Chương I
MỞ ĐẦU
An Giang là tỉnh có tổng đàn bò tương đối cao so với các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long . Trong đó 70-80% số bò tập trung tại 2 huyện Tònh Biên và Tri Tôn. Bên
cạnh đó An Giang là tỉnh có diện tích đất nông nghiệp lớn nên nguồn phụ phế phẩm
rất dồi dào thuận tiện cho phát triển chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi bò. Trong những
năm gần đây Nhà nước và các tổ chức đã có nhiều chính sách và chương trình để hỗ
trợ phát triển đàn bò như chương trình sinh hóa đàn bò, chương trình 327, chương trình
Heifer, chương trình xoá đói giảm nghèo, quỹ quốc gia giải quyết việc làm bằng
nguồn vốn ưu đãi với lãi suất thấp năm 2000 tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển kèm
theo nhiều chính sách ưu đãi đầu tư phát triển chăn nuôi bò của tỉnh. Để đánh giá
đúng hiện trạng chăn nuôi bò trong thời gian qua, xác đònh được những khó khăn
thuận lợi trong quá trình phát triển là thực sự cần thiết, từ đó có đònh hướng cho chiến
lược phát triển chăn nuôi bò của tỉnh An Giang trong những năm tới.
Xuất phát từ yêu cầu trên, Khoa Nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên Trường
Đại học An Giang thực hiện đề tài :
“ Đánh giá hiện trạng chăn nuôi và nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò trên đòa
bàn các huyện Thoại Sơn, Tònh biên, Tri Tôn tỉnh An Giang.”
Mục tiêu của đề tài tiến hành điều tra nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò, tập quán
và kỹ thuật chăn nuôi của người dân đòa phương. Những khó khăn tồn tại trong quá
trình phát triển đàn bò ở đòa phương. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp kinh tế kỹ
thuật để đẩy nhanh tiến trình phát triển chăn nuôi bò của tỉnh nhà.
1
Tầm vóc trung bình, đầu dài, trán dô, tai cụp mũi cong. Bò có bướu vai, yếm dậu rất
phát triển, lông có màu sắc nâu đỏ.
Bò đực có trọng lượng trưởng thành 400 - 450 kg, bò cái 300 - 350 kg, sản lượng
sữa từ 1400 - 2100 kg/chu kỳ 305 ngày, tỷ lệ mở sữa 5%. Tuổi đẻ lứa đầu 30 - 40
tháng, khoảng cách 2 lứa đẻ 13 - 18 tháng. Đây là giống bò kiêm dụng thòt sữa cày kéo
và thích nghi với điều kiện nóng ẩm của nước ta, được xem là bò chủ lực trong việc
sản xuất bò lai, để nâng cao tầm vóc của bò nội đòa.
2
2.1.3. Bò lai Sind:
Từ những năm 1920 -1924 giống bò Red Sind của n Độ và Pakistan được nhập
vào nước ta cả Bắc và Nam. Do lai giữa bò Red Sind và bò cái vàng ở các đòa phương
qua nhiều đời để tạo thành bò lai Sind. Bò lai sind có nhiều máu bò Red Sind cho
nhiều thòt hơn, khối lượng cơ thể cao hơn 50 - 70 kg, cày kéo khoẻ hơn gấp 1,5 lần, cho
sữa gấp 2,5 lần, tỷ lệ thòt xẻ tăng 13 % so với bò vàng Việt Nam (Lê Hồng Mận
2001).
Bò lai Sind có màu vàng hơi cánh gián, đầu dài trán dô, tai cúp, yếm phát triển,
có u ở vai, chân cao mình ngắn. Khi trưởng thành bò đực nặng 350 - 400 kg, bò cái
nặng 270-280kg, sản lượng sữa từ 850-900Kg. Tỉ lệ mỡ trong sữa 5-5.5%, tỉ lệ thòt xẻ
49%.Tỉ lệ đẻ 55-57% bê sơ sinh nặng 12-18kg.
