Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
BÀI THUYẾT TRÌNH MÔN TÀI CHÍNH CÔNG
NGOẠI TÁC TÍCH CỰC
VÀ SỰ CẦN THIẾT TRỢ CẤP CỦA
CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI Y TẾ, GIÁO DỤC
Giáo viên giảng dạy: PHẠM ĐỨC CHÍNH
Lớp: 14SKT11
Nhóm trình bày: Nhóm 4B
1. Phạm Thị Hoài Thu
2. Trần Thị Kim Ngân
3. Nguyễn Thị Minh Thúy
NĂM 2014
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
NGOẠI TÁC TÍCH CỰC
S
Ự CẦN THIẾT TRỢ CẤP CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI Y TẾ GIÁO DỤC
Đặt vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay, một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn
l
ực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con
người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất
quy
ết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay.
Phải có những con người đủ khả năng, trình độ mới khai thác tốt các nguồn lực khác.
Chính vì thế, phát triển nguồn nhân lực đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay.
Ở mọi quốc gia dù là đã phát triển hay kém phát triển thì chính sách giáo dục và y tế
luôn là đề tài tranh luận chưa bao giờ nguội lạnh. Giáo dục và sức khỏe là một trong số
những nhân tố thường được các nhà kinh tế gọi chung là vốn con người. Theo các nhà
khoa học tham gia chương trình KX-07: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất
I.3
Ảnh hưởng của yếu tố ngoại tác tích cực và điều chỉnh của chính phủ. 2
I.3.1 Hiệu quả thị trường: 2
I.3.2
Ảnh hưởng của ngoại tác 3
CHƯƠNG II: NGOẠI TÁC TÍCH CỰC VÀ SỰ CẦN THIẾT TRỢ CẤP CỦA
CHÍNH PH
Ủ ĐỐI VỚI Y TẾ, GIÁO DỤC …………………………………………. 5
II.1 Hàng hóa giáo dục: 5
II.1.1 Đặc điểm của hàng hóa giáo dục 5
II.1.2 Ngo
ại tác tích cực của giáo dục 5
II.1.2.1 Ngo
ại tác tích cực (NTTC) đối với nền kinh tế: 5
II.1.2.2 Ngo
ại tác tích cực đối với xã hội 6
II.1.3 Tr
ợ cấp của chính phủ đối với giáo dục 8
II.1.3.1 Th
ực trạng cấp của chính phủ đối với GD 8
II.1.3.2 S
ự cần thiết của trợ cấp chính phủ đối với GD 11
II.1.3.3 K
ết quả đạt được 15
II.1.3.4 Khó kh
ăn và hạn chế: 16
II.2 Y t
ế 17
II.2.1 Đặc điểm của hàng hóa y tế: 17
II.2.2 Ngo
YTDP Y tế dự phòng
CSSK Chăm sóc sức khỏe
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 1
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ NGOẠI TÁC, TRỢ CẤP
I.1 Ngoại tác:
I.1.1 Khái ni
ệm:
Ngo
ại tác là sự tác động ra bên ngoài của đối tượng này đến lợi ích hay chi phí của đối
tượng khác mà không thông qua giao dịch và không được phản ánh qua giá cả.
Đó là phần lợi ích hoặc là chi phí, gắn với dạng hoạt động cụ thể hoặc là yếu tố sản
xu
ất, mà những người ngoài nhận được.
Ngo
ại tác xuất hiện khi hành động của người này làm cho tình trạng của người khác
tr
ở nên tốt hơn hay tồi tệ hơn mà người làm hành động đó không phải bồi thường hoặc
thu l
ợi nhuận. Ngoại tác có thể xảy ra trong nhiều tương tác hàng ngày với mức độ và
ph
ạm vi khác nhau như ngoại tác xảy ra ở mức độ nhỏ khi bạn mở ti vi quá lớn khiến
người khác không làm việc được hay ngoại tác xảy ra ở mức độ lớn như các nhà máy thải
rác th
ải, nước thải chưa qua xử lý ra môi trường mà không phải gánh chịu bất kỳ khoản
chi phí nào t
ừ hoạt động sản xuất của nó gây nên ô nhiễm nếu không có sự can thiệp của
Chính ph
ủ.
I.1.2 Phân lo
th
ể nhìn dưới góc độ nhà máy gây thiệt hại cho ngư dân mà trái lại có thể phân tích dưới
góc độ ngư trường của ngư dân đã thu hẹp hoạt động của nhà máy.
