đánh giá khả năng sinh trưởng và theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn chuột nhắt trắng giống swiss tại viện kiểm định quốc gia vắc xin và sinh phẩm y tế (2) - Pdf 24

Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nói đến loài chuột người ta thường nghĩ ngay đến chuột phá hoại mùa
màng, truyền dịch bệnh gây hại cho con người. Tuy vậy, ngoài những tác hại do
chúng gây ra, loài chuột cũng có những điểm rất có ích đối với khoa học.
Từ năm 1889, loài chuột bắt đầu được sử dụng làm vật nghiên cứu trong
phòng thí nghiệm. Chuột được dùng làm thí nghiệm do thời gian mang thai, sinh
trưởng và vòng đời ngắn nên các nhà khoa học có thể sớm thấy những gì diễn
biến trong nghiên cứu. Hơn nữa, hệ gen của chuột tương đối giống người. Vì
vậy, chuột được dùng để nghiên cứu các chứng bệnh và vắc xin có thể sẽ được
dùng để phòng bệnh cho con người.
Tại Viện Kiểm định Quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm y tế, sử dụng nhiều
chuột nhắt trắng, hàng năm cần trên 10.000 con phục vụ công tác kiểm định chất
lượng vắc xin và sinh phẩm y tế.
Để chủ động cho việc cung cấp động vật thí nghiệm nói chung và chuột
nhắt trắng nói riêng đảm bảo số lượng và chất lượng, các cơ sở chăn nuôi động
vật thí nghiệm cần biết được nhu cầu sử dụng. Đặc biệt phải có sự hiểu biết rất
rõ về các đặc tính sinh lý sinh sản của loài động vật được nghiên cứu.
Cũng như các loài động vật có vú khác, sinh sản ở chuột nhắt trắng chịu
ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: độ tuổi sinh sản, lứa đẻ, điều kiện nuôi
dưỡng, . Những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn tới tỉ lệ động dục, khả năng thụ
thai, số con đẻ ra và số con thu được sau quá trình nuôi theo mẹ. Ở động vật đa
thai, trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng thì độ tuổi sinh sản và lứa đẻ là 2
nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sinh sản tại thời điểm đó.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
1
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
Để tìm hiểu vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả
năng sinh trưởng và theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn chuột nhắt

nhất đối với đời sống con người.
+ Sức sản xuất của vật nuôi tiến theo hướng nhất định: không những sức
sản xuất của vật nuôi so với động vật hoang dã đã được thay đổi, được nâng cao
rệt mà còn đi vào những hướng nhất định theo nhu cầu đời sống của con người.
Ngoài những thay đổi cơ bản trên vật nuôi còn có những thay đổi về ngoại
hình, tính tình và chức năng của các bộ phận. Như hoạt động của bộ máy sinh
dục của gia súc cũng khác thú hoang. Thú hoang thường sinh sản theo mùa còn
gia súc có thể sinh sản quanh năm, có các chu kỳ động dục đều đặn.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
3
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
Một số đặc tính mới của gia súc là thành thục sớm, mức độ vỗ béo nhanh,
khả năng sử dụng và tiêu hóa các chất dinh dưỡng tăng, thời kỳ có chửa ngắn
nhưng tính miễn dịch kém.[2]
2.2. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CHUỘT THÍ NGHIỆM
Người ta không biết chắc chắn con người bắt đầu nuôi chuột thành vật
nuôi từ khi nào, nhưng hầu như mọi người đều tin rằng người Trung Quốc là
những người đầu tiên nuôi chúng. Người ta thấy có những bản ghi chép về giống
chuột đốm và chuột trắng ở Trung Quốc từ 1100 năm trước công nguyên. Chuột
nhắt trắng cũng được các nhà viết sử thời Hy Lạp và La Mã nhắc đến.
Vào những năm 1700, đã có chuột nuôi, buôn bán làm vật cảnh ở Trung
Quốc, Nhật Bản và châu Âu. Vào thời Nữ hoàng Anh Victorya, đã có giải
thưởng cho chuột cảnh “fancy”. Năm 1895, Walter Maxey khởi xướng, người
Anh sáng lập ra “Câu lạc bộ Chuột quốc gia”. Đến thế kỷ XX đã có rất nhiều
con chuột cảnh có màu lông khác nhau do lai tạo đột biến.
Vào thời kỳ này, học thuyết di truyền của Gregor Mendel người Hà Lan
đã tác động mạnh lên giới khoa học, chuột nuôi đã được chọn là động vật thí
nghiệm nghiên cứu di truyền. Năm 1902, chuột là động vật có vú đầu tiên dùng
để chứng minh Định luật Mendel. Người ta cũng nhanh chóng nhận ra cần phải