Về khả năng sinh sản, bò cái thường cho giao phối từ 24-30 tháng tuổi, nếu
nuôi tốt có thể cho giao phối sớm hơn. Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 12-18 tháng, có
thể sử dụng bình quân 8-10 lứa cho một đời bò. Bò đực nuôi đến 2 năm tuổi mới có thể
con cái nặng 360kg, sản lượng sữa 2200kg/chu kỳ 300 ngày. 2.2. Thức ăn cho gia súc
2.2.1 Các giống cỏ
2.2.1.1.Cỏ Lông tây ( Brachiaria mutica)
Loại cỏ sống lâu năm, nhiều rễ, thân dài 0.6 – 2m, phân nhánh bò trên mặt đất,
mọc rễ đâm chồi ở các đốt, sau đó vươn thẳng lên cao khoảng 2m. Đốt có lông mềm
trắng. Lá hình mũi mác dài, đầu nhọn, gần hình tim ở gốc, có ít lông ở mặt dưới. Bẹ lá
dẹp có lông trắng mềm, lưỡi bẹ ngắn có nhiều lông.
Cỏ lông Para có nguồn gốc từ Nam Mỹ, ngày nay phân bộ khắp các vùng nhiệt
đới trên thế giới. Ở Việt Nam cỏ lông tây được nhập trồng vào Miền Nam năm 1887
tại các cơ sở nuôi bò sữa, nay trở thành cỏ mọc tự nhiên ở cả hai miền. Ở Miền Nam
cỏ phân bố cả những đòa hình có độ cao 800 -900 m. Cỏ lông Para ưa thích khí hậu
nóng ẩm, cỏ sinh trưởng tốt ở các vùng thấp. Nhiệt độ tối thiểu có thể sống là 8
0
C, nếu
lạnh hơn thì cỏ có thể lụi dần. Cỏ phát triển nhanh ở những nơi ẩm ướt tạo thành những
thảm cỏ dày và cao. Cỏ lông có khả năng chòu được ngập nước ngắn ngày, chòu mặn,
chòu phèn. Có thể sử dụng cỏ lông Para cho gia súc dạng tươi, ủ xanh hoặc phơi khô (
Nguyễn Đăng Khôi, 1981).
Thành phần chất dinh dưỡng trong thân lá cỏ lông Para : chất khô 23%, Protein
thô 2%, béo thô 1.4%, dẫn xuất vô đạm14.1%, xơ thô 5.5%.
2.2.1.2. Cỏ tự nhiên
2.2.1.4. Cỏ Voi
Loại cỏ sống lâu năm, tương tự như cây mía về hình dạng cũng như nhu cầu sinh
thái. Thân rễ cứng hoá gỗ, mang nhiều rễ khoẻ và ăn sâu. Thân cao 3-4m thẳng đứng
rỗng ruột, gồm có nhiều đốt. Cây ra hoa từ 6-8 tháng. Cỏ Voi mọc hoang dại ở những
vùng nhiệt đới với lượng mưa lớn hơn 1000mm của Châu Phi, được phát hiện vào năm
1908, cỏ voi được nhanh chóng lan đi khắp các vùng nhiệt đới và Á Nhiệt đới trên thế
giới.
Ở Việt Nam, cỏ voi ngày nay đã trở thành loại cỏ mọc tự nhiên ở một số nơi.
Cỏ voi chòu được hạn và khô hanh ngay cả trong những tháng khô, cỏ vẫn sinh trưởng
bình thường.
Thời gian thu hoạch cỏ voi lứa đầu khoảng 60-70 ngày sau khi trồng năng suất
lứa đầu khoảng 150-160 tấn/ha.
Cỏ Voi có thể thu hoạch 6-9 lứa trên năm, năng suất 200-250 tấn /ha/ năm. Cỏ
voi có thành phần dinh dưỡng cao hơn nhiều loại cỏ khác. Một kg cỏ tươi có 168g chất
khô, protein thô 95-110g/kg chất khô, glucid 13.5g, xơ 54g, Canxi 0.6g, phospho 0.7g,
năng lượng trao đổi 320 kcal.( Lê Hồng Mận, 2001)
2.2.1.5. Cỏ Sả
5
Cỏ sả có tên khoa học Panicum Maximun, là giống cỏ hoà thảo thân bụi như sả,
có hai giống cỏ sả đó là sả lá lớn và sả lá nhỏ. Cỏ sả sinh trưởng mạnh, năng suất cao,
chòu hạn khá, chòu nóng, chòu bóng cây, chất lượng tốt và dễ trồng. Cỏ sả phù hợp với
chân ruộng cao, đất pha cát, không chòu được ngập úng. Có thể nhân giống bằng hạt
hoăïc bằng hom nhánh ( Đoàn Hữu Lực,1999).
đạm 7.41%, canxi 0.12%, photpho 0.04% . (Nguồn Bùi Văn Chính, 1995).
