KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
LỚP K09404B
Môn: Luật kinh tế
Đề tài:
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
GVHD: Ths. Đào Thị Thu Hằng
Nhóm thực hiện: Nhóm 16 – K09404B
MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 1
L I M UỜ Ở ĐẦ 2
1
CH NG 1 – KHÁI QUÁT V TÍN D NGƯƠ Ề Ụ 3
III.1. Khái ni m v tín d ng ngân hàngệ ề ụ 4
III.2. Vai trò c a tín d ng ngân hàngủ ụ 4
III.3.Quy trình tín d ng ngân hàngụ 4
III.1.M t s đi m c n l u ý trong h p đ ng tín d ngộ ố ể ầ ư ợ ồ ụ 7
III.2.Quy n và ngh a v c a bên vay ( i u 56 lu t các t ch c các t ch c tín ề ĩ ụ ủ Đ ề ậ ổ ứ ổ ứ
d ng 1997)ụ 8
III.3. Quy n và ngh a v c a bên cho vayề ĩ ụ ủ 9
III.4. Các đ i t ng không đ c vay ( i u 77 lu t các TCTD 1997)ố ượ ượ Đ ề ậ 10
III.5. Các đ i t ng h n ch tín d ng ( i u 78 lu t các TCTD 1997)ố ượ ạ ế ụ Đ ề ậ 10
III.6. Gi i h n tín d ng ( i u 79 lu t các TCTD 1997)ớ ạ ụ Đ ề ậ 10
I.1.a. Th a thu n thay đ i lãi su t khi th i h n ch a k t thúcỏ ậ ổ ấ ờ ạ ư ế 12
nhằm giúp các bạn có cái nhìn toàn diện về vấn đề trên. Chúng tôi rất mong nhận
được sự ủng hộ cũng như những góp ý chân thành của cô và các bạn sinh viên để
hoàn thiện đề tài này.
Chúng tôi chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1 – KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG
I. Khái niệm về tín dụng
Tín dụng (TD) là mối quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay.
Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền
hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi
vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm
hoặc không kèm theo một khoản lãi. TD có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ,
tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh doanh.
3
Chủ thể cho vay (nguồn
cung TD):
− Tiết kiệm cá nhân.
− Tiết kiệm doanh
nghiệp.
− Thặng dư ngân sách
nhà nước
− ….
Chủ thể đi vay (nguồn cầu
TD):
− Nhu cầu đầu tư của
doanh nghiệp
− Nhu cầu đầu tư của cá
nhân
− Bù đắp ngân sách của
chính phủ.
- Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và các
ngành mũi nhọn.
- Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các
doanh nghiệp.
- Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước
ngoài.
III.3.Quy trình tín dụng ngân hàng
III.3.a. Quy trình tín dụng ngân hàng là gì?
Quy trình tín dụng ngân hàng là bản tổng hợp mô tả công việc của ngân
hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết
định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng.
4
III.3.b. Ý nghĩa của quy trình tín dụng
- Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt
quan trọng đối với một ngân hàng thương mại.
- Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng
cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
- Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng:
+ Làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận
trong hoạt động tín dụng.
+ Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn.
III.3.c. Một quy trình tín dụng căn bản: gồm 7 bước.
Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:
- năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng
- khả năng sử dụng vốn vay
- khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)
Bước 2: Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách
hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay.
- Thứ tư, HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ theo đúng qui luật của pháp
luật về:
+ Năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng.
+ Mục đích sử dụng vốn vay.
+ Giới hạn vốn vay.
- Thứ năm, nội dung hợp đồng tín dụng phải có:
o Điều kiện vay
o mục đích sử dụng tiền vay
o hình thức vay, số tiền vay
o lãi suất
o thời hạn vay
o hình thức bảo đảm
o giá trị tài sản bảo đảm
o phương thức trả nợ
o những cam kết khác được các bên thỏa thuận
(Điều 51 Luật các TCTD)
- Thứ sáu, tổ chức tín dụng có quyền xem xét, quyết định cho vay hay không
dựa trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế
chấp của khách hàng vay, bảo lãnh của bên thứ ba và chịu trách nhiệm về
quyết định của mình. Tổ chức tín dụng không được cho vay trên cơ sở cầm
cố bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng cho vay.
