Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung
nghiên cứu, số liệu và kết quả được thể hiện trong luận án là trung thực và chưa
từng được công bố cho việc bảo vệ một học vị nào trong và ngoài nước.
Tôi xin cam đoan những tài liệu trích dẫn trong luận văn đều được thể
hiện rõ địa chỉ, nguồn gốc và tên tác quyền.
Tôi xin cám ơn các đồng nghiệp, các tác giả trong và ngoài nước đã cho
phép sử dụng tài liệu cho mục đích tham khảo, so sánh với nghiên cứu này.
Hà Nội, Ngày tháng năm 2014
___
Nguyễn Văn Ngọ i
Tác giả luận văn
NGUYỄN VĂN NGỌ
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gia học tập và rèn luyện tại khoa Chăn nuôi & NTTS, Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội, trải qua 4 năm học tập, rèn luyện với sự quan tâm
dạy dỗ và chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong trường, đến nay tôi đã hoàn
thành chương trình đào tạo. Nhân dịp này tôi muốn bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới:
Các thầy cô giáo và cán bộ công nhân viên chức trong trường, trong khoa
Chăn nuôi & NTTS đã dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong suốt 4 năm qua.
Thầy giáo, Ths. Lê Mạnh Dũng bộ môn Sinh học-Động vật, Trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội cùng các thầy cô trong bộ môn, những người đã quan tâm,
giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tôi tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện
đề tài.
Toàn thể công nhân viên Công ty TNHH Nhà nước một thành viên giống
gia súc Hà Nội, đặc biệt là các cô chú, anh chị làm việc tại Xí nghiệp bò Bãi
Vàng.
Các cô chú cán bộ làm việc tại phòng Kinh tế Nông Nghiệp, trạm Thú y
Bảng 4.12. So sánh khối lượng bê lai F1 (BBBxLai Sind) với bò khác 55
Bảng 4.13. khả năng tăng trọng của bê lai F1 (BBBxLai Sind) 56
Bảng 4.14. Kết quả theo dõi tăng trọng của bê lai F1 (BBB x Lai Sind) nuôi trong các điều
kiện khác nhau 58
___
Nguyễn Văn Ngọ iii
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Một số đặc điểm của chu kỳ động dục ở động vật nhai lại 9
Bảng 2.2. Khả năng sản xuất thịt của một số bê lai 15
Bảng 2.3. Thành phần dinh dưỡng một số loại thức ăn cho bò 16
Bảng 2.4. Một số công thức vỗ béo cho bò thịt 17
Bảng 2.5. Kết quả thụ thai khi phối giống cho bò ở những thời điểm 29
động dục khác nhau 29
Bảng 4.1. Giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ theo giá thực tế 41
Bảng 4.2. Tổng diện tích trồng cây nông nghiệp tại huyện Gia Lâm 42
Bảng 4.3. Cơ cấu đàn bò trong huyện Gia Lâm 43
Bảng 4.4. Một số chỉ tiêu sản xuất của đàn bò tại Gia Lâm 44
Bảng 4.5. Khẩu phần cho bò hướng thịt nuôi ở Gia Lâm 45
Bảng 4.6. Khẩu phần thức ăn cho bê lai F1 (BBB x Lai Sind) 47
Bảng 4.7. Khối lượng bò cái nền Lai Sind 49
Bảng 4.8. Tỷ lệ thụ thai của bò Lai Sind với một số giống bò khác 51
Bảng 4.9. Thời gian mang thai của bò Lai Sind phối với giống bò khác 52
Bảng 4.10. Thời gian động dục trở lại sau khi đẻ của bò Lai Sind 53
Bảng 4.11. Thời gian phối giống sau khi đẻ của bò Lai Sind 54
Bảng 4.12. So sánh khối lượng bê lai F1 (BBBxLai Sind) với bò khác 55
Bảng 4.13. khả năng tăng trọng của bê lai F1 (BBBxLai Sind) 56
Bảng 4.14. Kết quả theo dõi tăng trọng của bê lai F1 (BBB x Lai Sind) nuôi trong các điều
kiện khác nhau 58
___
2011 nước ta đã chi 35,25 triệu USD cho nhập khẩu thịt trâu bò tươi, ướp lạnh,
đông lạnh, tăng 40,87% (tương đương tăng 10,23 triệu USD) so với năm 2010.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nhập khẩu thịt bò tăng cao trong năm 2011
là do nguồn cung thiếu dẫn đến giá bán trong nước tăng cao, chất lượng thịt
chưa được nâng cao trong khi nhu cầu tiêu dùng lại tăng.