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 2
- Sự phân biệt tính chất tích cực và tiêu cực của ngoại tác chỉ là tương đối: cùng 1
ho
ạt động ngoại tác nhưng nó được đánh giá là tốt hay xấu tùy thuộc vào quan điểm của
người chịu ảnh hưởng. Ví dụ: chính sách giá sàn của Chính phủ mang lại lợi ích cho
doanh nghi
ệp nhưng lại tác động tiêu cực đến tiêu dùng của người dân.
- T
ất cả ngoại tác đều phi hiệu quả nếu xét dưới quan điểm xã hội.
I.2 Tr
ợ cấp
I.2.1 Khái ni
ệm
Tr
ợ cấp là sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ hoặc cơ quan Chính phủ dành cho tổ
chức cá nhân khi sản xuất, xuất khẩu hàng hóa và đem lại lợi ích cho tổ chức, cá nhân đó.
Việc áp dụng chính sách trợ cấp nhằm tạo điều kiện cho các yếu tố như đào tạo, nâng
c
ấp cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, giúp duy trì một sự phát triển bền vững.
I.2.2 Phân lo
ại trợ cấp:
- Phân lo
ại theo hình thức tài sản nhận: trợ cấp bằng tiền, trợ cấp bằng hiện vật.
- Trong hi
ệp định WTO, trợ cấp được chia thành 3 nhóm:
o Nhóm đèn đỏ (amber box) là trợ cấp bị chống sử dụng, bao gồm trợ cấp
là hiệu quả
MC=MB (lợi ích biên = chi phí biên).
I.3.2 Ảnh hưởng của yếu tố ngoại tác tích cực.
Chi phí biên tư nhân:MC. Đó cũng là chi phí biên xã hội MSC (MC=MSC)
L
ợi ích biên tư nhân :MB
MC
MEB
MB
MB+s MSB=MB+MEB
E
’
E
Q
E
Q
E
’
Sản lượng
Giá
B
Q
P MC
Chi phí biên tư nhân
MB
Lợi ích biên tư
nhân
O
Q
E
C
ỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI Y TẾ, GIÁO DỤC
II.1 Hàng hóa giáo dục:
II.1.1
Đặc điểm của hàng hóa giáo dục:
GD trong th
ị trường cũng được cho là một loại hàng hóa, nhưng không giống như
những sản phẩm thông thường mà chúng ta vẫn thấy. Đối với GD, sự hưởng thụ của tập
h
ợp những người dùng trước không hề bị giảm đi hay bị tác động bởi những người dùng
sau, vi
ệc có thêm nhiều người trong xã hội cùng thụ hưởng hàng hóa không làm cho lợi
ích c
ủa các cá nhân đang tiêu dùng bị ảnh hưởng mà trái lại, còn làm cho tổng lợi ích của
xã h
ội tăng lên. Thêm vào đó, trong GD đại học, lợi ích của nó không thể chia nhỏ cho
m
ỗi người sử dụng, mà mọi người đều cùng dùng chung một chương trình GD, đó là tri
th
ức của nhân loại và cùng nhau khám phá ra những tri thức mới. Điểm khác biệt độc đáo
này đượ
c các nhà kinh tế học cho rằng, GD là một loại hàng hóa công.
- Xét v
ề tính loại trừ : GD có tính loại trừ trong sử dụng. Ví dụ: sinh viên không thể
tham gia hưởng thụ dịch vụ đó mà không có điều kiện, họ phải thi đầu vào, phải đóng học
phí,… N
ếu sinh viên không thỏa mãn những điều kiện đó sẽ bị lọai trừ ra khỏi việc hửơng
thụ dịch vụ GD.
- D
ịch vụ GD có tính cạnh tranh trong sử dụng vì việc học của một sinh viên này sẽ
Trang 6
đã tạo áp lực, động lực học tập, tìm tòi cho những người lao động khác trong môi trường
làm vi
ệc chung.