và có thể theo dõi được cả vài thế hệ. Điểm quan trọng và quý giá nhất là đặc
điểm sinh lý và di truyền học của chuột rất gần với con người. Trên thực tế, mặc
dù tinh tinh (chimpanzee) có cấu trúc di truyền DNA 99% giống với con người,
và chuột có 98% bộ gen với con người, nhưng chuột vẫn luôn luôn là mẫu hình
nghiên cứu được ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu y học. Trong một thập niên
gần đây, các nhà khoa học còn nâng cấp mô hình nghiên cứu chuột lên một tầm
cao mới là có thể làm thay đổi cấu trúc gen trong chuột để gây ra các bệnh lý
giống như bệnh lý ở người.[8]
Đáng ghi nhận nhất ở Mỹ là bà Abbie Lathrop, một giáo viên nghỉ hưu,
thích chuột và nuôi chúng trong một trang trại của mình ở Massachusetts vào
đầu thế kỷ XX. Năm 1902, các dòng chuột nuôi của bà trở thành những con vật
đầu tiên được Giáo sư Ernest Castle đưa vào phòng thí nghiệm của Đại học
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
5
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
Harvard và sau đó là Đại học Pennsylvania, khi chúng được phát hiện thấy có
mọc các khối u. Sau đó, học trò của Ernest là Clarence Cook Little (1888-1971)
là người có công đầu trong việc tạo các giống chuột lai thuần chủng, lần đầu tiên
được dùng trong nghiên cứu các bệnh ung thư có tính di truyền. Ông đã tạo ra
giống chuột DBA (Dilute, Brown, Agouti), tạm gọi là chuột thí nghiệm; các
chủng chuột đầu tiên do Little lai tạo và vẫn thông dụng cho đến hiện nay là
CBA, C3H, C57BL/6 và BALB/c. Little cũng chính là người đã thành lập Phòng
thí nghiệm Jackson năm 1929, cho đến nay vẫn là một trong những nơi cung cấp
các giống chuột thí nghiệm lớn nhất thế giới.[8]
Chuột thuần chủng là các loại chuột dùng cho các kiểm nghiệm an toàn
thuốc, thực phẩm, mỹ phẩm, cung cấp các nguồn tế bào phôi, tế bào gốc, cung
cấp tế bào lai, sản xuất các chế phẩm sinh y học, nghiên cứu hoá chất gây ung
thư… hay trong giảng dạy.
Chuột chuyển gene dùng để nghiên cứu cơ bản: gene, làm mô hình nghiên