6
- Thứ bảy, mức lãi suất cho vay: phù hợp với quy định của NHNN Việt
Nam.
- Thứ tám, lãi suất nợ quá hạn: không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp
dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp
đồng tín dụng.
- Thứ chín, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Thẩm phán phải
theo dõi lãi suất cơ bản do Thống đốc NHNN công bố trong từng thời kỳ.
- Thứ mười, nếu bên vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa
- Trước 2005, NHNN quy định:
+ Khoản vay ngắn hạn chỉ được gia hạn tối đa bằng thời hạn cho vay.
+ Khoản vay trung, dài hạn tối đa bằng ½ thời hạn cho vay.
- Từ 2005 đến nay, theo quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03
tháng 2 năm 2005 của thống đốc NHNN: các khoản nợ được gia hạn
nhiều lần, với thời hạn không bị hạn chế.
III.1.c. Thẩm quyền kí hợp đồng
Mỗi bên chỉ cần một người đại diện có thẩm quyền ký hợp đồng tín dụng
và khế ước nhận nợ. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều trường hợp bên ngân hàng có
hai chữ ký (giám đốc và trưởng phòng tín dụng), đồng thời yêu cầu bên vay cũng
có hai chữ ký (giám đốc và kế toán trưởng đối với doanh nghiệp hoặc hai vợ
chồng đối với cá nhân).
Ngoài ra, đối với cả ngân hàng và bên vay là doanh nghiệp, thì dòi hởi phải
có sự thông qua của cấp có thẩm quyền đối với các trường hợp khoản tín dụng đạt
đến một mức nhất định như:
- Bên vay là doanh nghiệp phải thông qua Hội đồng Thành viên hoặc Chủ sở
hữu công ty hoặc HĐQT trong trường hợp giá trị khoản vay hay giá trị tài sản
cầm cố, thế chấp “bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong
báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ
khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty” (§ 47, 64 và 108 LDN).
- Đối với ngân hàng, nếu các khoản cho vay có giá trị từ 10% tổng tài sản của
ngân hàng trở lên, thì cũng phải thông qua HĐQT hoặc được HĐQT phân cấp,
uỷ quyền. Đối với các khoản vay trên 15% vốn tự có của ngân hàng, thì phải
được Thủ tướng Chính phủ hoặc Thống đốc NHNN cho phép.
Chú ý: Khi ký kết HĐTD nói riêng, HĐ nói chung, phải xem xét kĩ càng
chủ thể ký kết HĐ có đủ thẩm quyền ký kết HĐ hay không để tránh trường
hợp HĐ bị vô hiệu hóa gây thiệt hại cho các bên tham gia vào HĐ.
III.2.Quyền và nghĩa vụ của bên vay (Điều 56 luật các tổ chức các tổ chức tín
dụng 1997)
III.2.a. Quyền của bên vay
khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng.
- Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc khởi kiện bên thứ ba
cầm cố, thế chấp, bảo lãnh theo quy định của pháp luật.
- Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thoả
thuận khác thì ngân hàng có quyền bán tài sản bảo đảm tiền vay theo sự thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay để thu nợ theo
quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người thứ ba thực hiện nghĩa vụ cầm cố,
thế chấp, bảo lãnh cho khách hàng vay vốn.
- Miễn, giảm lãi tiền vay theo quy định của ngân hàng; gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ
hạn nợ theo quy định.
9
- Mua bán nợ, đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ và cơ cấu lại nợ theo quy định của
Chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam.
III.3.b. Nghĩa vụ của bên cho vay
Giải ngân cho bên vay theo đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.
- Trong số các nghĩa vụ của bên cho vay, thì nghĩa vụ giải ngân là quan trọng
nhất. Nếu nghĩa vụ này không được thực hiện, thì sẽ không phát sinh quyền và
nghĩa vụ khác của hai bên.