NTTC c
ủa GD đối với doanh nghiệp: thứ nhất, khi sử dụng lao động có trình độ cao
thì s
ẽ có năng suất lao động cao, sản phẩm làm ra nhiều chất xám hơn, giá trị cao hơn, có
chất lượng, có sức cạnh tranh trên thị trường, tức là giá trị thặng dư của doanh nghiệp sẽ
tăng lên, cùng vớ
i lợi nhuận gia tăng. Thứ hai, những cá nhân được GD&ĐT tốt hơn sẽ có
thông tin đầy đủ hơn, có thu nhập cao hơn và có khả năng đóng góp nhiều hơn cho xã hội
góp ph
ần giảm bớt chi phí cho trợ cấp thất nghiệp và phúc lợi xã hội. Thứ ba, một doanh
nghi
ệp càng có nhiều người lao động giỏi, càng có nhiều phát minh, sáng chế, sáng kiến
và tác động lan tỏa thì sẽ tạo ra càng nhiều sản phẩm mới với những tính năng, tác dụng
m
ới tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển ổn định qua đó là cơ sở cho nền kinh tế, xã
h
ội một quốc gia tăng trưởng bền vững. Đó là lý do vì sao các công ty lớn thường tổ chức
các chương trình tuyển chọn người tài với những chế độ làm việc ưu đãi. Ngày nay các
công ty thường có xu hướng xây dựng quan hệ tốt với các trường đại học lớn thông qua
các c
hương trình, cuộc thi, cung cấp học bỗng để trực tiếp tìm kiếm nguồn nhân tài như
Tập đoàn Hoa Sen, Ngân hàng Sacombank, EY…
Như vậ
y, NTTC của GD (đặc biệt là GD đại học) tạo ra cho nền kinh tế chính là
t
ổng hợp những NTTC mà chính người học và doanh nghiệp nhận được về một đất nước
mang của mình.”
II.1.2.2 Ngo
ại tác tích cực đối với xã hội
GD không ch
ỉ có lợi ích và chi phí dành cho mỗi cá nhân, mà còn có các tác động
lan t
ỏa tới các thành viên khác trong xã hội. Khi sống ở một vùng có nhiều người có trình
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 7
độ GD cao gọi dân dã là “dân trí cao” mà ở đó mức độ ý thức cao trong việc xây dựng và
phát tri
ển cộng đồng (người dân cùng nhau giữ gìn vệ sinh môi trường, tham gia chấp
hành lu
ật pháp, ít tệ nạn xã hội), bảo vệ sức khỏe cộng đồng (trẻ em được chăm sóc tốt, ít
b
ệnh tật truyền nhiễm) thì việc học sẽ giảm bớt tệ nan xã hội, dễ dàng hơn cho nhà nước
trong vi
ệc phổ biến và thực hiện các chính sách kinh tế văn hóa và xã hội. Khi nhận được
s
ự GD tốt, con người sẽ có ý thức tốt hơn về các vấn đề như chủ quyền quốc gia, bảo tồn
văn hóa truyền thống dân tộc từ đó có những hành động tích cực để bảo tồn, phát huy
nh
ững giá trị đó góp phần tạo nên bản sắc riêng của mỗi nước và niềm tự hào dân tộc cho
th
ế hệ sau.
GD t
ạo ra những công dân văn hóa cho xã hội: GD góp phần tạo ra những công dân
có trách nhi
ệm cao trong lao động, có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong công nghiệp,
có đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, nhân cách tốt đẹp, hướng tới giá trị nhân bảnmà
GD mới là người có văn hóa. Bởi, nhân cách của con người suy cho cùng được quyết định
b
ởi môi trường sống của họ, GD là yếu tố quan trọng nhưng không mang tính quyết định.
Hi
ện nay vẫn có rất nhiều trường hợp những người được GD nhưng vẫn có cách cư xử
thiếu văn hóa và ngược lại, có những người không được học nhiều nhưng vẫn sống rất tốt,
được mọi người tôn trọng và cũng có những đóng góp lớn cho xã hội, tuy không được GD
trên gh
ế nhà trường nhưng họ đã tự học tập trong cuộc sống. Điều này có nghĩa rằng việc
h
ọc của con người không phải chỉ diễn ra trên ghế nhà trường trong khoản thời gian nhất
định mà nó kéo dài suốt cuộc đời của mỗi người, “học, học nữa, học mãi”.
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 8
II.1.3 Trợ cấp của chính phủ đối với giáo dục
II.1.3.1 Th
ực trạng cấp của chính phủ đối với giáo dục.
V
ới nền kinh tế tri thức như hiện nay thì GD được đặt lên hàng đầu bởi vì GD là
ho
ạt động thuộc lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực - nguồn tài nguyên quý nhất của mọi
qu
ốc gia. Nhận thức rõ vai trò của GD, chính phủ các nước luôn quan tâm và tăng cường
đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cho GD đào tạo.
