TÍNH HIỆU QUẢ VÀ SỰ THẤT BẠI CỦA THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH - Pdf 28

BÀI 1 : TÍNH HIỆU QUẢ VÀ SỰ THẤT BẠI
CỦA THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH
CHỈ TIÊU
CÁC TRẠNG THÁI TÔ CHỨC SẢN XUẤT
(a) (b) (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7)
(8) (9) (10) (11)
Lợi ích của cá nhân A
(U
A
)
5 6 6 5 4 3 2 1 0 10 9 8 7
Lợi ích của cá nhân B
(U
B
)
3 3 4 5 6 7 8 9 10 0 1 2 3
Lợi ích chung (U) 8 9 10 10 10 10 10 10 10 10 10 10 10
Trạng thái tổ chức sản xuất nào đạt hiệu quả PARETO ? Giải thích
THAM KHẢO MỘT VÍ DỤ THỰC TIỂN CỦA SV NGHIÊN CỨU
TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
Tổng Công ty Điện lực Việt Nam được chuyển đổi thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam
– EVN từ năm 2006 theo Quyết định số 48/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. EVN
kinh doanh đa ngành. Trong đó, sản xuất, kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng và
cơ khí điện lực là ngành nghề kinh doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh
doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo. Mục tiêu hoạt động của
EVN thể hiện rõ qua 3 tiêu chí: Kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu
nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào các doanh nghiệp khác; Giữ vai trò
trung tâm để phát triển một Tập đoàn Điện lực Quốc gia. Việt Nam đa sở hữu, trong đó sở
hữu nhà nước là chi phối; Tối đa hóa hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Quốc gia
Việt Nam. Hiện nay, EVN có 11 công ty điện lực kinh doanh điện năng đến khách hàng,
trong đó, có 3 công ty điện lực vùng và 8 công ty điện lực tỉnh, thành phố. Lĩnh vực truyền

Nam (EVN) liên tục khẳng định chỉ cắt điện sinh hoạt, không ít doanh nghiệp khắp nơi đã
lên tiếng chỉ trích EVN là nói sai sự thật. Tình trạng thiếu điện ở VN nghiêm trọng tới
mức nhiều người bắt đầu ví von rằng sau 20 phát triển kinh tế thì Việt Nam lại quay lại
tình trạng phải liên tục cắt điện như thời còn bao cấp. Theo EVN, việc thiếu điện là do tốc
độ tăng trưởng tiêu dùng quá nhanh. Việc đổ thừa cho người tiêu dùng ít nhiều đã khiến
dư luận phẫn nộ. Trên thực tế thì thì không phải EVN nói sai. Trong những năm gần đây
tốc độ tăng trưởng của nhu cầu dùng điện trung bình đạt khoảng 15% một năm. So với
năm 2004, nhu cầu tiêu dùng điện năm 2010 sẽ gấp tăng gấp đôi, tới năm 2015 sẽ tăng gấp
3 và tới năm 2020 sẽ tăng gấp 5,5 lần. Tốc độ này có thể cao hơn nếu tăng trưởng kinh tế
trong dài hạn có triển vọng tốt.
Bảng 1: Tăng trưởng nhu cầu dùng điện ở VN
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Cũng theo EVN, lý do quan trọng thứ 2 là việc Chính phủ VN (CP) không cho phép
tăng giá điện. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, giá điện đã tăng từ mức 600 đồng một
KWh hồi năm 1997 lên tới mức hiện tại là 860 đồng một KWh. Như vậy trung bình giá
điện chỉ tăng có 43% trong hơn 10 năm. Nếu điều chỉnh theo lạm phát thì giá điện thực tế
thậm chí đã giảm. EVN cho rằng do không thể tăng giá điện, họ không có đủ nguồn lực để
đầu tư xây dựng năng lực phát điện mới. Và như thế, lỗi thiếu điện chung quy lại là tại CP.
Việc thiếu hàng hóa trong một nền kinh tế thường không phải là lỗi của doanh nghiệp.
Trong trường hợp này cũng vậy. Lỗi thiếu điện phải được nhìn từ phía quản lý điều hành
ngành điện của CP. Nhưng CP đã sai ở chỗ nào? Việc thiếu điện hiện nay gợi nhớ cho
chúng ta thời kỳ thiếu gạo những năm 80. Rõ ràng Việt Nam hồi đó không thiếu khả năng
sản xuất gạo, cũng như bây giờ chúng ta không thiếu khả năng sản xuất điện. Vấn đề là
động cơ để sản xuất, động cơ chỉ tồn tại trong những cơ chế thích hợp bởi chính phủ đã
không tạo ra một cơ chế thích hợp để ngành điện phát triển.
3
2. Biện pháp hành chính, độc quyền và hiệu quả
Các công ty luôn tìm cách để tư lợi. Đó là mục đích tối cao của họ. Vì tư lợi là bản
chất của các doanh nghiệp. Việc của chính phủ là tạo ra cơ chế để hoạt động tư lợi của họ
song hành, hay ít ra cũng không đi ngược lại lợi ích của người tiêu dùng. Tuy nhiên đây là

