NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ 10 TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC BẰNG PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN KẾT HỢP THƠ VĂN - Pdf 28

Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂY NINH
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC

ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN LỊCH SỬ 10
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC
BẰNG PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN
KẾT HỢP THƠ VĂN

NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN CÔNG THUẬN
Tháng 3 năm 2015
MỤC LỤC
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 1

Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI 3
2. GIỚI THIỆU 4
2.1. Hiện trạng 5
2.2. Nguyên nhân 5
2.3. Giải pháp thay thế 6
2.4. Vấn đề nghiên cứu 6
2.5. Giả thuyết nghiên cứu: 6
3. PHƯƠNG PHÁP 6
3.1. Khách thể nghiên cứu 6
3.2.Thiết kế nghiên cứu 6
3.3. Quy trình nghiên cứu 7
3.4. Đo lường và thu thập dữ liệu 7
4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ 8
4.1. Trình bày kết quả 8

sử thì yêu cầu các em nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học một cách chính xác và đầy đủ,
vì thế bộ môn Lịch sử khó gây được hứng thú cho các em, làm cho các em cảm thấy nặng
nề, gò ép và nhàm chán.
Trong thực tế, lịch sử là môn học có kiến thức liên môn, song có lẽ có mối quan hệ
tác động qua lại mật thiết và bổ sung cho nhau nhiều nhất là mối quan hệ giữa lịch sử và
văn học. Tài liệu văn học nói chung và thơ văn nói riêng ở nước ta có khả năng biểu hiện
nội dung lịch sử rất sâu sắc, nó không chỉ có giá trị như những tài liệu lịch sử, mà còn phản
ánh được bản chất của từng sự kiện lịch sử cụ thể. Nếu như văn học thường mô tả những sự
kiện bằng hình tượng thì lịch sử tái tạo lại quá khứ bằng những con số, sự kiện cụ thể, điều
đó đã tác động rất lớn đến nhận thức của HS.
Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, nội dung truyền đạt
và phương pháp của giáo viên (GV) là yếu tố hết sức cần thiết. Để cho bài giảng lịch sử
không phải rơi vào tình trạng “khô, khó, khổ”, người GV lịch sử phải linh hoạt sử dụng
nhiều phương pháp đổi mới trong dạy học, trong đó sử dụng các câu chuyện và các tài liệu
văn thơ là một trong những phương pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng bài giảng. Thông
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 3
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
qua những câu chuyện lịch sử, những tài liệu thơ văn sinh động có liên quan đến nhân vật,
địa danh hay sự kiện sẽ có tác dụng giúp HS hứng thú hơn, có thể ghi nhớ sâu hơn những sự
kiện lịch sử, những nhân vật, mốc thời gian, có sự hình dung đa dạng về quá khứ, tạo được
biểu tượng sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Từ đó, HS có thể hiểu rõ
bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử, có thể dễ dàng lĩnh hội các kiến thức lịch sử, các thuật
ngữ, hình thành các khái niệm lịch sử, nắm được những kết luận khoa học mang tính khái
quát. Trên cơ sở đó, giáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng, tình cảm đúng đắn (tự
hào, gìn giữ, phát huy các truyền thống tốt đẹp của dân tộc, hình thành và phát triển lòng
yêu nước, biết khâm phục, kính trọng những anh hùng dân tộc, người có công với tổ quốc )
và hình thành nhân cách cho HS.
Trong đề tài này, tôi nghiên cứu việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp với
thơ văn trong giảng dạy bài 14 (Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam), bài 15
(Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)