III.4. Các đối tượng không được vay (Điều 77 luật các TCTD 1997)
- Thành viên HĐQT, Ban kiểm soát của ngân hàng.
- Tổng giám đốc hoặc Giám đốc và Phó tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc của
ngân hàng.
- Bố, mẹ, vợ, chồng, con của các đối tượng trên.
- Người thẩm định, xét duyệt cho vay.
III.5. Các đối tượng hạn chế tín dụng (Điều 78 luật các TCTD 1997)
- Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên đang kiểm toán tại ngân hàng.
- Kế toán trưởng, Thanh tra viên.
- Các cổ đông lớn của ngân hàng.
giải hay trọng tài thương mại.
I. Thực trạng các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng trên thực tế
I.1. Dạng tranh chấp về hành vi vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong
hợp đồng.
Đây là dạng tranh chấp HĐTD phổ biến, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong HĐTD.
Hành vi vi phạm nghĩa vụ này, có thể là hành vi của bên cho vay (các ngân hàng
và các định chế tài chính khác). Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam,
HĐTD là một dạng của hợp đồng ưng thuận có hình thức bắt buộc bằng văn bản
(văn bản viết hoặc văn bản điện tử). Tại khoản 4 Điều 404 BLTTDS: “Thời điểm
giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản”; tại
Điều 405 quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm
giao kết trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Vì
thế, sau khi HĐTD có hiệu lực, việc giải ngân khoản tín dụng mà hai bên đã thoả
thuận là nghĩa vụ của bên cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp
sau khi ký kết HĐTD với khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân. Điều này, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi
ích hợp pháp của bên vay như bên vay không tiến hành kế hoạch kinh doanh như
dự kiến, không có vốn đầu tư vào dự án đầu tư, đấu thầu đã được đăng ký. Hậu
11
quả là bên cho vay làm tổn thất rất lớn về hiệu quả kinh tế cũng như uy tín, danh
dự, thậm chí thương hiệu của bên vay.
Tranh chấp HĐTD còn có thể xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ trả lãi và
thậm chí cả gốc và lãi. Trên thực tế, có trường hợp hai bên không thoả thuận rõ
ràng về lãi suất đối với cả thời hạn vay hoặc ban đầu do cần tiền để thực hiện kế
hoạch của mình nên khách hàng chấp nhận mức lãi suất đó nhưng sau một thời
gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không
đồng ý. Tuy nhiên, đa phần là dạng tranh chấp về vi phạm nghĩa vụ trả nợ của
khách hàng khi đáo hạn.
Năm 1995, do nhu cầu sản xuất kinh doanh mở rộng, công ty trách nhiệm
hữu hạn Phương Đông (CTPĐ) đã vay của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển
12
trong quá trình hòa giải hai bên có thỏa thuận nếu khách hàng thanh toán ngay
khoản nợ gốc thì TCTD sẽ giảm lãi suất đồng nghĩa với việc giảm một phần tiền
lãi mà khách hàng phải trả hoặc miễn một phần lãi. Vụ việc như vậy sẽ không có
tranh chấp nếu hai bên thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, trên thực tế vẫn có tình
huống khách hàng không thực hiện đúng cam kết dẫn đến tranh chấp xảy ra.