Hình 1: T
ỷ lệ chi tiêu công cho GD/GDP của một số nước
Tên nước Tỷ lệ chi NSNN cho GD/GDP
Thới gian 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Indonexia 3.04 2.90 3.53 2.99 2.77 3.56
Nhật Bản 3.46 3.44 3.78 3.78 3.86
Đơn vị tính: tỷ đồng.
2007 2008 2009 2010 2011
Sơ bộ
2012
TỔNG CHI 399,402 452,766 561,273 648,833 787,554 905,790
Trong đó:
Chi đầu tư phát triển 112,160 119,462 181,363 183,166 208,306 195,054
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế
- xã hội
211,940 252,375 303,371 376,620 467,017 610,636
Chi sự nghiệp GD&ĐT
53,774 53,560 69,320 78,206 99,369 152,590
Chi sự nghiệp y tế
16,426 14,385 19,354 25,130 30,930 54,500
Chi sự nghiệp khoa học, công
ngh
ệ và môi trường
7,604 3,191 3,811 4,144 5,758 7,242
Chi sự nghiệp phát thanh,
truy
ền hình
1,410 2,662 6,080 8,828 8,645 10,535
Chi lương hưu, đảm bảo xã hội 36,597 37,138 50,266 64,218 78,090 96,624
Chi sự nghiệp kinh tế
16,145 21,193 27,208 37,632 45,543 61,719
Chi quản lý hành chính
29,214 38,025 40,557 56,129 72,423 87,060
Chi bổ sung quĩ dự trữ tài chính
185 159 247 275 288 100
Ở Việt Nam mức chi thực tế cho GD ở tất cả cấp học (tiểu học, trung học và đại
-
Đầu tư của ngân sách nhà nước: Đây là hình thức đầu tư trực tiếp qua ngân
sách Trung Ương và ngân sách địa phương( tỉnh)cho các trường cao đẳng và đại học.
chính sách đầu tư gồm: chi đầu tư cho cơ sở vật chất và chi thường xuyên. Ưu tiên đầu tư
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 11
tài chính và đất đai xây dựng trường học, ký túc xá cho học sinh, sinh viên trong kế hoạch
phát tri
ển kinh tế – xã hội. Thông qua hai bảng số liệu trên có thể thấy, chi phí cho GD ở
Việt Nam trong những năm gần đây là rất lớn.
- Cho vay tín d
ụng ưu đãi: Chương trình tín dụng hỗ trợ cho sinh viên vay
v
ốn được khởi động từ năm 2001, nhưng đến năm 2007 chính phủ mới thực sự đẩy mạnh
th
ực hiện chính sách này. Cho sinh viên vay vốn có thể để tăng thêm sưc gánh chịu chi
phí c
ủa sinh viên. Qũy cho vay hiện nay khoảng 13 triệu USD so với ngân sách nhà nước
dành cho GD kho
ảng 450triệu USD. Mỗi sinh viên được vay với lãi suất thấp (khoảng
50% lãi su
ất thị trường) với số tiền 8 triệu đồng/năm. Trong điều kiện còn hạn chế về
nguồn vốn, các chương trình thiết thực này góp phần mở rộng số lượng sinh viên theo học
các trường trung cấp nghề, cao đẳng và đại học hơn. Từ những thống kê trên đều cho thấy
Vi
ệt Nam đã chi tiêu rất nhiều cho GD và ngày càng tăng qua các năm.
