CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: Ths. Bùi Thị Ngọc
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ khi Việt Nam ra nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát
triển đáng kể, là “mảnh đất” hấp dẫn thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, các ngành dịch vụ trong nước cũng
phải được nâng cao để phù hợp với điều kiện này và đáp ứng được yêu cầu quản lý
nhằm minh bạch hóa tình hình tài chính. Từ yêu cầu đó, ngành kiểm toán tại Việt
Nam đang phát triển hết sức mạnh mẽ không chỉ về quy mô mà cả loại hình dịch vụ
cung cấp. Cũng xuất phát từ hội nhập kinh tế với sự cạnh tranh của các công ty kiểm
toán lớn và có uy tín trên thế giới, các công ty kiểm toán Việt Nam đang phải nỗ lực
hết sức để nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán, đáp ứng được yêu cầu chung trên
thế giới. Vấn đề đặt ra cho các công ty kiểm toán là làm thế nào để nâng cao chất
lượng của dịch vụ cung cấp, tạo niềm tin đối với khách hàng, chiếm lĩnh được thị
trường. Chính vì vậy việc hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán để
nâng cao chất lượng và giảm thiểu chi phí cuộc kiểm toán nói chung, kiểm toán cáo
cáo tài chính nói riêng là một vấn đề không thể thiếu được đối với bất cứ một công
ty kiểm toán nào trong quá trình phát triển của mình.
Bằng chứng kiểm toán là các tài liệu, thông tin kế toán, mà kiểm toán viên thu
thập liên quan đến cuộc kiểm toán là cơ sở cho ý kiến của mình. Có thể nói bằng
chứng kiểm toán là yếu tố quyết định đến thành công của cuộc kiểm toán. Trong thế
kỷ mới khi kỷ nguyên kiểm toán đang mở rộng và phát triển thì việc nâng cao chất
lượng cuộc kiểm toán là một yếu tố hàng đầu của các công ty kiểm toán. Muốn làm
được điều này thì việc nâng cao chất lượng bằng chứng là một điều tất yếu. Chính vì
vậy việc hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán để nâng cao chất
lượng và giảm thiểu chi phí cuộc kiểm toán nói chung, kiểm toán cáo cáo tài chính
nói riêng là một vấn đề không thể thiếu được đối với AASC cũng như đối với bất cứ
một công ty kiểm toán nào trong quá trình phát triển của mình.
Nhận thức được tầm quan trọng của các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán,
với những kiến thức đã học ở trường đại học và qua quá trình thực tập tại Công ty
Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) em đã lựa chọn đề tài
không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để
báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
2
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: Ths. Bùi Thị Ngọc
ST
T
Nội dung Chữ viết
tắt
1 Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán
AASC
2 Báo cáo kết quả kinh doanh BCKQKH
3 Bảng cân đối kế toán BCĐKT
4 Báo cáo tài chính BCTC
5 Doanh nghiệp DN
6 Doanh nghiệp nhà nước DNNN
7 Thành viên Ban giám đốc T/v BGĐ
8 Xây dựng cơ bản XDCB
9 Kiểm toán viên KTV
10 Trách nhiệm hữu hạn TNHH
11 Ủy ban chứng khoán Nhà nước SSC
12 Ngân hàng Thế giới WB
13 Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB
14 Tổ chức thương mại thế giới WTO
15 Báo cáo kiểm toán BCKT
16 Kiểm soát nội bộ KSNB
17 Chuẩn mực kiểm toán CMKT
thuế. Hiện nay, AASC có trụ sở chính đặt tại Hà Nội, chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh
và Văn phòng đại diện tại Quảng Ninh
Quá trình hình thành và phát triển của công ty AASC gắn liền với 3 giai đoạn:
1.1.1. Giai đoạn 1: Từ 01/04/1991 đến tháng 8 năm 1993
Doanh nghiệp nhà nước Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán (AASC) được thành lập ngày 13/05/1991 theo Quyết định số 164 TC/TCCB
của Bộ trưởng BTC. AASC là một trong hai tổ chức hợp pháp lớn nhất và đầu tiên ở
Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, kế toán và tư vấn tài chính. Lúc ấy,
AASC có trụ sở chính đặt tại Hà Nội và các chi nhánh đặt tại các tỉnh, thành phố
trên lãnh thổ Việt Nam. Ngày 14 tháng 9 năm 1991, Công ty chính thức đi vào hoạt
động.