* Những tiến bộ trong việc tạo giống chuột trong phòng thí nghiệm
Mặc dù chuột được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu y sinh học
nhưng không phải tất cả các loại chuột đều dùng được. Các chủng chuột dùng
trong nghiên cứu y sinh hiện đại đều phải có cấu trúc di truyền xác định rõ. Các
chủng chuột đã xác định về mặt di truyền đều phải có cấu trúc giống hệt hoặc rất
sát nhau để có thể tái sinh sản theo cách cho lai thuần chủng các thế hệ trong
thực nghiệm và để cho có thể biết được kiểu hình và kiểu gen. Những thập niên
gần đây, các nhà khoa học đã có thể tạo ra những con chuột thí nghiệm có cấu
trúc di truyền hoặc có kiểu hình bệnh lý theo ý muốn qua các phương thức
chuyển hoặc tách gen. Chuyển và tách bỏ gen trong chuột để phục vụ cho mục
đích nghiên cứu là một cuộc cách mạng trong công nghệ sinh học. Chuột chuyển
gen là chuột được cấy vào cơ thể một gen ngoại lai và chuột tách gen là tách bỏ
hoặc bất hoạt một hay một đoạn gen đặc hiệu nào đó.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
7
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
Chuột nhắt trắng, tên khoa học là Mus musculus domesticus, được lựa
chọn là mô hình nghiên cứu chuẩn trong phòng thí nghiệm y sinh do khả năng
thích nghi cao và khả năng có thể lai tạo các dòng gen thuần chủng tiện lợi cho
nghiên cứu các bệnh có liên quan mật thiết với bệnh lý ở người. Đặc biệt từ khi
công nghệ chuyển và tách gen kỹ thuật cao ra đời, chuột càng chứng tỏ là một sự
lựa chọn đúng đắn của con người trong nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn một
chủng chuột đặc hiệu, chủng 129 và các chủng phụ của nó được coi là đặc biệt
giá trị do chúng có thể tạo các bào gốc phôi có khả năng thay đổi được cấu trúc
di truyền trong quá trình nuôi cấy và rồi được đưa trở lại vào trong tử cung của
chuột vật chủ. Các nghiên cứu sử dụng biện pháp biến đổi gen trực tiếp của các
chủng phụ nhóm 129 đã cho phép công nghệ tạo đột biến gen theo ý muốn để
tạo ra các giống chuột có các đặc tính bệnh lý đặc hiệu, hay còn gọi là chuột
chuyển gen (transgenic mouse) hoặc chuột tách bỏ gen (knockout mouse) cũng

hơn vào thời gian chuyển từ tối sang sáng và từ sáng sang tối.
Mắt của chuột không tinh lắm, nhưng chúng rất nhạy với mùi. Ban
ngày chuột cũng rất lanh lợi, mặc dù chúng thường hoạt động về đêm, đó là
chiến lược để sống sót. Ngay cả với chiến lược này thì hàng triệu con chuột
vẫn là mồi của nhiều loài thú săn khác, trong lưới thức ăn tự nhiên, ngày cũng
như đêm. Người ta cho rằng chuột không phân biệt được màu sắc mà chỉ có 2
màu đen và trắng.
Chuột nhắt trắng rất nhạy cảm với mùi, tiếng động và thay đổi thời tiết.
Tuy nhiên, loài vật này lại kém nhạy cảm với màu sắc đặc biệt là màu đỏ. Vì
thế, đối với phòng nuôi chuột nhắt trắng cần đảm bảo luôn sạch sẽ, thoáng mát
và tránh tiếng động mạnh.
Ria chuột thường dài và rất nhạy cảm với các rung động trong không khí.
Vì thế chuột có thể phát hiện các thứ xung quanh nó. Một số lông cũng nhạy
cảm với các rung động.
2.3.1 Sinh trưởng của chuột nhắt trắng Swiss
Chuột nhắt trắng có kích thước nhỏ, khi trưởng thành chiều dài chỉ đạt 12-
15cm tính từ mũi tới đuôi, chiều dài của đuôi dài tương đương chiều dài của cơ
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
9
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
thể. Chuột đực thường có kích thước lớn hơn so với chuột cái. Tuy nhiên, kích
thước và trọng lượng của chuột phụ thuộc nhiều vào giới tính, độ tuổi, chế độ
ăn, số lượng chuột được nuôi trong mỗi lồng và đặc biệt là điều kiện môi trường
nuôi dưỡng. Chuột nhắt trắng động dục sớm từ khoảng 5-7 tuần tuổi ở chuột đực
và 4-6 tuần tuổi ở chuột cái, tuổi thành thục sinh dục ở chuột đực là 10 tuần và
chuột cái khoảng 8-10 tuần, chuột cái có thể có chu kỳ động dục lần đầu khi mới
25-28 ngày tuổi. Thời gian mang thai của chuột ngắn khoảng 20 ngày, số lượng
con sinh ra mỗi lứa từ 4-15 con, đây là đặc điểm rất thuận lợi để tạo ra một số
lượng động vật thí nghiệm lớn trong một khoảng thời gian ngắn[14].