Trường hợp ông Nguyễn Văn M. và NHTMCP P. dưới đây là một ví dụ
cho tình huống này. Ngân hàng P. khởi kiện ông M. vì đã không thực hiện đúng
nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho khoản vay 150.000.000 đồng theo HĐTD số
102/TDG/08 TGB ngày 12/02/2008. Theo biên bản hòa giải, hai bên đã thỏa thuận
ngân hàng P. sẽ giảm lãi suất, giảm một phần tiền phạt chậm trả cho ông M. và rút
đơn khởi kiện với điều kiện ông M. phải thanh toán 150.000.000 đồng tiền nợ gốc
làm hai kì ngay sau đó. Tại phiên tòa sơ thẩm, ngân hàng P cho rằng ông M. chưa
thực hiện đầy đủ việc thanh toán tiền nợ gốc nên ngân hàng vẫn áp dụng lãi suất
cũ. Ông M. lại cho rằng ông đã thực hiện được một kì trả nợ gốc là 75.000.000
đồng như thỏa thuận tại phiên hòa giải nên yêu cầu ngân hàng P. giảm một phần
lãi suất tương ứng với phần ông đã trả được. Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét và chấp
thuận yêu cầu của ngân hàng vì ông M. chưa thực hiện đầy đủ điều kiện theo thỏa
thuận nên nghĩa vụ giảm lãi suất và giảm tiền phạt chậm trả của ngân hàng P.
không phát sinh.
Đối với những vụ tranh chấp như vậy, nguyên nhân chủ yếu thuộc về lỗi
của bên vay, bởi vì nghĩa vụ giảm lãi của TCTD chỉ phát sinh khi khách hàng vay
vốn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận.
TCTD yêu cầu nâng lãi suất cho vay
Điều khoản về lãi suất trong HĐTD là điều khoản vô cùng quan trọng.
Thông thường để hạn chế rủi ro lãi suất, TCTD không thỏa thuận lãi suất cố định
với hợp đồng trung – dài hạn mà quy định trong HĐTD lãi suất cho vay tính bằng
lãi suất tiền gửi cộng một biên độ và thay đổi định kì. Trong một số hợp đồng vay
ngắn hạn, lãi suất cho vay được thỏa thuận là lãi suất cố định trong suốt thời gian
suất mới nên không có cơ sở để khởi kiện.
Phân tích vụ việc trên, thời điểm Ngân hàng X yêu cầu tăng lãi suất lên
1,75%/tháng là lúc NHNN đang áp dụng trần lãi suất cho vay bằng 150% lãi suất
cơ bản. Căn cứ vào Quyết định số 1317/QĐ-NHNN quy định lãi suất cơ bản bằng
đồng Việt Nam là 14%/năm áp dụng từ ngày 11/6/2008, trần lãi suất cho vay là
21%/năm, tương đương 1,75%/tháng, ngân hàng X yêu cầu tăng lãi suất không
vượt quá mức trần. Tuy nhiên, trước đó NHNN đã có Công văn 5004/NHNN-
CSTT ngày 04/6/2008 quy định đối với các HĐTD kí kết trước ngày 19/5/2008,
các bên tiếp tục thực hiện những nội dung trong hợp đồng đã kí kết (phù hợp với
các quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm kí kết HĐTD đó).
Như vậy ở trường hợp trên, lẽ ra ngân hàng X phải thực hiện hợp đồng với lãi suất
như đã thỏa thuận trước đó trong HĐTD, việc tăng lãi suất là trái với quy định của
pháp luật.
Ngoài dạng tranh chấp lãi suất liên quan đến hành vi của người cho vay và
bên đi vay, trên thực tế ta còn các dạng tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng
khác như: tranh chấp về lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn, tranh chấp lãi
suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với các khoản nợ quá hạn.
I.1.b. Lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn
Với Thông tư số 12/2010/TT-NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có
hiệu lực từ ngày 01/01/2011, TCTD được cho vay bằng đồng Việt Nam với khách
hàng theo lãi suất thỏa thuận. Khi chuyển sang cơ chế trần lãi suất cho vay, nhiều
TCTD với những HĐTD kí kết trước 19/5/2008 lâm vào cảnh vượt quá mức trần
14
là 150% lãi suất cơ bản. Trước đây cơ chế lãi suất thỏa thuận từng được áp dụng
trong khoảng thời gian từ tháng 6/2002 đến tháng 5/2008. Tại Thông tư số
04/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy
định tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất tối đa bằng mức lãi suất tiền gửi không kỳ
hạn thấp nhất của tổ chức tín dụng theo từng đồng tiền trong trường hợp tổ chức,
cá nhân rút tiền gửi trước hạn. Có thể thấy rằng, mỗi lần NHNN thay đổi chính
sách lãi suất cho vay, những HĐTD đang có hiệu lực cũng chịu ảnh hưởng không
hàng phải có trách nhiệm chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn, nhưng ngân
hàng vẫn tiếp tục tính lãi suất theo cách cộng dồn lãi, phí vào nợ gốc. Tòa xác
định lại tiền lãi và các khoản phí phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
giữa hai bên chỉ là 21.000.000 đồng.