Nhằm nâng cao năng suất, chất lượng đàn bò thịt nhằm không ngừng thỏa
mãn nhu cầu tiêu dùng thịt bò chất lượng cao trong nước và xuất khẩu là một
vấn đề đang được Đảng và Chính phủ quan tâm. Quyết tâm của Chính phủ trong
việc phát triển đàn bò thịt nước ta cả về số lượng và chất lượng được thể hiện
trong Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Thủ
tướng Chính phủ. Đến 2020, đàn bò thịt cả nước đạt khoảng 12,5 triệu con,
trong đó tỷ lệ bò lai và lai chuyên thịt đạt trên 50%, sản lượng thịt ước đạt 200
nghìn tấn chiếm tỷ lệ 4% trong tổng sản lượng thịt xẻ các loại (Cục Chăn nuôi,
2009). Tuy nhiên, số lượng tổng đàn bò đang có xu hướng giảm dần qua các
năm, cụ thể năm 2010, tổng đàn bò cả nước ước khoảng 5.808,3 nghìn con, năm
2011, tổng đàn bò cả nước ước khoảng 5.436,6 nghìn con, đã giảm khoảng
371,7 nghìn con, bằng 93,6% so với năm 2010 (Tổng cục thống kê, 2012); Tỷ lệ
___
Nguyễn Văn Ngọ 1
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
bò lai và lai chuyên thịt chiếm tương đối thấp, khoảng 38 - 40% tùy theo vùng,
đạt 3,6 triệu tấn thịt hơi (Cục Chăn nuôi, 2010).
Khu vực Hà Nội là một địa điểm có nhiều tiềm năng phát triển chăn nuôi
bò thịt do điều kiện địa lí tương đối tốt và nhu cầu tiêu thụ thịt bò rất cao. Năm
2010, đàn bò trong khu vực Hà Nội ước khoảng 184,6 nghìn con, năm 2011, đàn
bò khoảng 173,3 nghìn con, chiếm tỷ lệ 3,2% tổng đàn bò cả nước (Tổng Cục
Thống Kê, 2012). Số lượng bò có chiều hướng giảm dần và tỷ lệ bò lai hướng
thịt có xu hướng tăng dần lên qua các năm cùng với các dự án cải tạo, nâng cao
năng suất chất lượng đàn bò thịt.
Đứng trước những yêu cầu cấp bách về chiến lược phát triển kinh tế, xã
trình như vậy, người ta gọi là phát dục của gia súc (Nguyễn Đức Hưng và cs,
2008).
Sinh trưởng là số lượng và phát triển là chất lượng. Quá trình sinh trưởng
của sinh vật bao gồm các quá trình phân chia của tế bào nhằm làm tăng số lượng
tế bào, tăng kích thước của tế bào, tăng tích lũy cơ sở vật chất trong tế bào thông
qua quá trình sinh tổng hợp Protein. Quá trình sinh trưởng gắn liền với quá trình
phát triển của cơ thể đó là sự hình thành các tổ chức, bộ phận mới và sự hoàn
thiện tính chất và chức năng của các bộ phận trong cơ thể, đó là sự phát triển
toàn diện của cơ thể cả về hình thái và chức năng trên cơ sở tính di truyền. Sinh
trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ phận hay
của toàn bộ cơ thể con vật (Đặng Vũ Bình, 2007).
2.1.1. Quy luật phát triển theo giai đoạn
Quá trình sinh trưởng phát dục của cơ thể gia súc nói chung và bò thịt nói
riêng trải qua hai giai đoạn lớn là giai đoạn trong bào thai và giai đoạn ngoài bào
thai. Mỗi giai đoạn có một đặc thù về sinh trưởng và phát dục riêng.