II.1.3.2 S
ự cần thiết của trợ cấp chính phủ đối với GD
Th
ị trường GD tồn tại một số thất bại như: Thông tin không hoàn hảo, tính cạnh
học sinh muốn vào đại học, bởi vì, thứ nhất là ở thời đại toàn cầu hóa ngày nay, thị trường
luôn luôn bi
ến đổi, kỹ thuật luôn luôn thay đổi, các đòi hỏi về sản xuất hàng hóa ngày
càng cao hơn buộc người lao động, càng ở cấp bậc cao, càng phải biết cập nhật, mà sự cập
nh
ật này đòi hỏi một kiến thức cơ bản vững chắc. Bên cạnh đó, thị trường việc làm trong
th
ế giới ngày nay có đặc điểm là biến đổi liên tục, một con người trong suốt đời mình
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 12
thường thay đổi việc làm nhiều lần. Vì vậy, người lao động muốn thích ứng với nền kinh
t
ế tri thức, xã hội muốn đi tắt đón đầu thì thông qua GD đại học là con đường ngắn nhất,
cho nên h
ầu hết các cá nhân đều mong muốn được tiếp cận GD đại học. Nhưng không
phải ai cũng có đủ khả năng chi trả cho việc học. Vì chi phí cho việc học khá cao và đầu
tư cho việc học là đầu tư lâu dài, thời gian học đại học trung bình là 4 năm, trong thời
gian đi học phần lớn chỉ có chi không có thu, do đó những gia đình có thu nhập thấp gặp
nhi
ều khó khăn trong việc tiếp cận GD nếu tất cả các trường học theo cơ chế thị trường,
h
ọc phí bù đắp đầy đủ chi phí GD của trường còn Chính phủ thì không thể không quan
tâm đến vấn đề này. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí và các
chính sách ưu đãi khác, gồm Nghị định 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ
về cấp bù học phí cho các cơ sở GD mầm non, phổ thông, đào tạo nghề nghiệp và đại học;
Quy
ết định 12/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/1/2013 về chính sách hỗ
trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
Quyết định 36/2013/QĐ-TTg ngày 18/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ gạo cho
h
ện nay đòi hỏi. Không thể tăng nhanh năng suất của thầy giáo, nhưng lương của người
th
ầy giáo lại phải tăng theo với mức tăng mặt bằng năng suất lao động của cả nền kinh tế
nếu muốn giữ thầy giáo trong ngành GD. Thêm vào đó, các loại thiết bị, phương tiện,
công c
ụ, sách vở cho việc dạy và học ngày càng tinh vi hơn, nhiều hơn và do đó GD sẽ
tốn kém hơn trước. Nếu như, hai thập kỷ trước đây, thầy giáo và sinh viên có thể gặp
nhau trên gi
ảng đường chỉ bằng bảng đen và phấn trắng thì cũng có thể thực hiện được
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 13
nhiệm vụ dạy và học. Ngày nay, tài liệu học mở ngày càng nhiều sinh viên cần phải biết,
và ph
ải có phương tiện để truy cập mạng internet để đáp ứng nhu cầu học tập cao hơn,
thầy giáo cũng cần phải biết sử dụng công cụ như máy chiếu trong giảng dạy thì mới đáp
ứng đượ
c nhu cầu đòi hỏi ngày càng tăng. Từ đó, sẽ dẫn đến chi phí đơn vị cho một sinh
viên ngày càng tăng. Như vậy, nếu để cá nhân tự chi trả cho GD thì sẽ có rất ít người sẵn
sàng mua và có đủ thu nhập để mua dịch vụ GD. Tất cả những điều này đưa đến một kết
qu
ả quan trọng là đầu tư vào GD đại học cho một con người ngày càng lớn, tức là chi phí
bình quân cho m
ột đơn vị sản phẩm trong GD ngày càng tăng, chứ không phải ngược lại
như đối với hàng hóa thông thường, và do vậy không thể không có sự tài trợ của Nhà
nước.
Th
ứ ba, trong GD có nhiều bất đối xứng thông tin. Bất đối xứng thông tin hay tình
tr
ạng xuất hiện trên thị trường khi một bên nào đó tham gia vào giao dịch có được thông
tin đầy đủ hơn bên kia về các đặc tính của sản phẩm. GD đại học là một loại hàng hóa có
lý
ỷ lại. Do vậy, các nhà kinh tế cho rằng, thị trường GD là thị trường của niềm tin. Tâm
lý
ỷ lại trong GD đại học còn thể hiện ở chỗ, khi người học đã vào được đại học, nếu cơ
chế sàng lọc của cơ sở đào tạo không hiệu quả, nếu những tiêu cực và bất cập về quản lý
khi
ến nhiều người nghĩ rằng vận may hoặc tiền bạc có thể thay cho khả năng học tập và
giúp h
ọ vượt qua được các kỳ sát hạch trong tích lũy tri thức thì nhu cầu ảo, chất lượng ảo
trong GD
đại học lại càng tăng lên. Nếu hệ thống GD chỉ coi trọng thi cử, quan tâm đến
đầu vào mà không áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt trong kiểm soát học tập thì tâm lý
ỷ lại trong GD đại học lại càng thể hiện rõ, đây cũng là nguyên nhân có ảnh hưởng quyết
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 14
định tới chất lượng của hàng hóa. Trong trường hợp này, chỉ có sự can thiệp tích cực của
Nhà nước mới là công cụ hiệu quả nhất khắc phục được những khiếm khuyết của thị
trườ
ng.