15
Rõ ràng việc tính lãi cộng dồn là hoàn toàn sai so với quy định của pháp
luật, xâm phạm đến lợi ích của người đi vay.
Tranh chấp về lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn tập trung ở ba
vấn đề:
Một là, cơ quan xét xử không nhất quán khi vừa áp dụng trần lãi suất cho
vay bằng 150% lãi suất cơ bản cho cả giai đoạn được phép thỏa thuận lãi suất
trước ngày 19/5/2008; vừa không áp dụng mức trần với thỏa thuận lãi suất trong
giai đoạn từ 19/5/2008 về sau.
Hai là, tranh chấp lãi suất do TCTD tính lãi cộng dồn gây thiệt hại cho
khách hàng.
Ba là, cơ quan xét xử chia bình quân lãi suất trong thời gian vay để xác
định tính hợp pháp của thỏa thuận lãi suất trong từng giai đoạn tương ứng với từng
cơ chế điều hành lãi suất của NHNN.
I.1.c Lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quá hạn
Lãi suất nợ (gốc) quá hạn là một trong những nội dung thường xảy ra tranh
chấp trong hoạt động tín dụng. Trên thực tế việc áp dụng cách tính lãi suất nợ quá
hạn còn nhiều vấn đề chưa được rõ ràng. Hiện nay trong pháp luật Việt Nam có
hai quy định không thống nhất về cách thức tính lãi suất quá hạn. Cách thứ nhất
theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 thì lãi suất quá hạn được tính
không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Trong khi đó cách tính thứ hai căn cứ vào
pháp luật chuyên ngành là Khoản 2 Điều 11 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất trong hạn. Theo đó, có nhiều tranh
chấp xảy ra về cách tính lãi suất nợ quá hạn mà nhiều bản án sơ thẩm bị kháng
cáo, kháng nghị vì lí do này. Trên thực tế, cơ quan tài phán cũng không hoàn toàn
nhất quán trong quá trình giải quyết. Việc áp dụng quy định của pháp luật chuyên
• Số tiền vay 120.000.000 đồng.
• Thời hạn vay 12 tháng từ ngày 14/12/2007 đến 14/12/2008.
• Lãi suất từ 14/12/2007 đến 04/7/2008 là 1,05%/tháng, từ ngày 04/7/2008
trở đi là 1,75%/tháng.
• Bà A. và ông T. đã trả lãi cho VietBank từ ngày vay đến ngày 14/9/2008
và chưa thanh toán nợ gốc.
Trong quá trình giải quyết, tòa cấp sơ thẩm TAND tỉnh Sóc Trăng cũng
tuyên áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố vào
thời điểm xét xử sơ thẩm là 7%/năm (theo Quyết định số 2232/QĐ-NHNN ngày
24/9/2009).
Ở cả hai vụ việc này, VietBank đều kháng cáo về việc áp dụng lãi suất nợ quá hạn.
VietBank cho rằng theo Khoản 2 Điều 11 của Quy chế cho vay ban hành kèm theo
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, lãi suất quá hạn phải được xác định bằng
150% lãi suất trong hạn trong hợp đồng là 150% x 1,75%/tháng. Tòa phúc thẩm
TANDTC tại TPHCM xét xử phúc thẩm cho rằng việc áp dụng quy định của
BLDS 2005 là hợp pháp và không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tại bản án
số 56/2010/KDTM-PT và 57/2010/KDTM-PT cùng ngày 08/4/2010.