___
Nguyễn Văn Ngọ 3
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
2.1.1.1. Giai đoạn trong bào thai
Giai đoạn trong bào thai của bò được tính từ lúc trứng được thụ tinh tạo
thành hợp tử cho đến khi con vật được sinh ra, thời gian này kéo dài khoảng 285
ngày và chia ra làm các thời kì. Thời kì phôi thai (1-34 ngày); Thời kì tiền thai
(35 - 60 ngày); Thời kì thai (61-285 ngày) (Nguyễn Trọng Tiến và cs, 2001).
2.1.1.2. Giai đoạn ngoài bào thai
Bắt đầu từ khi con vật sinh ra đến khi già cỗi. Mỗi thời kỳ khác nhau bò
thịt có quá trình sinh trưởng, phát dục khác nhau, nhu cầu dinh dưỡng từng thời
kỳ cũng khác nhau. Nhìn chung, sinh trưởng thời kỳ đầu vẫn còn khá mãnh liệt,
đến giai đoạn trưởng thành con vật đi vào thế ổn định. Thời gian dài ngắn của
mỗi giai đoạn khác nhau tùy thuộc loài, giống gia súc. Tốc độ và cách thức sinh
tổng hợp protein chính là phương thức hoạt động của gene điều khiển sinh
Quy luật sinh trưởng bù là hiện tượng ở một giai đoạn nào đó sự sinh
trưởng bị kìm hãm do bị hạn chế thức ăn, nhưng đến giai đoạn sau nhờ nhận
được dinh dưỡng tốt hơn làm cho cường độ sinh trưởng của nó sẽ mạnh hơn so
với những con không bị ức chế để cuối cùng cũng đạt được khối lượng như
những con khác.
2.2. CẤU TẠO CƠ QUAN SINH SẢN VÀ SINH LÍ SINH SẢN Ở BÒ
2.2.1. Cơ quan sinh dục bò cái
2.2.1.1. Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của bò gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng gần
mút sừng tử cung, cạnh trước của xương ngồi hay ở phía dưới sừng tử cung.
Buồng trứng thường nằm trong xoang chậu khi chưa sinh sản.
Hình dáng của buồng trứng rất da dạng, nhưng phần lớn có hình bầu dục
hoặc hình ô van dẹt, không có lõm rụng.
Buồng trứng bên ngoài là một lớp màng liên kết, bên trong được chia làm
hai miền là miền vỏ và miền tủy. Hai miền này được cấu tạo bằng lớp mô liên
kết sợi xốp tạo cho buồng trứng một chất đệm. Trên buồng trứng của bò có từ
70.000-100.000 noãn bào ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Tầng ngoài là
___
Nguyễn Văn Ngọ 5
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
những noãn bào sơ cấp được phân bố tương đối đồng đều. Tầng trong là những
noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng. Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung
quanh là các tế bào noãn. Khi noãn bào chín sẽ được trồi lên trên bề mặt buồng
trứng. Đến một giai đoạn nhất định, noãn bào vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn
bào đi vào loa kèn và đi vào ống dẫn trứng. Nơi noãn bào vỡ ra sẽ hình thành thể
vàng và thể vàng tồn tại phụ thuộc vào tế bào trứng được thụ tinh hay không thụ
tinh. Nếu tế bào trứng không được thụ tinh thì thể vàng tồn tại không lâu, rồi tan
biến mất. Còn nếu trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại tới khi sinh đẻ. Thế
vàng tồn tại sẽ tiết ra Progesterone. Buồng trứng ngoài chức năng sinh ra tế bào
trứng còn tiết ra dịch nội tiết (trong đó có hormone Oestrogen)
Tử cung cũng được cấu tạo bởi 3 lớp:
Lớp ngoài cùng là lớp liên kết sợi mỏng.
Lớp giữa là lớp cơ trơn: Đây là lớp cơ khoẻ nhất trong cơ thể, nó giữ vai
trò quan trọng trong việc đẩy thai ra ngoài.
Lớp cơ trong cùng là lớp niêm mạc: Niêm mạc tử cung bò gấp nếp nhiều
lần làm cho tử cung không đồng đều tạo thành những thùy, gọi là thuỳ hoa nở.
Tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, hợp tử sau này phát triển thành thai
được là nhờ dưỡng chất từ cơ thể mẹ thông qua lớp nội mạc tử cung cung cấp.