chúng có thể lấy đủ nguồn nước cần thiết từ nguồn thức ăn của chúng. Hơn nữa,
chuột nhắt có chức năng cơ thể đặc biệt giúp chúng có khả năng giữ nước khi
nguồn nước hiếm hoặc khi hạn hán.
2.3.2. SINH SẢN Ở CHUỘT NHẮT TRẮNG
a.Sinh sản của động vật có vú
Bản chất của sinh sản là một quá trình hết sức phức tạp của cơ thể động
vật đồng thời là chức năng tái sản xuất của động vật.
Để tăng cường chức năng này nhằm nâng cao sức sản xuất của đàn gia
súc, trên cơ sở thực tiễn công tác chọn giống mới, hoàn thiện những giống chủ
yếu, nuôi dưỡng tốt những đàn gia súc non cao sản, phòng và trị các bệnh về
sinh sản, cần có sự hiểu biết đầy đủ về sinh lý sinh sản gia súc.
* Cơ chế sinh lý điều tiết quá trình sinh sản
Cơ thể động vật có cấu tạo hết sức phức tạp. Sự điều hòa hoạt động của
cơ thể có mối quan hệ qua lại nghiêm khắc với ngoại cảnh. Theo I.P. Paplôp thì
mỗi cơ thể động vật là một bộ phận tự nhiên, nó là một phức hệ riêng biệt, nội
lực của mỗi một pha trong khi nó tồn tại được giữ thăng bằng với ngoại lực của
môi trường bên ngoài. Cơ thể càng phức tạp thì yếu tố giữ thăng bằng càng tinh
vi và đa dạng.
I.P. Paplôp là người đầu tiên chỉ ra mối quan hệ qua lại và phụ thuộc lẫn
nhau tồn tại giữa cơ thể và ngoại cảnh. Mối quan hệ này cho phép xác định các
quy luật sống chủ yếu của cơ thể động vật.
Học thuyết của Paplop về phản xạ không điều kiện và có điều kiện cũng
như sự hình thành kiểu hình thần kinh ở động vật đã tạo ra cơ sở khoa học để
tìm cách tăng khả năng sinh sản của đàn gia súc và tăng sản phẩm của chúng.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
11
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
Nghiên cứu sinh học sinh sản từ nguyên sinh động vật đến động vật bậc
cao đã chỉ ra sự thống nhất của phôi từ hai tế bào tính khác nhau để sinh ra một