Khác với hai vụ việc trên, trong vụ “Ly hôn và tranh chấp tài sản” sau đây,
cơ quan chức năng lại đưa ra cách giải quyết ngược lại. Ông Trịnh Xuân B. và bà
Lê Thị Thanh N. kí với NHTMCP Á Châu (sau đây gọi là ACB) hai HĐTD.
• Hợp đồng thứ nhất PHT.CN.01080907 ngày 10/9/2007 và HĐTD trung,
dài hạn số 29900799 ngày 10/9/2007, nợ vốn 1.744.447.000 đồng nợ gốc
và lãi 146.533.546 đồng.
17
• Hợp đồng thứ hai PHT.CN.01171107 ngày 19/11/2007 và HĐTD trung,
dài hạn số 32276929 ngày 20/11/2007, tổng số tiền 633.326.000 đồng nợ
vốn và 34.075.314 đồng nợ lãi.
Bản án sơ thẩm số 61/2009/HNST ngày 31/12/2009 của TAND quận 10
(TPHCM) tuyên tiền lãi của ACB sẽ được tính tiếp tục kể từ ngày 01/01/2010 với
mức lãi suất cơ bản theo quy định của NHNN trên tổng số dư nợ gốc thực tế cho
xử về tài sản mà chỉ giao việc nuôi con chung.
Trước khi có quyết định của Toà khách hàng B và vợ cũ B đã có biên bản
thoả thuận phân chia tài sản (có gởi cho Toà). Vậy ngân hàng có thể căn cứ vào
18
Biên bản phân chia tài sản giữa ông B và vợ để nhận thế chấp tài sản được không?
(Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đứng tên cả 2 người).
Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận, nếu không thoả thuận
được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Trong quá trình yêu cầu ly hôn, vợ chồng ông
không có yêu cầu Tòa án giải quyết mà chỉ cung cấp Biên bản thỏa thuận phân
chia tài sản.
Vì vậy, Biên bản thỏa thuận nói trên chỉ là sự ghi nhận ý chí của các bên
trong việc phân chia tài sản chứ chưa đủ giá trị pháp lý để ông B bảo lãnh thế chấp
vay vốn.
Tranh chấp phát sinh từ HĐTD còn là những tranh chấp về luật áp dụng và
cơ quan giải quyết tranh chấp trường hợp một trong hai bên là bên nước ngoài mà
khi ký kết hợp đồng các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết
tranh chấp cũng như luật áp dụng.
Tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, diễn biến cũng đa dạng và có tính
chất phức tạp. Do đó, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết
sức cần thiết. Từ đó, có những biện pháp, đường lối, chính sách nhằm khắc phục
tình trạng tranh chấp để tiến tới giảm đáng kể số lượng tranh chấp.
II. Những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng
Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD rất đa dạng, có thể xem xét theo
nhiều tiêu thức khác nhau. Một trong những cách tiếp cận thông dụng là phân tích
nguyên nhân gây ra từ phía bên cho vay, bên vay và những quy định của pháp
luật.
II.1. Nguyên nhân từ phía bên cho vay có thể bao gồm :
Ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải
ngân cho khách hàng như đã cam kết. Các tổ chức tín dụng không chấp hành
nghiêm chỉnh chế độ tín dụng và điều kiện cho vay. Nhiều tổ chức cho vay không
ngân hàng khác, số tiền vay được hoàn toàn bị sử dụng sai mục đích.
Qua ví dụ trên, có thể thấy thông tin tín dụng có vai trò quan trọng và quyết
định tới sự phát triển của chính các tổ chức tín dụng. Trong quá trình thực hiện
HĐTD, các tổ chức cho vay phải thường xuyên thực hiện quyền kiểm tra việc sử
dụng vốn của khách hàng. Theo thạc sĩ Nguyễn Hữu Đương – Học viện Ngân
hàng thì: “Giả sử trong ngành ngân hàng hoạt động tín dụng như một nhà máy với
sản phẩm đầu ra là các khoản tín dụng. Trong đó, quản trị rủi ro là một phân
xưởng quan trọng trong dây chuyền công nghệ để tạo ra sản phẩm. Thông tin tín
dụng là một phần nguyên liệu đầu vào cho phân xưởng đó. Nguyên liệu đó bao
gồm thông tin lịch sử, hiện tại và xu hướng phát triển của khách hàng (gồm cả về
tài chính và phi tài chính) và đặc biệt là các thông tin thống kê về các chỉ tiêu
trung bình ngành phục vụ cho việc xếp loại khách hàng vay”. Trong quá trình tiến
hành hoạt động cho vay, các bên cho vay nên đặc biệt lưu tâm tới các điều kiện
của bên vay để có những quyết định đúng đắn, tránh những tranh chấp về sau.
Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số nhân viên tín dụng chưa đủ tầm
dẫn đến có trường hợp khách hàng vay vốn có thế chấp bằng tài sản nhưng vẫn
được giữ cả vật thế chấp và giấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của
họ. Rồi sau đó, khách hàng đem bán tài sản bảo đảm cho người thứ ba. Khi đó cả
20
ngân hàng và người thứ ba đều cho rằng tài sản đó phải thuộc sở hữu của mình.
Trên thực tế, đã có nhiều tranh chấp HĐTD phát sinh do nguyên nhân này.
Như vậy, đối với bên cho vay cần tuân thủ nghiêm chỉnh quy trình, điều
kiện cho vay, nâng cao đội ngũ nhân lực ngân hàng, củng cố và phát triển hệ thống
thông tin tín dụng, có biện pháp để kiểm tra, giám sát hoạt động của bên vay có
đúng như cam kết không.
II.2. Nguyên nhân từ phía bên vay
Các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp HĐTD do người vay bao gồm:
Bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những
nghĩa vụ của mình. Điều này, có thể do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan chi phối.
Trong thời gian tới, Nhà nước cần có nhiều kênh thông tin tạo cơ hội cho
khách hàng tiếp cận và nắm vững được các quy định của pháp luật, hạn chế được
những rủi ro đối với các bên.
II.3. Nguyên nhân nữa làm phát sinh tranh chấp HĐTD là do quy định
của pháp luật.
Nhiều quy định của pháp luật còn chưa được hiểu thống nhất, dẫn đến mỗi
bên hiểu theo những cách khác nhau nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích của mình,
từ đó nảy sinh những bất đồng mâu thuẫn và đi đến tranh chấp. Hiện nay, pháp
luật quy định các bên cho vay nếu muốn từ chối khách hàng nào thì bắt buộc phải
đưa ra các căn cứ hay những lý do chính đáng. Nhưng chưa có văn bản nào hướng
dẫn cụ thể về vấn đề này. Vì thế, phía người cho vay quan niệm rằng cho vay là
quyền được tự do kinh doanh của họ vì vậy lý do có chính đáng hay không do ho
quyết định. Còn người đi vay thì không đồng ý với cách hiểu đó và trong những
trường hợp bị từ chối họ sẵn sàng khiếu nại tới các cơ quan liên quan để yêu cầu
giải quyết. Cả hai cách hiểu đó đều không thoả đáng. Để khắc phục tình trang này,
nhất thiết phải có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để các bên trong hợp đồng cũng như
các nhà áp dụng pháp luật được thông nhất.
Nhiều quy định còn chồng chéo nhất là các biện pháp xử lý tài sản bảo
đảm. Hiện nay, hành lang pháp lý cho hoạt động giao dịch bảo đảm chưa hoàn
chỉnh, thiếu đồng bộ và nhiều quy định không thể thực hiện được trên thực tế.