Giai đoạn đầu hợp tử sống được một phần dựa vào noãn hoàng một phần dựa
vào "sữa tử cung" thông qua cơ chế thẩm thấu. Sau này giữa mẹ và con hình
thành hệ thống nhau thai.
Nội mạc tử cung và dịch tử cung giữ một vai trò chủ chốt trong quá trình
sinh sản như vận chuyển tinh trùng và trứng, tham gia điều hoà chức năng của
thể vàng, đảm nhận sự làm tổ của hợp tử, mang thai và đẻ.
2.2.1.4. Âm đạo (Vagina)
Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng
thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ. Trước âm đạo là tử
___
Nguyễn Văn Ngọ 7
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
cung, phía sau là tiền đình có màng trinh (hymen) che lỗ âm đạo. Cấu tạo âm
đạo cũng được chia làm 3 lớp: Tổ chức liên kết ở ngoài, cơ trơn ở giữa, lớp niêm
mạc ở trong.
2.2.1.5. Các bộ phận khác
Ngoài các bộ phận trên thì cơ quan sinh dục bò cái còn có : âm môn, âm
vật. Đây là những bộ phận sinh dục bên ngoài, có thể nhìn, sờ và quan sát được.
2.2.2. Sinh lí sinh sản ở bò cái
2.2.2.1. Sự thành thục về tính
Bò thành thục về tính khi nó đã sinh trưởng, và phát triển đến giai đoạn có
khả năng sinh sản. Lúc này cơ quan sinh dục bắt đầu sinh các tế bào sinh dục có
Trong một chu kỳ động dục thường có 2 pha. Pha thứ nhất là pha thể
vàng. Pha này kéo dài từ lúc hình thành thể vàng sau rụng trứng đến khi nó thoái
hoá ở cuối chu kỳ động dục. Pha thứ hai là pha noãn nang. Pha này bắt đầu từ
khi thể vàng thoái hoá và kết thúc bằng động dục và rụng trứng. ở bò, pha thể
vàng kéo dài 16-17 ngày và pha noãn nang kéo dài 3-5 ngày. Một số đặc điểm
của chu kỳ động dục của một số loài được trình bày ở bảng sau.
Bảng 2.1. Một số đặc điểm của chu kỳ động dục ở động vật nhai lại
Đặc điểm Cừu Dê Bò
Thời gian động dục (giờ) 24-36 24-48 18 (12-30)
Thời gian rụng trứng (giờ) 24-27 24-36 30 (18-48)
Độ dài chu kỳ động dục (ngày) 17 (1-19) 21 (18-22) 21 (14-29)
Viện Chăn Nuôi, 2011
2.2.2.3. Động dục của bò cái và thời kỳ phối giống thích hợp
Động dục là lúc mà bộ máy sinh dục của bò cái chuẩn bị mọi điều kiện
để thụ thai, cũng là lúc bò cái muốn gần bò đực, bò cái động dục trong khoảng
18-36 giờ và sau khi đẻ 20-28 ngày thì bò cái có thể động dục trở lại.
2.2.2.3.1. Biểu hiện của động dục
Động dục bình thường kéo dài khoảng 6-30 giờ.
___
Nguyễn Văn Ngọ 9
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
Trong thời kỳ động dục con cái biểu hiện các dấu hiệu điển hình về các
hành vi này do khối lượng lớn oestrogen tiêt ra từ các noãn nang trước khi rụng
trứng tác động đến não gây ra. Các dấu hiệu này là: Bồn chồn, nhảy lên các bò
cái khác, đứng yên cho con khác nhày lên, từ tử cung giải phóng một lượng
niêm dịch dạng sợi trong suốt được xem là các sợi thu hút con đực. Các biểu
hiện bên ngoài về hoạt động tính dục có thể nhìn thấy được là âm hộ trở nên
sưng, đỏ, lông và đuôi xù lên, có các vết cọ sát ở phần đầu của đuôi và các
xương đuôi nhỏ.
Biểu hiện ở cơ quan sinh dục: Âm hộ sưng, mép trong âm hộ màu đỏ,
đó.