trong dạy học lịch sử ở trường THCS”, tác giả Tạ Văn Tuấn, Trường trung học cơ sở Đinh
Trang Hòa.
- “Sử dụng tài liệu thành văn nhằm tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học lịch
sử Việt Nam giai đoạn (1919 – 1945” của Nguyễn Hải Yến.
- “Sử dụng thơ văn để tạo hứng thú cho HS trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường
THPT” của Nguyễn Thị Thúy.
- “Phương pháp kể chuyện nhân vật lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn
(1946 – 1954)” của Mai Thị Ngọc Lệ.
- “Sử dụng thơ văn trong dạy học lịch sử” của Ngô Thị Hòa.
Tuy nhiên, mỗi công trình chỉ nghiên cứu một mảng của vấn đề, hoặc là sử dụng
phương pháp kể chuyện hoặc là sử dụng tài liệu thơ văn trong dạy học lịch sử ở trường
THPT, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp
thơ văn trong dạy học lịch sử lớp 10.
2.1. Hiện trạng
Nội dung kiến thức chương trình và sách giáo khoa môn Lịch sử ở trường THPT còn
quá nặng, bài giảng thiên về lý thuyết khô khan, HS khó nắm vững, dẫn đến chán nãn không
thích thú học môn Lịch sử.
Quan niệm của xã hội, gia đình và đặc biệt là của HS đối với bộ môn Lịch sử còn khá
lệch lạc: không đầu tư, không chú ý thậm chí xem thường hoặc học cho xong. Việc dạy và
học lịch sử ở bậc phổ thông hiện nay dường như chỉ chú tâm vào học thuộc bài là chính, hay
còn gọi là “học vẹt”.
Ở mỗi lớp học, trình độ không đồng đều, HS cá biệt ngày càng nhiều ở trường, lớp
làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giảng dạy của GV.
Thực tế trong chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 10, các câu chuyện và các bài
thơ văn đã được lồng ghép vào nội dung một số bài học. Nhưng do nội dung và thời lượng
chương trình nên số lượng các câu chuyện và các bài thơ văn được đưa vào chương trình
còn hạn chế.
Nhiều GV hiện nay đã sử dụng các câu chuyện kết hợp văn thơ trong dạy học lịch sử,
nhưng trong quá trình giảng dạy và tích hợp câu chuyện với văn thơ chưa có hệ thống và
chưa hiệu quả.

Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học có làm nâng
cao kết quả học tập của hs lớp 10C5 Trường THPT Nguyễn Trung Trực.
3. PHƯƠNG PHÁP
3.1. Khách thể nghiên cứu
+ GV: Nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và giáo dục HS,
giảng dạy môn Lịch sử tại trường THPT Nguyễn Trung Trực trực tiếp thực hiện việc nghiên
cứu.
+ HS: Hai lớp chọn: Lớp 10C5 và lớp 10C6 có nhiều điểm tương đồng nhau về trình
độ HS, số lượng, giới tính và độ tuổi.
Bảng 1. Tổng số và giới tính của HS lớp 10 trường THPT Nguyễn Trung Trực
Tổng số HS Nam Nữ
Lớp 10c5 40 21 19
Lớp 10c6 40 20 20
3.2.Thiết kế nghiên cứu
Chọn hai lớp: Lớp 10C5 là lớp thực nghiệm, lớp 10C6 là lớp đối chứng.
* Kiểm tra trước tác động: Tôi dùng kết quả bài kiểm tra học kì I để xác định các nhóm
tương đương.
Bảng 2. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Lớp đối chứng (10c6) Lớp thực nghiệm (10c5)
Điểm trung bình 5.62 5.74
Giá trị p của T-test 0.799
+ Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai lớp có sự khác nhau, do đó chúng
tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của
hai lớp trước khi tác động.
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 6
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
+ P = 0.799> 0.05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai lớp thực
nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai lớp được coi là tương đương.
* Kiểm tra sau tác động: Tôi dùng bài kiểm tra giữa học kì II theo phân phối chương trình
để kiểm chứng sự chênh lệch điểm số trung bình giữa hai lớp sau khi tác động.

Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 7
Lớp
Kiểm tra
trước tác động
Tác động
Kiểm tra
sau tác động
Thực nghiệm
(Lớp 10C5)
O1
Dạy học có sử dụng phương pháp
kể chuyện kết hợp thơ văn.
O3
Đối chứng
(Lớp 10C6)
O2
Dạy học bình thường (Không sử
dụng phương pháp kể chuyện kết
hợp thơ văn).
O4
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
4.1. Trình bày kết quả
Bảng 4. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Lớp thực nghiệm (10C5) Lớp đối chứng (10C6)
Điểm trung bình 7.40 5.86
Độ lệch chuẩn 1.49 1.90
Giá trị p của T-test 0.0001
Chênh lệch giá trị TB chuẩn
(SMD)