2.2.1.7. Cỏ Stylo
Thuộc họ mọc bò thân bụi, không chòu được úng và sương muối. Trồng cỏ bằng
hạt 6-8kg/ha, bằng cành 3-4 tấn /ha, thu cắt 4-6 lứa/ năm, năng suất 30-40 tấn/ha.
6
Thành phần hóa học của thân lá cỏ Stylo vật chất khô 22.30%, protein thô 3.50%, lipit
0.50% , xơ thô 6.10%, khoáng tổng số 1.50%, dẫn xuất không đạm 10.70%, canxi
0.31%, photpho 0.05%. (Nguồn Bùi Văn Chính, 1995)
2.2.2. Cây thức ăn gia súc và phụ phẩm nông nghiệp
2.2.2.1. Rơm lúa:
Lúa là cây lương thực chính của Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới,
hàng năm rơm lúa được sản xuất với khối lượng khổng lồ, rơm được dùng để làm chất
đốt, sản xuất nấm rơm, đặc biệt là sử dụng cho trâu bò trong những lúc thiếu cỏ. Tuy
giá trò dinh dưỡng thấp nhưng nhờ khối lượng rất lớn và rất dễ dự trữ bảo quản nên rơm
lúa hiện nay là đối tượng cho nhiều chương trình nghiên cứu việc sử dụng một cách
hợp lý làm thức ăn cho trâu bò.
Lượng rơm lúa thường được tính theo năng suất ít khi được đo trực tiếp. Tính tỷ
lệ 1:1 giữa lượng lúa với lượng rơm ( một lúa, một rơm), tuy nhiên tỉ lệ này còn phụ
thuộc vào giống lúa và cách thu hoạch. ( Bùi xuân An, 1997).
Trong chăn nuôi các hộ nông dân thường dự trữ rơm cho những mùa hiếm thức
ăn cho gia súc, vào mùa khô thiếu cỏ rơm là thức ăn chủ yếu cho gia súc. Rơm có thể
cho ăn trực tiếp hoặc ủ với ure.
vào cuối thế kỷ XV người Bồ Đào Nha đã nhập vào Indonesia, từ Indonesia bắp được
mang sang Miến Điện và vào Đông Dương. Năm 1985 diện tích bắp trồng ở Việt Nam
là 397.300 ha, trong đó Đồng Bằng Sông Cửu Long có diện tích là 11.500ha. Năm
1995 diện tích bắp ở Việt Nam là 556.800 ha, trong đó Đồng Bằng Sông Cửu Long là
20.200 ha. Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, An Giang là tỉnh trồng bắp nhiều nhất (
8.600ha,1996) diện tích này đang gia tăng trong các năm gần đây nhờ ứng dụng nhanh
các giống lai cho năng suất cao vào sản xuất. An giang dẫn đầu về năng suất bắp tại
Việt Nam (6.53t/ha năm 1996) (Dương Minh,1999). Đối với bắp thu trái non khoảng
45-60 ngày tuổi số lượng vỏ bắp thu được là 3495kg/ha, tỉ lệ trái tươi trên thân chiếm
14.5%, thành phần trái tươi/vỏ chiếm 52%, ruột 33%, râu chiếm 15%.
Hạt bắp là loại thức ăn cung cấp năng lượng cơ bản trong dinh dưỡng của người
và gia súc gia cầm.
Thân lá bắp là thức ăn xanh có giá trò dinh dưỡng cao sử dụng cho gia súc đặc
biệt là gia súc ăn cỏ. Thân lá giàu bột đường (8-10%), đạm thấp (1-1.5%) và xơ (4-5%)
. Thân lá tươi được dùng ủ chua để làm thức ăn cho đại gia súc (thường thu hoạch trong
giai đoạn chín sữa) nhiều thí nghiệm cho thấy khi nuôi bò sữa, chỉ cần 5kg thân ủ tươi
là đủ để có 1kg sữa. Thân lá có thể sử dụng cho ăn xanh, ủ chua hoặc phơi khô tuy
nhiên vì hàm lượng đạm, canci thấp nên đối với bò, đặc biệt là bò sữa cần bổ sung
đạm và canci. Thành phần hóa học của thân lá bắp tươi thức ăn, vật chất khô 13.10%,
protein thô 1.4%, xơ thô 3.4%, dẫn xuất vô đạm 6.7%, khoáng tổng số 1.2%, lipid thô
0.4% ( Bùi Văn Chính, 1995).