Sau khi rụng trứng khoảng trống do noãn nang rụng đi để lại ở trong
buồng trứng được lấp đầy bởi các tổ chức có màu da cam hơi vàng và sau 5
ngày hình thành thế vàng. Thể vàng sản sinh ra progesterone cần thiết để duy trì
thai. Sau 5-6 tháng thai nghén các cấu trúc khác như nhau thai sản xuất đủ
progesterone để duy trì thai cho đến sau khi sinh. Progesterone cũng tác động
đến não, ức chế giải phóng hormone tuyến yên và ngăn cản bò có thai động dục.
Nếu bò cái không có thai, tử cung sẽ giải phóng prostaglandin khoảng 16-
17 ngày sau khi rụng trứng. Các prostaglandin làm tiêu tan thể vàng và như vậy
ngăn cản sự sản xuất tiếp tục progesterone. Tiếp theo đó hormone kích thích
noãn nang (FSH) được giải phóng từ tuyển yên bò và làm cho chu kỳ động dục
mới bắt đầu. FSH co thể tạo khả năng cho một hoặc nhiều noãn nang đang phát
triển có kích thước nhỏ (đường kính 1-2 mm) lớn lên đủ kích thươc để rụng
trứng. Một con cái sẽ tiếp tục chu kỳ động dục 21 ngày một lần trừ khi nó có
thai hoặc chịu stress về dinh dưỡng làm cho não giảm sản xuất hormone từ
tuyến yên.
2.2.2.5. Chửa
Phôi thai rời khỏi ống dẫn trứng và đi vào tử cung vào ngày thứ 6 hoặc
thứ 7. Một số ngày sau đó phôi bám vào vách tử cung. Sau đó phôi giải phóng ra
các tín hiệu hoá học nhắc nhở các hệ thống ở bò cái về sự hiện diện của nó. Điều
___
Nguyễn Văn Ngọ 11
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
này ngăn cản tử cung bò giải phong prostaglandin làm tiêu tan thể vàng, chấm
dứt việc chửa. Không phải toàn bộ sự thụ thai đều đưa đến có chửa. Bình thường
khoảng 25% phôi bị mất đi trong vòng 17 ngày từ khi thụ thai. Điều này có thể
là do khuyết tật nhỏ về di truyền hoặc phôi không có khả năng chuyển được các
tín hiệu hoá học mạnh đến hệ thống hormone của bò. Trên thực tế một tỷ lệ có
thai 75% là tỷ lệ có thể đạt được ở một chu Kỳ động dục đơn. Điều này giải
thích tại sao 3 chu kỳ động dục hoặc nhiều hơn (tối thiểu 9 tuần) là cần thiết để
Khả năng tiết sữa của con mẹ là nhân tố quyết định chủ yếu sự sống sót
của bê va khối lượng cai sữa ở bê. Yêu cầu về thức ăn và năng lượng của bò cái
ở thời kỳ sau của giai đoạn có chửa và ở giại đoạn tiết sữa rất cao. Những người
sản xuất có thể xác định điều này bằng cách đánh giá thay đổi điểm thể trạng ở
bò cái.
2.3. LAI GIỐNG VÀ MỘT SỐ HỆ THỐNG LAI GIỐNG BÒ THỊT
Lai giống là phương pháp nhân giống được ứng dụng rộng rãi trong chăn
nuôi gia súc nhằm tăng mức độ dị hợp và làm giảm mức độ đồng hợp. Phương
pháp nhân giống này làm cho tần số kiểu gene đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi
còn tần số kiểu gene dị hợp tăng lên. Lai giống sẽ tạo ra đời con lai có sức sống
tốt hơn, khả năng thích ứng và chống đỡ bệnh tật cao hơn, đồng thời làm tăng
khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho sản phẩm (Nguyễn Văn Thiện, 1995).
Lai giống vừa lợi dụng tác động cộng gộp và không cộng gộp của gene.
Mục đích của lai giống là thông qua các phương pháp lai cụ thể để làm tăng khả
năng cho sản phẩm như thịt, trứng, sữa ở thế hệ con lai, đồng thời cũng là điều
kiện hình thành giống mới. Hiện nay các giống mới hình thành phần lớn là do lai
tạo. Lai giống cũng có mục đích lợi dụng một hiện tượng sinh học quan trọng,
đó là ưu thế lai. Phương thức này hiện đang được ứng dụng rộng rãi trong lai tạo
giống bò thịt.