Th
ứ tư, hàng hóa GD có ngoại tác tích cực. Việc nâng cao chất lượng GD không chỉ
làm tăng lợ
i ích cho riêng một cá nhân hay một nhóm người riêng lẻ mà điều đó còn làm
tăng lợ
i ích cho cả cộng đồng xã hội. Như vậy, khi cá nhân tham gia vào học đại học như
công cụ đem lại lợi ích cho cá nhân thì vô tình anh ta cũng đồng thời đáp ứng cho lợi ích
xã h
ội. Nghĩa là lợi ích xã hội do GD tạo ra luôn luôn lớn hơn lợi ích cá nhân nhận được.
Nhưng giá thành tạo ra chúng cao hơn nhiều so với giá người mua sẵn sàng trả, cho nên,
n
mu
ốn “nhận diện” được so với các dân tộc khác chỉ có thể dựa vào bản sắc dân tộc và nếu
b
ản sắc dân tộc không còn thì điều đó đồng nghĩa với thảm họa dân tộc ấy sẽ bị xóa sổ, bị
hòa tan. Chính yếu tố lợi ích ngoại tác đem đến cho cộng đồng của GD đại học là một
trong các y
ếu tố quan trọng trong hình thành cơ sở cho việc Chính phủ tham gia vào đầu
tư cho GD đại học. Hay nói một cách đầy đủ, điểm khác biệt cơ bản của GD (hàng hóa
công) so v
ới các loại hàng hóa cá nhân bình thường khác, là lợi ích ngoại sinh của nó.
Th
ứ năm, GD là công cụ quan trọng để thực hiện phân phối lại thu nhập. Thị trường
không có trách nhi
ệm và không thể phân phối thu nhập theo nguyên tắc công bằng cho tất
c
ả mọi người. Khả năng tiếp cận GD đại học của từng cá nhân là không giống nhau, trong
đó có tác động từ yếu tố thu nhập cá nhân. Việc hình thành thị trường GD hoàn toàn vận
động theo quy luật của thị trường sẽ làm cho số đông không thể tiếp cận được với hàng
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 15
hóa. Nhất là khi thị trường hoàn toàn tự quyết định vấn đề cung cấp thì khả năng những
cá nhân được học đại học chỉ là những người có thu nhập cao và mới có thể chi trả hoàn
toàn chi phí cho GD
đại học. Yếu tố thu nhập của gia đình làm cho mỗi cá nhân có cơ hội
ti
ếp cận GD sớm hay muộn, chất lượng của việc học tập ra sao, hay trang thiết bị đồ dùng
h
ọc tập khác nhau cũng ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân đó nhận được từ nền GD cũng
khác nhau. Chính điều này làm cho cơ hội tiếp cận được GD đại học của cá nhân thu nhập
th
98,6%, ti
ểu học đạt 97,4%, trung học cơ sở trên 85,5%, trung học phổ thông đạt 54,4%; tỷ
lệ trẻ khuyết tật đi học đạt 58,4%; tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân đạt 56,1 người; tỷ lệ
ngườ
i biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 98,25%, trong đó: Số người biết chữ trong độ tuổi 15-
35 chi
ếm tỷ lệ 99,12% (tăng 0,08%); số người biết chữ trong độ tuổi từ 36-60 chiếm tỷ lệ
97,34% (tăng 0,22%)
. Công bằng xã hội trong GD đã được cải thiện, đặc biệt tăng cơ hội
h
ọc tập cho trẻ em gái, trẻ em dân tộc thiểu số, con em gia đình nghèo và trẻ em khuyết
t
ật. GD ở vùng đồng bảo dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có tiến bộ rõ rệt.
Đối với GD phổ thông, trong giai đoạn 2008 - 2012 đã có gần 4.000 phòng học, trên
1.000 phòng thí nghi
ệm, gần 1.000 phòng học đa chức năng và thư viện và trên 500
phòng n
ội trú cho các em học sinh dân tộc thiểu số được nâng cấp hoặc xây mới bằng
ngu
ồn vốn các chương trình, dự án ODA.