Thân lá bắp ủ chua có hàøm lượng chất dinh dưỡng hàm lượng ME: 470Kcal/kg
thức ăn, vật chất khô 235g/kg, protein thô 11g, xơ thô 69g, dẫn xuất vô đạm 117g.(
nguồn Nguyễn văn Thưởng, 1995.)
2.2.2.3. Khoai Mì
nhiều vitamin A và giàu đạm 17-20% protein thô. Lá khoai mì có thể so sánh tương
đương với nhiều loại lá họ đậu. Sau khi thu hoạch củ lá khoai mì tận thu có năng suất
trung bình 2.4 tấn/ha, lượng lá này thu hoạch tuỳ theo giống khoai mì ( Bùi Xuân
An,1997). Tuy nhiên trong thân lá khoai mì có chứa hàm lượng độc tố Xyanoglucozit,
độc tố này làm cho gia súc chậm lớn hoặc có thể gây chết khi hàm lượng cao. Theo
PGS Bùi Văn Chính, với một số biện pháp chế biến sẽ làm giảm thiểu hàm lượng độc
tố trong thân lá khoai mì.
Bảng 3 :nh hưởng của phương pháp chế biến đến hàm lượng acid Xyanohydric trong
ngọn lá khoai mì :
Phương pháp chế biến Hàm lượng HCN (mg/kg vật chất
khô)
Dạng tươi 862.5
Sau ủ chua 32.5
Sau phơi nắng 4 giờ 260.6
9
Ngâm rửa 3 ngày 467.0
Bột lá khoai mì khô 90.2
2.2.2.4. Khoai lang:
Khoai lang tên khoa học là Ipomeca batatas, là một trong những cây lương thực
phổ biến ở vùng nhiệt đới. Khoai lang có nhiệt lượng hơn 1.5 lần khoai tây. Đạm trong
khoai lang không cân đối thiếu các acid amin Thiroxin, Xistein, Xerin, Glicin, alamin,
glutamid. Hàm lượng caroten khoảng 0.18-65mg/100kg khô, ngoài ra còn có các
vitamin khác như C, A, B, PP, acid Pantolenic. ( Bùi Xuân An, 1997)
giống, mùa vụ, đất đai và phân bón. Giá trò dinh dưỡng của dây đậu tương đương với
10
nhiều loại cỏ tốt (Bùi Xuân An 1993) . Dây đậu khô đạm 9-10%, xơ 25-30% có thể
dùng cho trâu bò ăn tươi hoặc khô khá ngon miệng. Thân lá đậu phộng sau khi thu
hoạch 3 -4 ngày, nếu không có biện pháp chế biến thích hợp sẽ nhanh chóng thối hỏng
không thể dùng làm thức ăn cho gia súc. Theo PGS Bùi Văn Chính,1995 sử dụng thân
lá đậu với 7% cám sẽ bảo quản được 1 năm và có thể thay thế trên 50% cỏ xanh trong
thành phần dinh dưỡng của bò sữa, tương đương với 22% năng lượng và 39% protein.
Thành phần dinh dưỡng của thân lá đậu ủ chua với 7% cám gạo dùng cho bò
gồm: Chất khô 27.1%, Protein 3.6%, Xơ thô 7.5%, Béo 1.6%, Tro 2.9%, năng lượng
trao đổi 550Kcal/kg vật chất khô.
Thành phần dinh dưỡng của thân lá đậu ủ chua với 7% cám gạo dùng cho heo
gồm: Chất khô 26.0%, Protein 3.9%, Xơ thô 5.8%, Béo 1.7%, Tro 2.8%, năng lượng
trao đổi 670Kcal/kg vật chất khô.
2.2.2.6. Cây đậu nành
Cây Đậu nành tên khoa học là Glicine max. Hạt đậu nành là loại thực phẩm có
giá trò dinh dưỡng cao đặc biệt tỉ lệ đạm khoảng 40%, dầu 20% nhiều khoáng và
vitamin. Hạt đậu nành cung cấp đạm chất lượng cao và năng lượng cho người và gia
súc. Bánh dầu dậu nành là loại thức ăn cung cấp đạm có giá trò dinh dưỡng cao cho
chăn nuôi. Sau khi hạt đậu chín, lá đậu nành hầu như rụng gần hết chỉ còn lại thân
cành, đây là phần có lượng protein thiêu hóa thấp, hàm lượng xơ cao, có thể dùng cho
trâu bò ăn, nhưng khi cho bò sữa cần bổ sung thêm thức ăn bổ sung.