Theo Nguyễn Xuân Trạch và cs. (2006), những lý do cơ bản để thực hiện
lai giống trong chăn nuôi bò thịt là:
___
Nguyễn Văn Ngọ 13
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
Sử dụng ưu thế lai, có nghĩa là khai thác sức sống và sức sản xuất vượt
trội có được ở con lai so với các cá thể thuộc giống thuần của bố mẹ.
Khai thác các ưu điểm của các giống khác, có nghĩa là để tổ hợp được các
đặc tính tốt của giống bố và giống mẹ ở trong thế hệ con lai.
Thay thế đàn, có ý nghĩa sử dụng các cá thể con lai vào mục đích sinh
sản.
BBB
F1
Charolais
F1 Santa
Getrudis
F1
Hà Việt
Lai Sind
Khối lượng giết mổ (Kg) 378 243 260 240 244
Tỷ lệ thịt xẻ (%) 60,3 50,6 53,4 49,8 46,3
Tỷ lệ thịt tinh (%) 48 40,6 44,5 39,8 38
Nguồn: Tổng hợp số liệu
2.4.2. Yếu tố dinh dưỡng
Quá trình phát triển của con vật sẽ phụ thuộc rất lớn vào mức độ dinh
dưỡng. Nếu mức dinh dưỡng cao, con vật sẽ sinh trưởng nhanh và đạt khối
lượng tối đa trong thời gian ngắn. Nếu mức dinh dưỡng thấp, con vật sẽ sinh
trưởng chậm, thời gian nuôi kéo dài. Không chỉ có vậy, mức dinh dưỡng còn
ảnh hưởng đến sự tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể con vật (chất lượng
sản phẩm).
Một thí nghiệm sử dụng khẩu phần gồm cỏ voi, bột sắn, urê và rơm lúa để
nuôi vỗ béo bò Lai Sind giai đoạn 15-18 tháng tuổi trong thời gian 90 ngày tại
Huế năm 2006 đã cho thấy, tăng khối lượng của bò ở các lô được cho ăn bột sắn
cao hơn bò không được ăn bột sắn từ 114-315g/con/ngày (tương đương 48,10
đến 132,91%). Bổ sung bột sắn +2% urê vào trong khẩu phần cơ sở là cỏ voi và
rơm lúa đã đem hiệu quả chăn nuôi bò thịt cao hơn so với không bổ sung, trong
đó ở mức 1,32% bột sắn thu thêm 6930 đồng và lãi 3018 đồng/con/ngày so với
đối chứng (Nguyễn Hữu Minh và cs, 2006).
Thân cây lạc là một loại phụ phẩm nông nghiệp có hàm lượng protein cao,
khi sử dụng nuôi bò vỗ béo sẽ giảm giá thành và nâng cao hiệu quả kinh tế cho
sản xuất. Năm 2008, tại Quảng Trị một nghiên cứu sử dụng khẩu phần gồm
đều hơn giữa tỷ lệ Protein và Năng lượng. Rơm ủ Urê thực chất là một sản phẩm
đã qua xử lý, mang lại giá trị dinh dưỡng rất cao, hơn nữa, đây được coi là
nguồn thức ăn dự trữ cho đàn bò vào mùa khan hiếm thức ăn.
___
Nguyễn Văn Ngọ 16
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
Bảng 2.4. Một số công thức vỗ béo cho bò thịt
Nguyên liệu
Công thức
1 2 3 4
Sắn lát (%) 40 40 50 50
Bột ngô (%) 10 10 10 10
Rỉ mật (%) 30 30 20 20
Khô dầu lạc (%) 18 12 18 12
Bột keo dậu (%) - 6 - 6
Urê (%) - 0.5 0.5 1
Bột xương (%) 1 1 1 1
Muối ăn (%) 1 0,5 1 0,5
Kỹ thuật nuôi bò thịt, Đinh Văn Cải
Trong điều kiện chăn nuôi gia đình ở nước ta có hai cách vỗ béo.
Vỗ béo bằng chăn thả: Chăn thả bò trên bãi chăn 8-10 giờ mỗi ngày để
tận dụng cỏ tươi mà không tốn công phu cắt và vận chuyển về chuồng. Ban đêm
bổ sung thêm thức ăn tinh và muối ăn. Cách vỗ béo này áp dụng cho những nơi
có đồng bãi chăn thả rộng và năng suất cỏ tươi tương đối khá, bảo đảm cho trâu
bò mỗi ngày thu lượm được 20-25kg cỏ tươi.