1.1.2. Giai đoạn 2: từ 14/9/1993 đến tháng 09/2007
Ngày 14/9/1993 Bộ trưởng BTC đã ra Quyết định số 639 TC/QĐ/TCCB, thành
lập lại công ty Dịch vụ kế toán, đổi tên thành Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài
Chính kế toán và Kiểm toán (AASC) với tổng số vốn ban đầu gần 300 triệu đồng.
Tháng 3/1992, Công ty thành lập chi nhánh đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh
và đến tháng 3/1995, được phép của BTC, chi nhánh này tách ra khỏi Công ty
AASC và thành lập Công ty CP Kiểm Toán và Tư vấn Tài chính Kế toán (AFC).
4
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: Ths. Bùi Thị Ngọc
Ngoài ra Công ty còn có các chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Thanh Hóa
và Quảng Ninh.
1.1.3. Giai đoạn 3: Từ 09/2007 đến nay
Thực hiện các cam kết với Tổ chức thương mại thế giới (WTO), AASC đã
chuyển đổi thành công từ Doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Tài chính thành Công ty
TNHH có 2 thành viên trở lên và vẫn là một trong 6 công ty kiểm toán hoạt động tại
Việt nam có doanh thu hàng năm, có hệ thống khách hàng và có số lượng kiểm toán
viên và nhân viên lớn nhất hiện nay (52 kiểm toán viên Nhà nước, 35 cán bộ đang
theo học chứng chỉ ACCA của Vương quốc Anh, 07 thẩm định viên về giá và trên
nghiệp và tư
vấn cổ phần
hóa DN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: Ths. Bùi Thị Ngọc
Sơ đồ 1.1: Dịch vụ AASC cung cấp
Dịch vụ kiểm toán
Dịch vụ kiểm toán gồm các loại hình sau:
Kiểm toán BCTC: Là một trong những dịch vụ cơ bản làm nên thương hiệu
AASC
Kiếm toán Báo cáo Quyết toán vốn đầu tư: Hoạt động kiểm toán Báo cáo quyết
toán vốn đầu tư của AASC đã góp phần giúp các chủ đầu tư loại bỏ được các chi phí
bất hợp lý, tiết kiệm cho Ngân sách Nhà nước và cho chủ đầu tư hàng ngàn tỷ đồng.
Dịch vụ kế toán:
AASC được hình thành và phát triển từ khởi đầu là một đơn vị chuyên cung cấp
các dịch vụ kế toán. AASC đã cung cấp cho các khách hàng nhiều loại dịch vụ kế
toán, bao gồm: Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy kế toán và tổ chức công tác kế
toán cho DN; Rà soát, cải tổ bộ máy kế toán đã có sẵn…
Dịch vụ tư vấn:
Với kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc, AASC đã thực hiện đa dạng nhiều loại hình
dịch vụ tư vấn được khách hàng đánh giá cao như: Tư vấn lập BCTC doanh nghiệp,
báo cao dự án, báo cáo quyết toán vốn đầu tư; tư vấn xây dựng, lựa chọn mô hình kế
toán DN, soạn thảo hồ sơ thành lập DN…
Dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hóa:
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà Nước về việc chuyển đổi hình thức sở
hữu các doanh nghiệp Nhà Nước sang công ty cổ phần, từ năm 2003 đến nay AASC
đã có những bước phát triển vượt bậc trong hoạt động cung cấp dịch vụ xác định giá
trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hoá.
Dịch vụ đào tạo, hỗ trợ tuyển dụng.
6
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
kiểm
toán 2
Phòng
kiểm
toán 5
Phòng
kiểm
toán 3
VP đại
diện ở
Quảng
Ninh
Phòng
kiểm
toán 6
Chi
nhánh
TP
HCM
Phòng
tổng
hợp và
Đào tạo
Phòng
kiểm
toán
xây
dựng cơ
bản
Phòng
phố Hồ Chí Minh.