• Các đặc tính sinh dục thứ cấp phát triển.
• Xuất hiện các phản xạ sinh dục: con cái động dục, con đực có phản xạ
giao phối.
Thời gian thành thục về tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
 Giới tính: con cái thường sớm hơn con đực.
 Thời tiết khí hậu: gia súc nhiệt đới thành thục sớm hơn gia súc ôn
đới.
 Giống khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau.
 Chế độ dinh dưỡng.
+ Thành thục về thể vóc: thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về
ngoại hình và thể vóc đạt tới mức độ hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn,
tầm vóc ổn định. Thời gian thành thục về thể vóc thường chậm hơn thời gian
thành thục về tính, nghĩa là sau khi thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh
trưởng lớn lên. Đây là đặc điểm cần chú ý, trong chăn nuôi không nên cho con
vật sinh sản quá sớm.
 Đối với con cái: nếu cho sinh sản sớm khi cơ thể mẹ chưa thành thục về
thể vóc sẽ có ảnh hưởng xấu như: trong thời gian có chửa có sự phân tán chất
dinh dưỡng, ưu tiên cho sự phát triển bào thai, ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng
của cơ thể mẹ do đó sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng. Kết quả mẹ
yếu con nhỏ, mặt khác khung xương chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ hẹp
làm con vật đẻ khó.
 Đối với con đực: nếu cho sinh sản quá sớm chất lượng tinh trùng kém,
ảnh hưởng tới tỉ lệ thụ thai.[4;5]
*Quan hệ dinh dưỡng với tỉ lệ thụ thai ở gia súc cái
Tỉ lệ thụ thai ở gia súc cái phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: kỹ thuật phối
giống, thời điểm phối giống, phẩm chất tinh dịch, số lượng trứng rụng trong một
lần động dục, lứa đẻ Trong các yếu tố trên, phẩm chất tinh dịch và số lượng
trứng rụng phụ thuộc chủ yếu và chế độ dinh dưỡng. Nếu khẩu phần của con
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS

Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
14
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
Một con cái đẻ lứa đầu có số lượng con sinh ra ít hơn cũng như khi con cái sau 9
tháng tuổi[18].
Chuột cái sinh sản khảng 4-7 con mỗi lứa và giai đoạn mang thai là 19
ngày. Con con sinh ra chưa mở mắt và không có lông. Con cái chỉ đẻ khoảng 8
lứa trong suốt quãng đời. Mặc dù thế, nếu các điều kiện thuận lợi, chúng có khả
năng cứ 24-28 ngày sẽ đẻ một lứa. Khoảng 5-8 tuần thì cơ quan sinh dục của
con con sẽ phát triển hoàn chỉnh (thành thục về tính).[6].
Chuột sinh sản nên có thời gian nghỉ giữa mỗi lứa đẻ, không nên cho
chuột sinh sản liên tiếp. Một con chuột có thể thụ thai ngay sau khi sinh (động
dục sau đẻ). Vì thế, không nên nhốt chung một con đực với một con cái khi
chuột cái sinh con. Một con chuột mẹ nên có 3-4 tuần phục hồi sau khi cai sữa.
Nếu không có thời gian nghỉ, ở chu kỳ sinh sản sau rất dễ xảy ra biến chứng, các
biến chứng có thể bao gồm như: khó sinh, chuột con sinh ra có trọng lượng nhỏ,
chuột con và chuột mẹ không khỏe, tuổi thọ của con mẹ ngắn hơn có khi cả
chuột mẹ và chuột con bị chết và nhiều vấn đề khác.
Một con cái không nên có nhiều hơn 3 lứa trong quá trình sinh sản. Một
số chuột có thể đẻ nhiều hơn 3 lứa nhưng cũng có một số không thể đẻ được 3
lứa. Nếu cho sinh sản quá dài sẽ ảnh hưởng tới chất lượng chuột con.[17]
* Giao phối và ghép đôi
Tốt nhất là ghép thành cặp một đực và một cái. Tuy nhiên, phải đảm bảo
lồng chuồng phải đủ rộng trong quá trình ghép đôi, ngoài ra phải đảm bảo chất
lượng và số lượng chất lót chuồng. [17]
Cho thấy rằng với 2-4 con cái ghép cùng một con đực trong 1 lồng cho
kết quả sinh sản tốt.
Nếu đặt một con đực và một con cái trong 1 cái lồng liên tục, chúng có
thể sinh sản liên tiếp trong vòng 18-28 ngày[18].