Vỗ béo bằng hình thức bán chăn thả: Áp dụng cho những nơi ít bãi chăn
(như vùng đồng bằng, vùng ven đô, khu công nghiệp). Bò chỉ tận dụng được
một phần hoặc một nửa khẩu phần thức ăn trên bãi chăn. Phần còn lại phải bổ
sung tại chuồng nuôi, trong đó phải lưu ý đến thức ăn tinh.
Theo Đinh Văn Cải, 2009, nhu cầu thức ăn và năng lượng vỗ béo bò: Để
sinh trưởng và phát triển của chúng.
Khi điều kiện môi trường khắc nghiệt thì nuôi các giống địa phương có
lợi hơn nhập nội vì các giống này đòi hỏi điều kiện ngoại cảnh thuận lợi mới thể
hiện được tiềm năng di truyền ưu việt. Theo nghiên cứu của Burns và cs. (2001),
khả năng sản xuất thịt của gia súc là do tương tác giữa các kiểu gene với môi
trường. Nhìn chung, các giống bò chuyên dụng sản xuất thịt có quá trình sinh
trưởng rất cao trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt, đồng cỏ thâm canh và
các điều kiện môi trường thuận lợi.
___
Nguyễn Văn Ngọ 18
Báo Cáo Tốt Nghiệp Khoa Chăn Nuôi & NTTS-ĐHNNHN
2.5. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH SẢN Ở BÒ
2.5.1. Nhân tố bên trong (nhân tố di truyền)
Các tính trạng sinh sản thường có hệ sô di truyền (h) rất thấp. Ở bò hệ số
di truyền về khoảng cách giữa hai lứa đẻ h
2
= 0,05 - 0,10, khả năng đẻ sinh đôi
h
2
= 0,08 - 0,10 và độ dài sử dụng bò có h
2
= 0,15 - 0,2 (Venge, 1961).
Hầu hết các biến đổi quan trọng quan sát thấy về khá năng sinh sản đều
do ánh hưởng của điều kiện ngoại cảnh. Nhìn chung nhiều công trình nghiên
cứu về gen ảnh hưởng đến sinh sản chưa được đề cập đến nhiều, mặc dù gen ánh
hưởng đến sinh sản bẳng 3 con đường:
Có thể những gen gây chết, nửa gây chết, làm trứng không thụ tinh rồi
chết.
Do rối loạn nội tiết di truyền làm ảnh hưởng đến các Hormon hướng sinh
dục, từ đó gây ảnh hưởng đến sinh sản.
giống, nó ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai và đẻ của gia súc cái. Các nhà nghiên cứu
đã chứng minh được rằng: Sau khi giao phối hoặc thụ tinh nhân tạo từ 3-4h tinh
trùng trong đường sinh dục của bò cái đã di chuyển đến ống dẫn trứng và giữ
khả năng thụ tinh trong vòng 20-30h (A.A.Xukhaep, 1975).
Còn theo Paplop.V.A(1976), Sipilop.V.S(1976) cho rằng thời gian di
chuyển của trứng từ khi rụng đến vị trí thụ tinh trong khoảng vài giờ. Thời điểm
rụng trứng của bò cái nằm trong khoảng 10-15h sau khi kết thúc động dục. Nên
cần chọn thời gian phối phù hợp để đạt tỷ lệ thụ thai cao.
2.5.2.3. Thời tiết khỉ hậu
Thời gian chiếu sáng, nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí là những yếu
tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của động vật. Thí nghiệm thời
gian chiếu sáng trong ngày bằng phương pháp nhân tạo có tác dụng kích thích rõ
rệt chức năng sinh sản và làm thay đổi mùa sinh dục ở thú cho lông và gia cầm
đẻ trứng. Sinh sản theo mùa thể hiện rõ rệt ở động vật hoang dã và một số loài
gia súc như cừu, trâu, ngựa, đó là quãng thời gian trong năm mang lại nhiều điều
kiện thuận lợi cho hoạt động sinh sản. Đối với bò, nếu được nuôi dưỡng phù
___
Nguyễn Văn Ngọ 20