giải pháp nào hơn là nâng giá điện.Báo Người Đại Biểu Nhân Dân số ra ngày 4-8-2003
viết: “Các nhà kinh tế quốc tế khẳng định rằng giá bán điện ở VN cho các doanh nghiệp ở
Hà Nội, TP.HCM (vào thời điểm cuối tháng 12-2-2002) là 7 US cent/kWh, bằng những
nơi cao nhất khu vực như Singapore, Thượng Hải, trong khi đó giá ở Bangkok chỉ là 4 US
xent, tại Manila 3,9 US cent, tại Jakarta 2,7 US cent/kWh. Ngành điện hiện là ngành có
thu nhập cao nhất trong 18 ngành kinh tế có thu nhập cao nhất: mức thu nhập bình quân
2.035.700 đồng/người/tháng. Ở đây có thói ngông nghênh của sự cậy thế độc quyền, thói
quen chỉ biết lợi ích cục bộ. Nếu muốn có nguồn vốn để đầu tư thì ngành điện phải tính
toán chi phí đầu vào hợp lý, cắt giảm cho phí, hoặc phát hành trái phiếu để huy động vốn
hoặc phải vay tiền nhân dân và trả lãi suất cho khoản vay đó, chứ không thể làm một việc
dễ dàng là nâng giá điện vào khoản chênh lệch đó người dân phải gánh chịu. Hoạt động
thiếu hiệu quả và liên tục đòi đăng giá này không phải là lỗi của EVN. Chúng là sản phẩm
tất yếu của độc quyền. Một nhà độc quyền thì không phải là ông già Noel: anh ta sẽ bòn
4
rút khách hàng tới tận xương trừ khi anh ta bị ngăn cấm làm điều đó. Nhưng ngay cả khi bị
cấm, một nhà độc quyền vẫn có thể tìm ra cách để tư lợi cho mình. Phương pháp cổ truyền
là đẩy chi phí lên cao bằng nhiều cách, trong đó có việc tăng lương cho nhân viên lên cao
hơn hẳn mặt bằng chung hoặc thường xuyên bỏ tiền vào các khoản chi phù phiếm. Việt
Nam đang thiếu điện nghiêm trọng, và sẽ còn tiếp tục thiếu điện nghiêm trọng. Đây là một
thực tế. Việc xây dựng năng lực cung ứng điện đủ đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi nguồn tài
chính khổng lồ. Riêng trong giai đoạn 2005-2010 cần khoảng 3 tỉ USD. Giai đoạn 2005-
2020 sẽ cần tối thiểu 13.5 tỉ USD. EVN không thể tự đầu tư nguồn tài chính này trừ khi nó
được phép tăng giá bán điện tùy tiện. EVN cũng không thể sử dụng nguồn tiền đi vay.
Theo như tính toán của World Bank,việc tài trợ thuần túy bằng nguồn tiền vay sẽ khiến tỉ
lệ nợ-trên-vốn của EVN quá cao. Do đó, đối với các nguồn cung cấp tín dụng quốc tế, cho
EVN vay trở nên rủi ro quá mức chịu đựng. Việc này khiến việc vay mượn về lâu dài là
không khả thi. Việc CP VN đứng ra bảo lãnh các nguồn vay cho EVN có lẽ cũng không
khả thi, nhất là trước viễn cảnh kinh tế không có nhiều điểm sáng như hiện nay. Lối ra
khỏi ma trận này là mở cửa thị trường điện. CP cũng đã tính đến con đường này và đã
phác thảo ra một lộ trình dài hạn để thực hiện, bao gồm 4 bước:

5
bẫy giá cả nguy hiểm cho người mua và không chắc sẽ giải quyết được tình trạng khan
hiếm điện. Việc tái cơ cấu lại thị trường điện, vì thế, là một việc khó khăn, có nhiều rủi ro
và đòi hỏi các nhà quản lý và hoạch định chính sách phải có kiến thức tốt (hoặc được tư
vấn tốt) về thị trường điện hiện đại và cách xây dựng nó.
Biểu đồ 1: Lộ trình cải cách thị trường điện ở VN
Kết luận:
Việt Nam trong những năm gần đây luôn ở tình trạng khan hiếm điện. Việc này là việc
dễ thấy trước vì nhu cầu tiêu dùng điện của VN tăng nhanh và tương đối ổn định. Khác với
xăng dầu là cái có thể nhập khẩu tùy ý để cân bằng cung cầu, điện là mặt hàng đặc biệt và
VN phải dựa chủ yếu vào năng lực sản xuất điện trong nước. Bằng việc giữ ngành điện
trong tình trạng độc quyền và quản lý giá cả, CP đã đẩy EVN vào tình trạng kinh doanh
không hiệu quả và không có động lực phát triển năng lực sản xuất mới để đáp ứng nhu
cầu, và không có động lực để hoạch định chiến lược dài hạn. Những vấn đề này không
phải là lỗi của EVN – với tư cách là một tập đoàn kinh doanh. Chúng là sản phẩm tất yếu
của độc quyền. Để giải được bài toán điện, con đường duy nhất là tái cấu trúc thị trường
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status