Giải quyết thừa kế cổ phần ngân hàng phải phù hợp với pháp luật và thực tiễn - Pdf 28

Giải quyết thừa kế cổ phần ngân hàng phải phù hợp với pháp luật và
thực tiễn
13:1' 27/8/2009
Việc chuyển quyền sở hữu cổ phần của các cổ đông không chỉ được thực
hiện với mục đích thương mại mà còn được thực hiện theo quy định của pháp
luật về thừa kế. Với số lượng cổ đông lên đến hàng trăm nghìn người, thì hằng
năm số vụ thừa kế cổ phần được ngân hàng giải quyết và làm thủ tục chuyển
quyền sở hữu cho người thừa kế là tương đối lớn. Do vậy, các ngân hàng
thương mại cổ phần đã không còn xa lạ với việc giải quyết thừa kế cổ phần và
thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cổ phần theo yêu cầu của người thừa
kế. Tuy nhiên, sự đa dạng, phong phú của các vụ thừa kế cổ phần ngân hàng
phát sinh từ thực tế và hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện đã gây khó khăn
cho các ngân hàng thương mại cổ phần ban hành văn bản hướng dẫn giải
quyết thống nhất, cụ thể.
1.Sức hấp dẫn của cổ phần ngân hàng và quy định hiện hành về thừa kế cổ
phần ngân hàng
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu xảy ra ở Mỹ từ đầu năm 2008 đến quý
III/2008 đã tác động, ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới, trong
đó có Việt Nam. Do đó, các quốc gia đã phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để
hạn chế những tác động, ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính đó. Trong khi
các nước đang phải đối phó với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, thì nền
kinh tế thế giới lại chuyển sang giai đoạn suy thoái (bắt đầu từ tháng 10/2008 đến
nay), nên các quốc gia buộc phải tìm, áp dụng biện pháp mới để ngăn chặn suy
thoái kinh tế. Những diễn biến phức tạp và khó lường của nền kinh tế thế giới đã
tác động đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh
nghiệp đã phải ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc phải cắt giảm nhân công,
hạn chế đầu tư để hoạt động cầm chừng, chờ cơ hội kinh doanh mới. Trong hoàn
cảnh đó, các ngân hàng đã biết cách vượt qua khó khăn, biến thách thức thành cơ
hội kinh doanh để tồn tại và phát triển. Theo báo cáo kết quả kinh doanh của các
ngân hàng năm 2008, thì không có ngân hàng nào bị lỗ. Đứng đầu danh sách các
ngân hàng kinh doanh có lãi năm 2008 (tính theo lợi nhuận trước thuế) phải kể đến

không nhỏ trong tổng số cổ phần phát hành của ngân hàng. Hằng năm, trên cả
nước, có hàng trăm người là cổ đông cá nhân của ngân hàng bị chết vì những
nguyên nhân khác nhau, như: do tuổi già, bệnh tật, tai nạn giao thông, tai nạn lao
động nghề nghiệp, mâu thuẫn cá nhân, trộm cướp tài sản... Do đó, các ngân hàng
đã phải xem xét, giải quyết một số lượng lớn các vụ thừa kế cổ phần do cổ đông để
lại.
Cho đến nay, nước ta chưa có một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nào
hướng dẫn riêng về việc thừa kế cổ phần ngân hàng (chuyển quyền sở hữu cổ phần
ngân hàng do được thừa kế). Đối với thừa kế cổ phần của ngân hàng niêm yết,
Trung tâm Lưu ký Chứng khoán đã ký ban hành Quy chế hoạt động đăng ký chứng
khoán kèm theo Quyết định số 14/QĐ-TTLK ngày 02 tháng 4 năm 2008, trong đó
có hướng dẫn về hồ sơ chuyển quyền sở hữu cổ phần do thừa kế theo pháp luật
hoặc thừa kế theo di chúc. Song, văn bản hướng dẫn này có phạm vi điều chỉnh
hẹp (chỉ áp dụng đối với cổ phiếu niêm yết: mới có 3 ngân hàng niêm yết trong
tổng số 38 ngân hàng thương mại cổ phần1). Do vậy, khi làm thủ tục chuyển quyền
sở hữu cổ phần của ngân hàng chưa niêm yết (chiếm đa số: 35/38 ngân hàng
thương mại cổ phần) theo yêu cầu của người thừa kế (bao gồm cả thừa kế theo
pháp luật và thừa kế theo di chúc), các ngân hàng thương mại cổ phần chưa đăng
ký niêm yết cổ phiếu phải vận dụng những quy định liên quan của pháp luật về
thừa kế để giải quyết cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
2.Xác định hình thức thừa kế và người thừa kế
Khác với các nước phát triển trên thế giới, người Việt Nam chịu ảnh hưởng
bởi phong tục, tập quán của người Á Đông, nên hầu như mọi người dân chưa có
thói quen lập di chúc để định đoạt tài sản của mình trước khi chết. Không như bất
động sản (nhà ở, đất đai, công trình xây dựng trên đất …), cổ phần ngân hàng có
thể mua bán/chuyển nhượng được nhanh chóng, dễ dàng trên thị trường. Đa số
người dân đầu tư, mua cổ phần ngân hàng chỉ nhằm thu lợi nhuận chứ không có
mục đích gắn bó lâu dài với ngân hàng. Cho nên, khi có cơ hội bán/chuyển nhượng
cổ phần với giá cao, thu được lợi nhuận lớn, cổ đông cá nhân trong nước sẵn sàng
bán/chuyển nhượng cổ phần sở hữu của mình cho người khác để hưởng chênh