Phòng hành chính tổng hợp và Đào tạo: Có nhiệm vụ quyết định về công tác tổ
chức nhân sự, đào tạo, bảo vệ tài sản và cung cấp hậu cần cho Công ty…
Phòng kế toán tài chính: Trợ giúp cho ban Giám đốc trong công tác điều hành,
quản lý công ty, theo dõi và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, cung cấp các
báo cáo kế toán, thanh toán lương, tạm ứng cho các cán bộ công nhân viên đi công
tác, …
9
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
Phòng kiểm toán số 1, 2, 3, 5, 6: Cung cấp các dịch vụ kiểm toán báo cáo tài
chính cho các Công ty, định giá doanh nghiệp, tư vấn hỗ trợ khách hàng về tài chính,
kế toán, …
Phòng kiểm toán xây dựng cơ bản: Cung cấp các dịch vụ kiểm toán báo cáo
quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, các hạng mục công trình, các dự án đầu
tư, ..
Phòng đầu tư nước ngoài: Cung cấp các dịch vụ liên quan tới các dự án của các
tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ, công ty liên doanh nước ngoài… Hiện nay,
lĩnh vực kiểm toán các dự án tại Công ty đang rất phát triển và đóng góp 1 phần
đáng kể cho doanh thu của toàn Công ty.
Mô hình tổ chức Công ty theo cơ cấu trực tuyến – chức năng. Theo cơ cấu này,
Tổng giám đốc được sự giúp sức của các Phó giám đốc đế chuẩn bị các quyết định,
hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định. Tổng giám đốc vẫn chịu trách
nhiệm về mọi mặt công việc và toán quyền quyết định trong phạm vi doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cơ cấu này sẽ khiến TGĐ phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ
giữu bộ phận trực tuyến với bộ phận chức năng. Ngoài ra mỗi khi Phó giám đốc lãnh
đạo các bộ phận chức năng có nhiều ý kiến khác nhau, tranh luận căng thẳng cũng
khiến TGĐ không đưa ra được quyết định có hiệu quả như mong muốn.
1.3.2. Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh:
Khách hàng của Công ty AASC rất đa dạng, bao gồm tất cả các lĩnh vự kinh tế,
Khen thưởng của cơ quan nhà nước: Do những thành tích và những đóng góp
của Công ty AASC đối với ngành Tài chính, Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, Đảng
và Nhà nước đã có nhiều quyết định khen thưởng cho Công ty cũng như các cá nhân
của Công ty:
Công ty AASC là Công ty kiểm toán độc lập đầu tiên và duy nhất của Việt Nam
liên tục hai lần vinh dự được Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ tặng thưởng Huân
chương lao động hạng Nhì, hạng Ba. Ban Giám đốc Công ty được tặng thưởng Huân
chương lao động hạng Ba và danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”.
1.4. KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY AASC TRONG NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY.
Vốn điều lệ của công ty: 9.683.000.000 VNĐ.
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của AASC trong giai đoạn 2005- 2009
11
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
Doanh thu của AASC tăng đều qua các năm, sở dĩ doanh thu tăng nhanh là do
hiện nay yêu cầu về minh bạch tình hình tài chính là mối quan tâm hàng đầu, vì vậy
nhu cầu về kiểm toán cũng tăng cao. Đây cũng là lĩnh vực chiếm tỷ trọng doanh thu
lớn nhất trong doanh thu về cung cấp dịch vụ hàng năm của AASC.
Để đạt được kết quả như trên là do sự cố gắng của ban lãnh đạo trong công tác
quản lý, điều hành và sự đóng góp nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên có
trình độ kinh nghiệm chuyên môn trong nghề, đưa thương hiệu AASC ngày càng lớn
mạnh, nâng cao uy tín của công ty.
(*) Công ty AASC thực hiện công tác chuyển đổi từ năm 2007. Năm tài chính
đầu tiên có niên độ bắt đầu từ 01/7/2007. Niên độ kế toán công ty từ 01/10 năm
trước đến 30/9 năm sau.
1.5. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC KIỂM TOÁN CỦA CÔNG TY AASC.
1.5.1. Đặc điểm tổ chức đoàn kiểm toán của công ty AASC
Trong mỗi cuộc kiểm toán khác nhau thì quy mô đoàn kiểm toán cũng khác nhau.