nhiên mà là do tác động.
* Hạn chế:
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học lịch
sử ở bậc THPT là một giải pháp rất tốt để nâng cao kết quả học tập của HS, nhưng để sử
dụng phương pháp này có hiệu quả người GV cần phải đầu tư nhiều thời gian và công sức;
biết khai thác các nguồn thông tin, tài liệu; biết chọn lọc tư liệu để đưa vào tiết dạy sao cho
có hiệu quả nhất. Một vấn đề cần lưu ý khác là khi sử dụng phương pháp này yêu cầu GV
phải có giọng nói diễn cảm nếu không kiến thức đưa vào nhiều khi sẽ phản tác dụng vì
giọng của GV khiến HS mất hứng thú.
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong giảng dạy lịch sử 10
Trường THPT Nguyễn Trung Trực đã góp phần nâng cao kết quả học tập của HS.
Qua giảng dạy, tôi đã rút ra được một kinh nghiệm mà bản thân tôi cho là rất quý. Đó
là: khi sử dụng các câu chuyện, kiến thức thơ văn vào việc giảng dạy lịch sử sẽ gây hứng
thú cho HS trong việc tiếp thu bài. Những tiết học như vậy trở nên sinh động hẳn. Khi GV
kể chuyện hay đọc thơ minh hoạ, cả lớp chăm chú lắng nghe và tỏ ra rất thích thú. Những
tiết học như thế đã để lại trong lòng các em những ấn tượng sâu sắc và lâu bền. Chắc chắn
những sự kiện trong bài học lịch sử sẽ lưu lại trong ký ức các em sâu hơn, lâu hơn. Tuy
nhiên, trong chương trình lịch sử 10 không phải trong bài giảng nào GV cũng sử dụng
phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn, nó chỉ được sử dụng khi đảm bảo tính cần thiết và
hiệu quả cần đạt.
5.2. Khuyến nghị
* Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm xây dựng và tiến tới sử dụng những
phương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học, cần chỉ đạo cho thư viện nhà trường tăng
cường sưu tầm, tập hợp các loại sách, tài liệu tham khảo phục vụ nhu cầu dạy và học Lịch
sử của GV và HS.
Cần hỗ trợ và tạo điều kiện cho GV lịch sử tổ chức các cuộc thi, các trò chơi lịch sử,
các chuyến tham quan di tích lịch sử, bảo tàng…
* Đối với GV: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng, chịu khó đầu tư thời gian, công

11.Mạng internet: vi.wikipedia.org, www.sugia.vn, baigiang.violet.vn,
hotrodayhoc.com, vinhphuc.edu.vn …
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 11
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN KẾT HỢP THƠ VĂN TRONG DẠY
HỌC BÀI 14, BÀI 15 VÀ BÀI 16 LỊCH SỬ 10
Sau đây là việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học lịch
sử ở bài 14, bài 15 và bài 16 trong chương trình Lịch sử lớp 10 ở trường THPT Nguyễn
Trung Trực mà bản thân tôi đã thực hiện:
Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam
Mục 1. Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc
GV liên hệ những câu chuyện truyền thuyết như: Con rồng cháu tiên, Thánh Gióng,
Bánh chưng bánh dày, những câu chuyện này đã cơ bản phản ánh được “cái thần” của sự
kiện, của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể.
Ví dụ, khi cung cấp cho HS nội dung: công cụ sản xuất bằng đồng thau đã trở nên
phổ biến và bước đầu sử dụng công cụ bằng sắt, GV tóm tắt ngắn gọn nội dung truyền
thuyết Thánh Gióng và sử dụng chi tiết Thánh Gióng yêu cầu: “Sứ giả hãy mau về tâu với
nhà vua đúc cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt, một áo giáp sắt và một cái nón sắt. Ta
sẽ đánh tan quân giặc”.
GV đặt câu hỏi: Tại sao Thánh Gióng không yêu cầu sứ giả đúc cho các loại vũ khí
bằng công cụ khác mà phải bằng sắt?
Sau khi HS trả lời, GV nhận xét, bổ sung: thời Hùng Vương tương ứng với giai đoạn
văn hóa Đông Sơn nhân dân ta đã sử dụng công cụ bằng sắt tuy mới ở “bước đầu”. Từ đó,
giúp HS nhận thức được rằng nhờ sử dụng công cụ mới nên người Việt cổ có được một nền
kinh tế phát triển mạnh để từ đây tạo nên những chuyển biến to lớn về mặt xã hội. Bên cạnh
đó, qua câu chuyện ta xác định được những yếu tố thời gian là thời Hùng Vương thứ 6
(tương ứng với thời nhà Ân ở Trung Quốc), đồng thời nêu cao truyền thống đoàn kết chống
giặc ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ của nhân dân ta (cả làng góp gạo thổi cơm cho Gióng ăn).
Khi giảng về nguồn gốc và quốc hiệu nước ta, GV có thể đọc câu thơ sau của Chủ

