này chứng tỏ lượng thừa kẽm thích hợp
cho sự biến dưỡng đồng trong gan (Heller và Burke, 1972)
21
. Cung cấp một lượng lớn
mangan 1000 – 2000 ppm dẫn đến làm giảm lượng sắt trong các mô dự trữ (Henning,
1984).
3. Nhu cầu dinh dưỡng của heo con
Để chăn nuôi đạt hiệu quả, phải cung cấp đầy đủ các dưỡng chất và năng lượng theo
nhu cầu của heo con qua thức ăn. Do đó trong giai đoạn sau cai sữa cần phải cung cấp
đầy đủ thức ăn và cân đối các thành phần dưỡng chất thì heo con mới phát triển tốt
được. Theo Pond (1974) thì khoảng 5 tuần tuổi heo có thể sử dụng hữu hiệu nhiều loại
thức ăn khác sữa mẹ.
3.1. Nhu cầu dưỡng chất của heo con
Như đã nêu trên, nhu cầu dưỡng chất của heo con trong giai đoạn sơ sinh ít được đề cập
vì đã được cung cấp từ sữa mẹ. (NRC, 1998; TCVN 1547, 1994).

Bảng 2. Nhu cầu dưỡng chất của heo con.

Dưỡng chất
1 -5 5-10 10 -30
Lượng TĂ (kg/ngày)
ME, (kcal/kg)
CP (%)
Ca (%)
P (%)
Lys(%)
0,22
3880
24,0
0,90
0,70
1,66
0,38
3700
22,0
0,80
0,60
1,33
1,05
3400
18,0
0,65
0,55
1,06
3.2. Nhu cầu dinh dưỡng khoáng vi lượng hàng ngày ở heo con (tiêu chuẩn Nhật
Bản, 1993).

Bảng 4. Nhu cầu dinh dưỡng khoáng vi lương hằng ngày ở heo con

Ngoài ra, theo Brent (1975) thì heo con khi còn bào thai đã có một cuộc tập dượt
khi xuất hiện các nhu động ruột. Như thế, heo con có hoạt động tiêu hóa ngay sau khi
được sinh ra.
4.2. Thức ăn cho heo con.
Như thế, cần thiết phải cung cấp thức ăn ngoài sữa mẹ cho heo con, đặc biệt là
khi tuổi heo cai sữa sớm, khoảng 3 - 5 tuần tuổi. Theo English (1982) thì tuổi bắt đầu
cho heo con tiếp xúc với thức ăn là 7 ngày tuổi nếu heo con được tách mẹ lúc 21 ngày
tuổi. Thời điểm tập ăn ở heo được tách mẹ sau 4 tuần tuổi có thể là 10 - 14 ngày tuổi
(Aherne, 1982).
Vấn đề được các nhà nghiên cứu dinh dưỡng đưa ra để lưu ý khi phải sử dụng
thức ăn tập ăn cho heo con là phải theo nguyên tắc “sự phát triển từ từ” và “ít và thường
xuyên” để hạn chế sự xáo trộn, rối loạn tiêu hóa do việc sản xuất enzym tiêu hóa còn
giới hạn. Vì thế, theo Brent (1975) việc thành lập một công thức thực liệu phải chú ý
đến sự sản xuất của enzym để có thể tiêu hóa được chúng.
Một số sản phẩm như: SMR (Sow’s Milk Replacer, West Germany) (chất thay
thế sữa, Đức) thì khuyến cáo có thể dùng cho heo con từ 6 - 7 ngày tuổi như là một biện
pháp kích thích cho sự phát triển sớm, hoàn thiện hơn của hệ enzym tiêu hóa hơn là
nguồn cung cấp dưỡng chất chủ yếu.
Khẩu phần cho heo con từ lúc tập ăn phải dựa trên cơ sở là sữa gạn kem, thêm
dầu thực vật kết hợp với một số ít các thực liệu khác như bột cá chất lượng cao, tinh bột,
sucrose (English, 1982).
Cai sữa heo con từ 4 – 6 tuần tuổi thì khẩu phần thích hợp có 20% CP, 1% lysin,
13,0MJ DE/kg thức ăn với điều kiện có 5 - 10% sữa gạn kem. Ngoài ra, có thêm bột cá,
đậu nành, protein vi sinh vật, lúa mạch, bột bắp, khoáng, vitamin (Peter, 1982)
22

4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa ở heo con
Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1995) thì có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
tiêu hóa ở heo như:
1. Loại thức ăn khi sử dụng, thức ăn loãng thì tuyến nước bọt không tiết dịch

theo qui mô và trình độ nuôi dưỡng mà mức độ thiếu hụt và hậu quả của nó có ảnh
hưởng ở các mức độ khác nhau. Có thể do nhà chăn nuôi cung cấp không đủ số lượng
theo nhu cầu ở từng giai đoạn phát triển của heo, hoặc do độ hữu dụng của vi khoáng
không cao do quá trình tiêu hoá và hấp thụ của heo. Hiện nay các nhà chăn nuôi thường
sử dụng các hợp chất khoáng vi lượng ở dạng premix để bổ sung vào khẩu phần với
mục đích là làm tăng độ hữu dụng của vi khoáng và làm giảm lượng khoáng không
được hấp thu bài thải ra môi trường.
6. Cơ sở bổ sung khoáng vào khẩu phần.
Việc chọn premix khoáng để sử dụng cần phải đảm bảo nhu cầu của heo và phải
đảm bảo nhu cầu kinh tế. Do đó cần phải cân nhắc khi chọn premix khoáng theo các yếu
tố sau : thường thì các premix khoáng nói chung có các mức khoáng vi lượng cao hơn
khuyến cáo của các tổ chức dinh dưỡng (NRC, 1998 ; SCA, 1987 ; ARC, 1981). Lý do
là các premix phối hợp không được điều chỉnh theo nhu cầu, mà chỉ đạt ở mức an toàn
cho phép. Vì sự tương tác giữa các thực liệu, sự biến động giữa các thực liệu, sự giảm
mất hiệu lực, sự quá hạn đòi hỏi các giá trị có được cao hơn, các vấn đề sức khỏe cận
lâm sàng và điều kiện dưới mức tối ưu của trại.
Do đó, việc chọn lọc premix cần dựa vào tình trạng sức khỏe của đàn; tình trạng
khoáng của đàn heo hiện tại và quá khứ; thời gian tồn tại khẩu phần, thức ăn hạt,
premix; các kết quả nghiên cứu hiện tại và tương lai; sự ổn định của thực liệu; giá thành
so với giá hàm lượng/ thành phần của premix. Cuối cùng là tham khảo giá ở nhiều nơi.
Tương lai, các premix dẫn tới tốc độ về sự thải khoáng của heo làm ảnh hưởng đến môi
trường sống bị ô nhiễm. Vì thế đây là điều cần chú ý khi sử dụng premix khoáng cho
vật nuôi.
25
V. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương tiện thí nghiệm
- Heo con theo mẹ từ 7 ngày tuổi của những nái đẻ từ lứa 2 đến lứa 6 giống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status