Tuy nhiên bất cứ cuộc kiểm toán nào cũng phải đảm bảo có: Thành viên Ban tổng
kiểm tra công việc của các KTV còn ít kinh nghiệm hoặc các trợ lý kiểm toán. Đồng
thời trưởng nhóm là người lập báo cáo kiểm toán, gửi các bút toán điều chỉnh, thư
quản lý đối với khách hàng, là người giao dịch sau cùng với khách hàng về các sự
việc phát sinh sau ngày kết thúc hợp đồng kiểm toán.
Các trợ lý kiểm toán: Là người thực hiện kiểm toán phần hành dưới sự phân
công của trưởng nhóm kiểm toán và báo cáo kết quả cho trưởng nhóm kiểm toán. Số
lượng KTV tham gia cuộc kiểm toán tùy thuộc vào quy mô cuộc kiểm toán, thời
gian, mức độ đánh giá trọng yếu, rủi ro của đối tượng kiểm toán.
13
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
Trưởng nhóm kiểm
toán
Khách hàng
Trợ lý kiểm
toán
Trợ lý kiểm
toán
Trợ lý kiểm
toán
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ tổ chức đoàn kiểm toán
Mô hình tổ chức nhân sự cho một cuộc kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu
tư và báo cáo quyết toán công trình xây dựng hoàn thành: Tổ chức nhân sự của
cuộc kiểm toán đối tượng này tương tự kiểm toán BCTC. Ngoài những nhân tố trên
kiểm toán loại này còn có thêm các Kỹ sư xây dựng, các kỹ sư xây dựng có nhiệm
vụ kiểm tra bản vẽ thiết kế, tính toán khối lượng dự toán của công trình và tư vấn
những vấn đề liên quan đến chuyên môn xây dựng.
1.5.2. Đặc điểm tổ chức công tác kiểm toán
1.5.2.1. Đặc điểm tổ chức đoàn kiểm toán
công tác hậu cần:
Công tác khảo sát, đánh giá khách hàng và Dự thảo, ký hợp đồng: Khi khách
hàng có nhu cầu tìm đến và đặt yêu cầu cung cấp dịch vụ với Ban Giám đốc,Ban
Giám đốc sẽ chỉ đạo cho Trưởng/phó phòng phụ trách khảo sát đánh giá sơ bộ về
công ty khách hàng, thu thập được các thông tin cơ bản về khách hàng, nắm bắt
được những thông tin sơ bộ về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của khách thể kiểm
toán, lập Báo cáo khảo sát.
Công tác chuẩn bị hậu cần: Trưởng/phó phòng phụ trách sẽ phân công nhóm làm
việc với khách hàng gồm có trưởng nhóm và các trợ lý kiểm toán. Sau đó trưởng
nhóm sẽ chuẩn bị xin phê duyệt các giấy tờ sau: Giấy đi đường, giấy đề nghị tạm
ứng và đề nghị xin văn phòng phẩm.
Thứ hai, Giai đoạn triển khai: Sau khi thống nhất các điều khoản và ký hợp
đồng cung cấp dịch vụ kiểm toán, lãnh đạo phòng phụ trách sẽ tổ chức đoàn kiểm
toán gồm có trưởng nhóm và các trợ lý. Trưởng nhóm sẽ phân công công việc cho
các trợ lý và trong quá trình làm việc sẽ trao đổi các vấn đề liên quan đến công việc
lẫn nhau. Trưởng nhóm còn có trách nhiệm trao đổi với khách hàng về thông tin và
15
SVTH : Nguyễn Thị Thu Hương – Đ3 KT6
Giai đoạn chuẩn bị
Giai đoạn triển khai
Giai đoạn kết thúc
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : Ths. Bùi Thị Ngọc
thống nhất kết quả kiểm toán; Trao đổi thông tin với các thành viên trong nhóm
trong quá trình thực hiện; Báo cáo kết quả thực hiện công việc.
Giai đoạn này gồm có 3 bước được mô tả trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.5 : Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán BCTC
Bước một là lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán: Giai đoạn này
bao gồm tất cả các công việc khác nhau nhằm tạo được cơ sở pháp lý, kế hoạch
kiểm toán cụ thể và các điều kiện vật chất cho công tác kiểm toán. Cụ thể:
Tìm hiểu, khảo sát về hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý của công ty: Đối