“"Giấy rách còn giữ lấy lề"
Người Việt đâu cũng nhớ về chốn quê.
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ
Mười lăm bộ họp dưới cờ Văn Lang.
Họ Hồng Bàng, giữ giang san
Mười tám đời rạng ngai vàng Hùng Vương!”
Qua đoạn trích trên sẽ khắc sâu cho HS kiến thức khái quát về giai đoạn lịch sử thời
kì dựng nước của dân tộc. Từ đó, bồi dưỡng cho HS ý thức về cội nguồn dân tộc, lòng yêu
quê hương đất nước và tình đoàn kết gắn bó dân tộc.
Mục 2. Quốc gia cổ Chăm pa
GV có thể kể chuyện về quá trình mở rộng lãnh thổ của nước ta xuống phía Nam.
Ví dụ: Năm 1069, Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua
Chế Củ và 5 vạn dân. Năm sau (1070), vua Chế Củ xin đem ba châu: Địa Lý, Ma Linh, Bố
Chính (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị) để chuộc.
Tiếp đó, GV có thể kể cho HS câu chuyện về Công chúa Huyền Trân, con gái vua
Trần Nhân Tông. Năm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi
lấy hai châu Ô, Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế)
Sau đó GV kết luận: Cuối thế kỉ XV, Chăm pa suy thoái và trở thành một bộ phận
của lãnh thổ, cư dân và văn hóa Việt Nam.
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 13
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Bài 15: “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (Từ thế kỉ
II TCN đến đầu thế kỉ X)”
Mục 1. Chế độ cai trị
GV sử dụng đoạn thơ trong “Việt Nam sử ca” để HS hiểu được chế độ cai trị của các
triều đại phong kiến phương Bắc đối với nước ta:
“Tượng Quận gọi bởi nhà Tần
Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam:
Cửu Chân, Giao Chỉ, Nhật Nam
Giao Chỉ, Đông Hán đổi làm Giao Châu.

Đường đi cống vải từ đây dứt,
Dân nước đời đời hưởng phúc chung”
Mục 2. Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu
Về khởi nghĩa Hai Bà Trưng, GV sử dụng đoạn thơ trong “Đại Nam quốc sử diễn ca”
để giúp HS nắm được nguyên nhân bùng nổ, kẻ thù, diễn biến và kết quả của cuộc khởi
nghĩa. Từ đó, thấy được khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam trong buổi đầu đấu tranh
giành độc lập:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống dần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành
Kinh kì đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”
Hoặc có thể sử dụng đoạn thơ sau trong “Việt Nam sử ca”:
“Tô Định bạo ngược khôn lường
Giết người Giao Chỉ không tường thị phi.
Bắt Thi Sách đem giết đi
Hai Trưng Trắc, Nhị tức thì khởi binh.
Con dòng Lạc tướng Mê Linh
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 15
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Đuổi quân Tô Định mà bình đất Nam.
Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam”
Chẳng bao lâu hạ sáu lăm thành trì.
Xưng vua, lừng lẫy ai bì
Mê Linh đóng phủ, uy nghi một miền.