Xác đậu nành hay bã đậu nành là phụ phế phẩm của quá trình chế biến hạt đậu
nành sống làm tàu hũ hoặc chế biến sữa đậu nành. Xác đậu nành có thành phần dinh
Phụ phẩm của mía bao gồm: ngọn (30%), lá(10%), Thân (60%), phụ phẩm chế
biến: bã (15%), rỉ đường(3%), cặn(2%).
Bảng 5 : thành phần dinh dưỡng của cây mía và phụ phẩm (%)
Nguyên liệu Chất khô Đạm Xơ Tro Béo Bột đường
Cả cây mía 32.4 9.0 30.5 5.3 1.5 53.7
Thân cây 15.2 6.9 31.5 8.7 0.8 52.1
Ngọn mía 25.6 6.3 35.0 6.2 2.2 50.3
Lá mía 30.5 5.9 36.3 9.1 1.7 47.0
Bã mía 90.3 1.9 45.0 8.0 1.0 44.1
Rỉ đường 66.0 1.2 0 5.1 0 93.7
( Nguồn: Bùi Xuân An, 1997)
.2.2.8. Trái thơm ( Ananas comonus)
Trái thơm có năng suất lá 80tấn lá/ ha/ năm. Lá có thể sử dụng cho gia súc ăn
xanh, ủ chua, phơi khô. Nên băm nhỏ khi cho gia súc ăn, ủ chua nên bổ sung rỉ đường,
chỉ dùng trên trâu bò, có thể bổ sung 15-20kg/con /ngày. Phụ phẩm sau khi đóng hộp
chiếm 50% năng suất trái, khoảng 10tấn/ha/năm. Vỏ khóm khó ủ vì nhiều nước và có
tính ăn mòn. Có thể ủ chung với cỏ khô hay cỏ tạp. Việc bổ sung nguồn tinh bột làm
cho quá trình ủ tốt hơn ( Bùi Xuân An,1997).
Thành phần hóa học của lá trái thơm gồm: chất khô 20%, đạm 9%, xơ 24%, tro
5%, béo 2.5%.
Thành phần hóa học của bột vỏ thơm gồm: chất khô 88%, đạm 3.5%, xơ 16%,
tro 5%, béo 0.5%. ( Bùi Xuân An,1997). 12
2.3. Các yếu tố kỹ thuật có liên quan
Loại bò CDCĐ(m) CNCĐ (m) DTCĐ (m
2
) DTXD (m
2
)
Bò đực giống 2.0 1.8 3.6 6.0
Bò Cái 1.6 1.0 1.6 3.0
Bê sơ sinh đến 6 tháng 1.0 0.9 1.6 3.0
Bò đẻ 2.0 1.5 3.0 6.0
Bê 7-14 tháng 1.2 1.0 1.2 2.0
Bê > 18 tháng 1.5 1.0 1.5 2.4
Bò vỗ béo 1.6 1.1 1.7 2.4
CDCĐ : chiều dài chỗ đứng
13
CNCĐ : chiều ngang chỗ đứng
DTCĐ : diện tích chỗ đứng
DTXD : diện tích xây dựng
+ Nền chuồng: Phải chắc chắn đảm bảo vệ sinh, dễ thu gom được phân và nước
tiểu. Có thể xây gạch đá và xi măng hoặc sử dụng tấm đúc. Nền chuồng phải đảm bảo
độ dốc 1,2-2%, rãnh thoát nước tiểu 2- 3%.
+ Tường : rất cần thiết để che mưa tránh gió nhưng phải đảm bảo thông thoáng
và có cửa ra vào. Đối với chuồng bò đẻ tường cần thiết để ngăn những ô tách mẹ với
con. Tường phải chắc chắn, tránh bò có thể nhảy qua được ( thường cao khoảng 1.2m).
+ Máng ăn, máng uống: Xây cố đònh và đảm bảo lòng máng trơn láng có lỗ
thoát nước để thuận tiện cho việc làm vệ sinh bên trong máng. Máng ăn phải xây theo
thiết. Đònh kỳ tẩy giun sán, kiểm tra và phát hiện sớm để phòng trò kòp thời.
2.3.3. Chỉ tiêu sinh lý sinh sản:
Các chỉ tiêu sinh lý sinh sản phụ thuộc vào giống bò, chế độ chăm sóc và nuôi
dưỡng. Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1 Nội dung
3.1.1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội các huyện trong vùng điều
tra.
3.1.2 Đánh giá hiện trạng đàn giống bò.