C
ả nước có 559 cơ sở có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, trong đó 295 trường
trung c
ấp chuyên nghiệp, 207 trường cao đẳng có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và 57
trường đại học có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp; 427 trường đại học, cao đẳng, trong
đó có 213 trường đại học (57 tư thục) và 214 trường cao đẳng (27 tư thục). 41/63 tỉnh,
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 16
thành phố có trường đại học (đạt tỷ lệ 65%); 62/63 tỉnh, thành có trường cao đẳng (đạt tỷ
lệ 95%) và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất 1 trường cao đẳng, hoặc đại học (trừ tỉnh Đăk
cho trẻ 3-5 tuổi 5.000 đồng/bữa, học bổng học sinh nội trú 28.000 đồng/ngày/học sinh…);
định mức lao động cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ở loại hình trường phổ thông
dân t
ộc bán trú còn bất cập
H
ầu hết mọi thước đo đều cho thấy Việt Nam đã chi rất nhiều cho GD. Tuy nhiên,
chi tiêu GD l
ại không hiệu quả và mất cân đối về cơ cấu, nhất là trong hai lĩnh vực: Thứ
nhất, Việt Nam chi quá ít cho GD đại học. Thứ hai, việc chi tiêu quá thiên về đầu tư cơ
bản và do vậy làm giảm phần chi tiêu thường xuyên, thể hiện thái độ coi trọng quá mức
“ph
ần cứng” trong GD (nhà cửa, phòng ốc và cơ sở hạ tầng). Trong cơ cấu chi NSNN cho
GDĐH, tỷ lệ giữa chi cho đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) và chi cho dạy và học bất hợp
lý.
Ở Việt Nam, trong cả giai đoạn 1998-2009, chi cho XDCB chiếm xấp xỉ 18% tổng chi
và chi thường xuyên khoảng 82%, trong đó chủ yếu là chi cho lương và các khoản liên
quan đến lương của giáo viên và cán bộ quản lý GD. Trong điều kiện cơ sở vật chất ở các
cơ sở GD ở nước ta còn nghèo nàn thì tỷ trọng nói trên là có thể hiểu được. Phần để chi
cho h
ọc tập của người học như: học liệu, học cụ, vật tư, hóa chất thí nghiệm … chiếm tỷ
trọng rất nhỏ.
Chương trình tín dụng ưu đãi học đại học có mục đích nhằm giảm bớt gánh nặng
cho người học, trước hết là đối với người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, nếu nguồn vay này
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 17
chỉ được dùng để trang trải cho học tập thì nó không hoàn toàn hấp dẫn đối với những
người mà hằng ngày cần phải bươn trải để đảm bảo cuộc sống. Cuối cùng lợi ích từ
chương trình này sẽ đạt được cơ bả
n là cho lớp trẻ, mà cha mẹ họ thuộc về tầng lớp trung
lưu, phần đông trong số họ có khả năng học đại học mà không cần học đại học mà không
tượng nào được hưởng dịch vụ y tế đều phải đóng một khoản phí để khám chữa bệnh. Đối
v
ới người nghèo thì sẽ ít có điều kiện hưởng các hàng hóa y tế nếu họ không có đủ khả
năng đóng phí. Do đó họ
sẽ có nhiều rủi ro hơn trong việc khám chữa bệnh.
Như vậy, hàng hóa y tế là hàng hóa công không có tính cạnh tranh nhưng vẫn có
tính lo
ại trừ nên hàng hóa y tế là hàng hóa công không thuần túy
II.2.2 Ngo
ại tác tích cực của y tế:
Trong vi
ệc cung cấp hàng hóa y tế, ngoại tác tích cực thể hiện ở những vấn đề sau:
- Khi có công b
ằng trong cung cấp hàng hóa y tế, mọi người, mọi nhà được tiếp cận
s
ử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách dễ dàng hơn, nâng cao sức khỏe người
dân, tăng nguồn nhân lực cho nền kinh tế phát triển.
Vi
ệc xây dựng, đầu tư, cải tạo, nâng cấp về cơ sở hạ tầng, đầu tư mua sắm trang
thi
ết bị cho hệ thống y tế tuyến cơ sở. Đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn cho đội
ngũ cán bộ y tế của các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện đa khoa khu vực. Thông qua
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 18
những hoạt động đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nông thôn nhất là ở vùng
núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng cao.
Đặc biệt còn đẩy mạnh nhiều hoạt động truyền thông GD sức khoẻ cho người dân
trong huy
ện, tạo điều kiện cho người dân vùng nông thôn có khả năng tiếp cận các dịch
v
người có việc làm hỗ trợ người không có việc làm, người không có bệnh hỗ trợ người có
b
ệnh.