xuống rất mạnh, chênh nhau đến 3m. Khi triều lên, lòng sông rộng mênh mông đến hàng
nghìn mét, sâu tới chục mét. Biết rõ quân địch sẽ kéo vào nước ta theo đường sông Bạch
Đằng, Ngô Quyền đã huy động cho quân, dân lên rừng chặt gỗ, đẽo nhọn đầu và bịt sắt,
đem đóng xuống lòng sông Bạch Đằng ở những nơi hiểm yếu. Lúc nước triều lên bãi cọc
chìm trong một biển nước mênh mông. Phía trên bãi cọc ngầm, Ngô Quyền còn bố trí một
lực lượng thuỷ binh ẩn nấp hai bên bờ sông. Nhiều thuyền được giấu kín trong các bụi lau
sậy. Hàng ngàn quân bộ, cung nỏ sẵn sàng mai phục bên cạnh các vách núi.
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 16
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Ngô Quyền đích thân cầm quân ra trận.
Năm 938, Lưu Hoằng Tháo cầm đầu thuỷ quân Nam Hán tiến vào cửa sông Bạch
Đằng đánh chiếm nước ta. Đợi cho nước triều lên ngập hết trận địa bãi cọc, Ngô Quyền cho
một số thuyền n hỏ đánh nhử địch. Quân ta vờ thua rút chạy, Hoằng Tháo hăm hở thúc quân
đuổi theo, vượt qua trận địa bãi cọc ngầm của ta. Ngô Quyền chỉ huy quân ta cầm cự với
giặc. Khi nước thuỷ triều bắt đầu rút, ông mới ra lệnh phản kích. Những mũi tên từ các vách
đá vun vút lao ra như mưa, hàng trăm thuyền bất ngờ xuất hiện. Quân giặc hoảng hốt quay
đầu tháo chạy. Ra đến gần cửa sông, đúng lúc nước triều rút mạnh. Bãi cọc ngầm nhô lên.
Quân ta dồn sức tấn công. Quân từ phía thượng lưu đánh xuống, quân mai phục từ hai bên
bờ sông và quân thuỷ từ các sông nhánh xông ra đánh tạt ngang. Đội hình thuyền của địch
rối loạn, xô vào nhau, va phải bãi cọc ngầm bị thủng vỡ, đắm rất nhiều. Quân địch bỏ cả
chèo lái, nhảy xuống sông, phần bị giết, phần chết đuối, thiệt hại quá nửa. Hoằng Tháo bỏ
mạng nơi đây.
Thất bại nặng nề của đạo thuỷ quân Hoằng Tháo đã làm cho vua Nam Hán kinh
hoàng, chỉ biết thương khóc con trai và hạ lệnh rút quân tiếp ứng, hoàn toàn bỏ mộng xâm
lược nước ta.
Cuối cùng, GV chốt lại: Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 thể hiện nghệ thuật độc
đáo, sáng tạo của Ngô Quyền - đã biết lợi dụng thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Chiến thắng
Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền đã chấm dứt hơn 1000 năm nước ta bị các triều đại
phong kiến phương bắc thống trị, mở ra một thời đại mới - thời đại độc lập, tự chủ lâu dài
của dân tộc ta.

19 Phạm Thị Kim Ngân 5 3
20 Trương Ngọc Tuyết Ngân 5 5
21 Lý Thị Kiều Nhi 6 6
22 Thái Trần Tú Nhi 7.5 4
23 Võ Thị Kim Oanh 6 7
24 Huỳnh Hiểu Phương 5 2.5
25 Hồ Phương Phương 3.5 6.5
26 Liêu Thanh Tân 6.5 8
27 Phùng Phúc Thái 7 6
28 Nguyễn Đức Thuận 6 6
29 Nguyễn Phước Thuận 7 5
30 Thái Thanh Thuận 5 5
31 Trần Thị Diễm Trang 5 3
32 Trần Thị Ngọc Trăm 4 6
33 Võ Thị Mỹ Trâm 4 5
34 Nguyễn Bảo Trinh 7.3 7
35 Nguyễn Quốc Tuấn 4 5
36 Trần Minh Tường 9 9.3
37 Trần Thị Thanh Vi 6.5 7
38 Nguyễn Anh Vũ 5.8 7
39 Nguyễn Tuấn Vũ 6 7
40 Tô Hồng Yến 4 4.5
P trước tác động
0.799
P sau tác động
0.0001
Giá trị trung bình
5.62 5.86
Độ lệch chuẩn
1.80 1.90