3.1.3 Điều tra nguồn thức ăn sử dụng cho chăn nuôi bò, tập quán sử dụng các
nguồn thức ăn và kỹ thuật chăn dắt quản lý bò của người dân trên đòa bàn các huyện
Thoại Sơn, Tònh Biên và Tri Tôn tỉnh An Giang
3.1.4 Đánh giá kết quả chăn nuôi tại các hộ gia đình và qui mô kinh tế trang
trại. Từ đó có ý kiến cho việc nâng cao năng suất hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn
có tại đòa phương.
3.2 Phương pháp
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu
Số liệu được xử lý trên máy vi tính. 16
C. Với nền nhiệt nhiệt cao đều trong năm giàu nắng, không có bão, điều
kiện khí hậu ở ba huyện nêu trên rất thuận lợi phát triển chăn nuôi bò.
4.1.1.3. Đặc điểm đòa hình
Huyện Thoại Sơn nằm trong vùng đồng bằng thuộc tứ giác Long Xuyên độ cao
trung bình của vùng từ 1,2-3 m và nghiêng đều xuống tới giáp Kiên Giang. 17
Huyện Tònh Biên và Huyện Tri Tôn là vùng đồi núi thấp chiếm phần lớn diện
tích của hai huyện. Tồn tại nhiều núi thành chuỗi với các đỉnh cao chừng 500-700m ,
cao nhất là núi Cấm với 710 m. Có 3 khu vực núi tập trung là núi Cấm, núi Dài, núi Cô
Tô. Ven núi là đồng bằng với độ cao từ 4-40m và có độ nghiêng phổ biến là 3-8
o
.
4.1.1.4. Đặc điểm thổ nhưỡng
Ba huyện Thoại Sơn, Tònh Biên và Tri Tôn có đặc điểm thổ nhưỡng đa dạng với
nhiều loại trong đó đất phù sa cổ và đất cát phong hóa xen lẫn đất phèn và đất than
bùn. Đòa hình phức tạp có nhiều đồi núi xen lẫn đồng bằng.
4.1.1.5. Đặc điểm nguồn nước
Huyện Tònh Biên, Tri tôn và một số xã vùng bán sơn đòa của huyện Thoại Sơn
trừ các đồi núi và vùng ven có cốt đất từ 4m trở lên, vùng đồng bằng chòu ảnh hưởng lũ
từ biên giới tràn qua và đổ ra biển tây theo hệ thống kinh trục mới được nhà nước đầu
tư nên mức độ thiệt hại giảm thiểu nhiều. Vào mùa khô nguồn nước sinh hoạt và sản
xuất rất hạn chế, đất ruộng trên chỉ canh tác nhờ vào nước mưa. Hệ thống hồ chứa
nước được đầu tư nhưng dung lượng thấp chưa đủ sức phục vụ rộng rãi dân cư trong
4.1.2.2. Cơ cấu kinh tế vùng
Đặc điểm của ba huyện Thoại Sơn, Tònh Biên và Tri Tôn có cơ cấu nông nghiệp
giữ vai trò chủ đạo.
18
Huyện Thoại Sơn có nông nghiệp chiếm 69%, Công nghiệp- xây dựng
chiếm 4.7%, Thương mại – Dòch vụ chiếm 26.2%.
Huyện Tònh Biên có nông nghiệp chiếm 60.9%, Công nghiệp- xây dựng
chiếm 9.1%, Thương mại – Dòch vụ chiếm 30.0%.
Huyện Tri Tôn có nông nghiệp chiếm 64.7%, Công nghiệp- xây dựng
chiếm 9.3%, Thương mại – Dòch vụ chiếm 27.9%.
4.1.2.3. Diện tích đất trong vùng điều tra
Huyện Thoại Sơn có diện tích đất 45.869ha trong đó đất nông nghiệp
chiếm 38.062, đất trồng cây hàng năm là 37.323ha.
Huyện Tònh Biên có diện tích đất 33.744 ha trong đó đất nông nghiệp
chiếm 21.703, đất trồng cây hàng năm là 19.829ha.
Huyện Tri tôn: có diện tích đất 59.805ha trong đó đất nông nghiệp chiếm
40.671ha, đất trồng cây hàng năm là 39.826 ha.
4.3.2.4 Tình hình chăn nuôi qua các năm
Bảng 7: Hiện trạng đàn bò qua các năm
Huyện 1996 1997 1998 1999 2000
Thoại Sơn 605 613 395 457 468