Việc theo dõi chu kỳ động dục của chuột là rất khó, chuột chỉ chịu đực
trong vòng 12 giờ. Khi cho sinh sản, biết chu kỳ động dục sẽ giúp ta chủ động
được kết quả sinh sản, nó cũng giúp ta biết được chuột có thai. Chuột có thai sẽ
không động dục cho đến sau khi sinh. Để biết chắc chắn chuột có thai có thể
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
16
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
kiểm tra cơ quan sinh dục của con cái. Nếu không có thai âm hộ sẽ mở cũng có
khi sưng và đỏ.
Khi một con đực giao phối với một con cái xong, sẽ tạo thành một màng
mỏng chặn ở âm hộ con cái giúp ngăn cản con đực khác giao phối tiếp theo.
Màng mỏng này ban đầu là dạng nhày trắng sau đó cứng lại, màng mỏng này có
khi nhìn thấy có khi không do nó nằm sâu bên trong. Việc quan sát thấy lớp
màng mỏng này giúp ta có thể khẳng định con đực đã giao phối với con cái. Tuy
nhiên, điều này không có nghĩa là con cái đã mang thai mà chỉ giúp khẳng định
con đực đã giao phối với con cái tại thời điểm đó.
Có thể sử dụng quy trình kiểm soát cân nặng của chuột cái để đánh giá
chuột mang thai hay không nhưng nó không đảm bảo hiệu quả 100%. Con cái sẽ
mất một/vài gam trong vòng một hoặc 2 ngày sau khi giao phối diễn ra, sau đó
bắt đầu tăng dần khi chuột mang thai. Một số trường hợp chuột tăng cân nhưng
không phải là do chuột mang thai hoặc ngược lại có một số chuột không tăng
cân nhiều trong suốt thời kỳ mang thai.
Một số chuột có thể ăn con sơ sinh của mình nếu có mùi của con khác.
Điều này là rất hiếm đối với chuột nhà. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy một
con chuột cái có thể tự hủy bỏ và hấp thụ bào thai của mình bất cứ lúc nào sau
khi mang thai 2 ngày nếu có mùi của con đực khác so với con đực đã ghép.
Nguyên nhân của vấn đề này là do kích thích tố. Những kích thích tố này gửi tín
hiệu đến khi có con chuột đực khác. Trong trường hợp này là do con đực mới có
sức sống mạnh hơn, có khả năng tốt hơn trong việc duy trì nòi giống, con cái có

Theo Johan van der Gim, (1990), số lượng chuột con đẻ ra trong một lứa
trong khoảng từ 3 đến 14 con[13].
Số lượng con con được sản xuất phụ thuộc vào điều kiện môi trường, chế
độ nuôi dưỡng và lứa sinh sản của chuột. Thường thì chuột đẻ khoảng 3-12 con
con mỗi lứa. Có một số chuột nuôi trong phòng thí nghiệm có thể đẻ lên đến 25
con con trong 28 ngày. Tuy nhiên, những con chuột sinh sản trong phòng thí
nghiệm làm được điều này là rất khó.[17]
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
18
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
Ở chuột nhắt trắng mỗi lứa có thể đẻ số lượng trung bình 6-8 chuột con,
tuổi dứt sữa sớm nhất 19-21 ngày[18].
Chuột chửa 18-21 ngày, đẻ 4-8 con và đẻ 6-8 lần trong một năm. Con non
sau 35-42 ngày đã trưởng thành (South- wick, 1969)[1]
Theo “Mouse breeding suggestions”[12], chuột mang thai 19-21 ngày,
tuổi tách mẹ là 3 tuần. Tuổi thành thục 6-8 tuần, trọng lượng trung bình con non
lúc sinh khoảng 1g, cai sữa đạt 8-12g. Trọng lượng trưởng thành khoảng 30-40g
(con đực thường lớn hơn con cái). Vòng đời trong phòng thí nghiệm vào khoảng
1,5-2,5 năm. Mỗi con cái trong cuộc đời có thể đẻ 6-8 lứa với số con giao động
từ 4-8 con mỗi lứa. Độ tuổi sinh sản khoảng 6-8 tháng, con đực có thể dùng lên
tới 24 tháng.
Số lượng con sinh ra mỗi lứa phụ thuộc vào số lượng trứng giải phóng ở
mỗi chu kỳ động dục, số lượng, chất lượng tinh trùng của con đực và tỉ lệ chết
trước sinh. Điều đó có thể thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi của chuột và điều kiện
môi trường bên ngoài (chế độ ăn, stress, sự hiện diện của con đực lạ) và chủng
(phản ánh các yếu tố di truyền). Tỉ lệ chết trước sinh ở các dòng cận giao có thể
lên tới 10-20%.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS

20
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
 Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản
- Theo dõi số lượng chuột chửa, đẻ.
- Số con sinh ra còn sống.
- Số con thu được sau dứt sữa.
 Đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của chuột cái ghép lứa 1:
- Theo trọng lượng chuột cái ghép.
- Theo tuần tuổi của chuột cái ghép.
3.3. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Chuột nhắt trắng giống Swiss.
Lồng, nắp, giá kê lồng, thức ăn viên tổng hợp, mầm thóc, chai, nút, ống
hút, nước lọc khử trùng, điều hòa 2 chiều.
Cân điện tử, nhiệt kế, dụng cụ mổ động vật.
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a. Thiết kế nghiên cứu:
- Nuôi trong điều kiện cùng một phòng, các điều kiện chăm sóc, nuôi
dưỡng như nhau.
* Theo dõi chuột Swiss ở độ tuổi 21-30 ngày tuổi
- Chuột dứt sữa ở 21 ngày tuổi nuôi riêng đực, cái mật độ 15con/ lồng
kích thước 30x40cm
- Số lượng: 75 cái, 75 chuột đực
* Theo dõi sinh sản
Thiết kế nghiên cứu
- Ghép 1 chuột đực + 2 chuột cái, thời gian ghép 12 ngày[12].
- Theo dõi 5 loạt ghép.
- Số lượng:
+ Tiến hành khảo sát trên 242 chuột cái lứa 1, 130 chuột cái lứa 2,
184 chuột cái ghép lứa 3.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &

Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. KẾT QUẢ THEO DÕI SINH TRƯỞNG CỦA CHUỘT SWISS TỪ 21-
30 NGÀY TUỔI
Quá trình theo dõi trên 75 đối tượng chuột Swiss đực và 75 đối tượng
chuột Swiss cái từ 21- 28 ngày tuổi chúng tôi thu được kết quả theo bảng sau
Bảng 4.1. Tăng trọng của chuột Swiss 21-30 ngày tuổi
Ngày
21
Ngày
22
Ngày
23
Ngày
24
Ngày
25
Ngày
26
Ngày
27
Ngày
28
Ngày
29
Ngày
30
P
đực

kém chất lượng.
Từ kết quả theo dõi trên có đồ thị so sánh trọng lượng chuột đực và chuột cái
Biểu đồ 4.1: Sinh trưởng của chuột Swiss 21-30 ngày tuổi
Qua đồ thị cho thấy, tại các thời điểm theo dõi, chuột đực luôn có trọng
lượng trung bình lớn hơn chuột cái. Các chuột tăng trọng tốt theo chiều tăng dần
đều, chất lượng chuột tốt đảm bảo giao thí nghiệm. Chuột đực có tốc độ tăng
đều hơn chuột cái.
Trường ĐHNN Hà Nội Khoa CN &
NTTS
24
Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Liền CNA – K53
4.2.KẾT QUẢ SINH SẢN Ở LOẠT THEO DÕI SỐ 1
Tiến hành theo dõi 111 chuột cái sinh sản với 42 cái ghép lứa 1, 45 cái
ghép lứa 2, 24 cái ghép lứa 3 thu được kết quả như sau:
Bảng 4.2: Kết quả sinh sản ở loạt theo dõi số 1
Lứa
Số cái
ghép
(con)
Số cái
chửa
(con)
Tỉ lệ chửa
(%)
Số con đẻ
còn sống
tb/ổ
Số con dứt
sữa tb/ổ
Lứa 1 42 27 64,29 7,88 6,59


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status