Việc đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau tạo
kẽ hở trong quản lý. Theo Nghị định số 163/2006/NĐ - CP cho phép các tổ chức
tín dụng được lựa chọn hình thức xử lý đa dạng như bán tài sản thế chấp, nhận các
khoản tiền và tài sản từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ,
phương thức khác do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận
được phương thức xử lý tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì
các tài sản này được đem bán đấu giá nhưng để thực hiện được các bên lại phải ký
hợp đồng uỷ quyền tại đơn vị bán đấu giá có thẩm quyền. Điều này thường không
thực hịên được do bên thế chấp không đồng ý và khi đó các tổ chức cho vay không
có cơ chế nào để bảo vệ được quyền lợi của mình.
các văn bản đó. Do vậy, Toà án không phải mất nhiều thời gian để điều tra, xác
minh mà vẫn có thể giải quyết đúng pháp luật vụ tranh chấp đó, đảm bảo giải
quyết nhanh gọn, hiệu quả. Vì thế, thủ tục rút gọn có thể được quy định theo mô
hình sau:
Có cơ chế để cán bộ Toà án có cơ sở để ban hành quyết định áp dụng thủ
tục rút gọn đối với những những tranh chấp được áp dụng thủ tục này.
23
Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Đối với những tranh chấp HĐTD áp dụng thủ
tục rút gọn thì thời hạn chuẩn bị xét xử là không quá 15 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ
án.
Về thời hạn mở phiên toà xét xử sơ thẩm: Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà.
Về phiên toà sơ thẩm: Thành phần tham gia xét xử đối với thủ tục rút gọn
chỉ cần một thẩm phán mà không cần thành lập hội đồng xét xử. Không nên phải
trải qua tuần tự tất cả các bước như đối với phiên toà thông thường.
Thủ tục rút gọn giải quyết các tranh chấp HĐTD đang còn là vấn đề xa lạ
trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Mặc dù vậy, việc thừc nhận thủ tục rút
gọn trong giai đoạn hiện nay là phù hợp với chư trương cải cách tư pháp mà Đảng
và Nhà nước đã đề ra trong Báo cáo chính trị của Đảng: “Đẩy mạnh việc thực hiện
chiến lược cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử
làm trọng tâm”. Đồng thời đáp ứng được yêu cầu giải quyết các tranh chấp HĐTD
đang ngày càng gia tăng, giảm bớt án tồn đọng hàng năm ở các cấp Toà án, bảo vệ
kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
Hai là, ban hành những văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành một số quy
định chưa cụ thể trong BLTTDS. Ví dụ như quy định hướng dẫn thực hiện các quy
định về giao nộp chứng cứ, trách nhiệm trong trường hợp không thực hiện nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ.
Bổ sung Điều 84 BLTTDS, quy định cụ thể về thời hạn đương sự giao nộp
chứng cứ cho Toà án và có văn bản quy định chi tiết về việc xử lý trách nhiệm
trong trường hợp không nộp hoặc nộp không đầy đủ. Vì trong quá trình giải quyết
hàng chỉ được ở mức 13,1%/ năm. Quy định như vậy là không phù hợp vì xét về
bản chất HĐTD là sự tự do thoả thuận của các đương sự. Việc xác định lãi suất
cho vay trong HĐTD phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ Lãi suất chung trên thị trường
+ Số tiền vay: Đối với các khoản vay trung và dài hạn có quy mô lớn, lãi suất cho
vay thường thấp hơn các khoản vay cùng kỳ hạn nhưng có quy mô nhỏ hơn.
+ Thời hạn vay: Về nguyên tắc, có thể lãi suất cho vay trung và dài hạn cao hơn
lãi suất ngắn hạn vì tính thanh khoản thấp, chi phí nguồn vốn cho vay cao và chứa
đựng nhiều rủi ro.
+ Loại khách hàng: khách hàng có mức tín nhiệm thấp phải chịu mức lãi suất cao
hơn khách hàng có mức độ tín nhiệm cao hơn.
Hơn nữa, chỉ nên quy định lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước chỉ là
một cơ sở để các bên thoả thuận lãi suất, thực hiện chính sách lãi suất thoả thuận
theo nguyên tắc thị trường.
Thứ hai, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể Khoản 1 Điều 11 Quyết định
1627 vì nhiều trường hợp cơ quan thi hành án khi áp dụng các văn bản luật không
chấp nhận mức lãi suất mà các bên thoả thuận để xử lý nợ quá hạn đối với tài sản
25