M
ột quốc gia mạnh, có vị thế trên thương trường quốc tế thì quốc gia ấy phải có nền
kinh t
ế phát triển vượt bậc. Mà để cho sự phát triển ấy vươn đến tầm cao thì không thể
nào thiếu được nguồn nhân lực có chất lượng, với đầy đủ thể lực và trí tuệ. Thế nên đầu
tư vào y tế chính là đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực, nhằm giúp cho đất nước phát
tri
ển mạnh mẽ.
- Công b
ằng trong y tế giúp giải quyết vấn đề về bệnh dịch tràn lan, giảm chi ngân
sách nhà nước. Bên cạnh đó còn tạo được một nguồn lao động khỏe mạnh, thu hút nguồn
v
ốn từ nước ngoài, quy mô nền kinh tế được mở rộng.
Hi
ện nay, một trong sáu chương trình y tế quốc gia ưu tiên là dự án tiêm chủng mở
rộng, thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch
nguy hi
ểm đã góp phần từng bước khống chế hầu hết các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở
trẻ em Việt Nam .
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 19
Phòng bệnh là vấn đề chính của y tế công cộng, vaccin là biện pháp phòng bệnh hiệu
qu
ả nhất để bảo vệ cho người tiêm không mắc bệnh và tránh xảy ra các vụ dịch lớn ảnh
hưởng đến sức khỏe, tính mạng và chi phí của người dân.
Vi
ệc tiêm phòng cho từng cá nhân cũng góp phần bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng, đặc
th
ật sự cần thiết, luôn cần được quan tâm và đặt lên hàng đầu. Chỉ có y tế mới có thể đảm
b
ảo được sức khỏe của con người, làm cho cuộc sống chúng ta trở nên an toàn và chất
lượng hơn. Vì thế không chỉ các nước có thu nhập cao mà các nước có thu nhập trung
bình và thu nh
ập thấp luôn cố gắng xây dựng cho mình một nguồn lực tài chính đủ mạnh
để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân.
M
ỹ là nước chi tiêu y tế đứng đầu thế giới, những năm 90, chi phí y tế chiếm
11,9% GDP, đến năm 2009 chi phí y tế tăng lên chiếm 16% GDP, với chi tiêu bình quân
là 7.290 Đô-la/người. Chi tiêu y tế ở Mỹ gấp 2,5 lần mức chi bình quân của các nước
trong OECD- T
ổ chức phát triển và hợp tác kinh tế, gấp 11,8 lần Thổ Nhĩ Kỳ. Hàn Quốc,
năm 1990 chi phí cho y tế mới chiếm 4,3% GDP nhưng đến năm 2007 chi phí y tế nước
này tăng lên chiếm 6,8% NDP. Ở Việt Nam, chi phí y tế có xu hướng tăng dần từ 4,9%
năm 1999, lên 5,9% GDP năm 2005, trong đó chi tại khu vực công chiếm 1,42%, khu vực
tư chiếm 4,49%.
Môn: Tài chính công GVHD: Phạm Đức Chính
Trang 20
Hình 6: Tỷ lệ chi tiêu công cho y tế /GDP
Qu
ốc gia 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Mỹ 15.72 15.77 15.86 16.08 16.54 17.71 17.66 17.68 17.91
Trung
Qu
ốc 4.75 4.68 4.55 4.35 4.63 5.15 4.98 5.15 5.41
Pháp 10.97 11.02 10.95 10.88 11.02 11.73 11.68 11.63 11.75
Nhật Bản 7.99 8.18 8.20 8.23 8.61 9.53 9.59 9.95 10.07
Campuchia 7.07 6.95 5.36 4.47 5.46 6.26 5.82 5.56 5.42
còn cao nhưng đã có xu hướng giảm từ 65% năm 2005 xuống 49,3% năm 2009, nhờ đó tỷ
lệ chi tiêu tư cho y tế ngày càng giảm. NSNN được phân bổ và sử dụng tập trung theo
hướng thực hiện các chức năng chính của quản lý nhà nước trong lĩnh vực CSSK, để đạt
các m
ục tiêu của y tế công cộng. Tỷ lệ chi cho YTDP so với NSNN cho y tế đều đạt và
vượt mức 30%. Thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN đang được xem là
m
ột trong những ưu tiên trong công tác tài chính y tế. Các nỗ lực đổi mới phương thức