Vì vậy, đa số trường hợp đề nghị ngân hàng chuyển quyền sở hữu cổ phần
ngân hàng là do được thừa kế theo pháp luật. Khi nhận được đơn đề nghị, ngân
hàng không phân chia di sản mà chuyển quyền sở hữu cổ phần do cổ đông để lại
cho một người đại diện của những người thừa kế (người đại diện có thể vừa là
người thừa kế, vừa là người được ủy quyền của những người thừa kế).
3.Một số tồn tại thực tế thường gặp trong hồ sơ thừa kế cổ phần ngân hàng
Khi giải quyết các vụ thừa kế cổ phần, ngân hàng thường yêu cầu những
người thừa kế và/hoặc người đại diện xuất trình, cung cấp văn bản khai nhận di
sản. Theo đó, những người thừa kế phải kê khai chính xác, trung thực và đầy đủ di
sản, những người cùng hàng thừa kế được hưởng di sản (kể cả người thừa kế đã từ
chối nhận di sản và người chưa thành niên). Văn bản từ chối nhận di sản có thể
được lập trước hoặc cùng thời điểm lập văn bản khai nhận di sản và được công
chứng/chứng thực. Qua thực tiễn xem xét và giải quyết các vụ thừa kế cổ phần,
chúng tôi thấy rằng có một số điểm trong nội dung văn bản từ chối nhận di sản,
văn bản khai nhận di sản chưa phù hợp với quy định của pháp luật nhưng vẫn được
cơ quan công chứng/uỷ ban nhân dân cấp xã công chứng/chứng thực. Điển hình là
các điểm sau đây:
Thứ nhất, hiệu lực và mục đích từ chối nhận di sản: Theo quy định tại Điều
642 của Bộ luật Dân sự năm 2005, thì thời hạn từ chối nhận di sản là 6 tháng kể từ
ngày mở thừa kê. 2 Sau 6 tháng kể từ ngày mở thừa kê, nếu không có từ chối nhận
di sản thì người thừa kế được coi là đồng ý nhận thừa kế. Nhiều trường hợp giấy từ
chối nhận di sản được lập sau thời điểm mở thừa kế trên 6 tháng (hết thời hạn thực
hiện quyền từ chối nhận di sản) nhưng văn bản từ chối nhận di sản đó vẫn được
công chứng/chứng thực. Sau khi xem xét hồ sơ và phát hiện thấy nội dung nêu
trên, ngân hàng đã không chấp nhận giấy từ chối nhận di sản đã được công
chứng/chứng thực vì văn bản từ chối nhận di sản này không phù hợp với quy định
của Bộ luật Dân sự. Cho nên, nội dung của các văn bản khác trong hồ sơ cũng phải
được chỉnh sửa/lập lại cho phù hợp: ví dụ như văn bản khai nhận di sản vì văn bản
này đã nói rõ những người từ chối nhận di sản và người thừa kế còn lại được
hưởng thừa kế di sản... Trong trường hợp đó, những người thừa kế phải lập lại văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status