25 Nguyễn Trung Thành 4 6
26 Phan Công Thành 4 6.5
27 Huỳnh Thị Thanh Thảo 4.5 6
28 Đinh Thị Ngọc Thi 5 9.5
29 Nguyễn Hồng Thuy 5.5 7
30 Nguyễn Thị Hồng Thuy 8 8.5
31 Dương Thị Thanh Thủy 8.5 9
32 Trần Thu Thủy 5.5 7
33 Ngô Huỳnh Thụ 8 9
34 Lê Anh Thư 6.5 9
35 Lê Mạnh Thường 6 7
36 Huỳnh Ngọc Bảo Trâm 7.5 8.5
37 Phạm Bá Trọng 7 9
38 Hà Thanh Tuấn 4 7
39 Nguyễn Thanh Vũ 5 7
40 Huỳnh Đào Thúy Vy 3.5 6
P trước tác động
0.799
P sau tác động
0.0001
Giá trị trung bình
5.74 7.40
Độ lệch chuẩn
1.86 1.49
Mức độ ảnh hưởng (SMD)
0.81
PHỤ LỤC 4: ĐỀ KIỂM TRA VÀ ĐÁP ÁN TRƯỚC TÁC ĐỘNG
ĐỀ KIỂM TRA 1 TIẾT HỌC KÌ I
Môn: Lịch Sử 10
(Thời gian làm bài 45 phút)

+ Chữ viết: sáng tạo chữ viết riêng dựa trên chữ viết người Campuchia
và Mianma.
+ Đời sống văn hóa: phong phú, hồn nhiên.
+ Kiến trúc: độc đáo (Tháp Thạt Luổng).
*Giải thích:
- Cam-pu-chia và Lào đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ trên các
lĩnh vực chữ viết, tôn giáo, văn học, kiến trúc. Song tiếp thu mỗi nước
đều đem lồng nội dung của mình vào, xây dựng nền văn hóa riêng đậm
đà bản sắc dân tộc.
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ

Câu 2 Sự hình thành chế độ phong kiến Tây Âu diễn ra như thế nào? 4 đ
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 20
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
- Thế kỉ III, đế quốc Rô-ma lâm vào tình trạng suy thoái.
- Cuối thế kỉ V, Đế quốc Rôma bị người Giéc-man xâm chiếm. Năm
476, đế quốc Rô-ma diệt vong, chế độ chiếm nô kết thúc.
- Những việc làm của người Giéc-man:
+ Thủ tiêu bộ máy nhà nước cũ, thành lập nhiều vương quốc mới:
vương quốc Phơ-răng, vương quốc Tây Gốt, Đông Gốt
+ Chiếm ruộng đất của chủ nô Rô-ma cũ rồi chia cho nhau.
+ Từ bỏ tôn giáo nguyên thuỷ, tiếp thu Ki-tô giáo.
- Kết quả:
+ Hình thành tầng lớp quý tộc vũ sĩ, tăng lữ, quan lại có đặc quyền,
giàu có + đất đai => lãnh chúa phong kiến.

tôn giáo.
- Văn hóa: văn hóa Hồi giáo được du nhập vào Ấn Độ.
- Kiến trúc: kiến trúc Hồi giáo - Kinh đô Đê-li - thành phố lớn nhất thế
giới.
- Vị trí của vương triều Đê-li:
+ Bước đầu tạo ra sự giao lưu văn hóa Đông - Tây.
+ Đạo Hồi được truyền bá đến một số nước trong khu vực Đông Nam
Á.
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
Câu 2 Vì sao ở thời Hậu kỳ Trung đại diễn ra các cuộc phát kiến địa lí? 4 điểm
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 21
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Hãy trình bày các cuộc phát kiến địa lí và hệ quả của nó?
Nguyên nhân và điều kiện:
- Nhu cầu về hương liệu, vàng bạc, thị trường tăng cao.
- Con đường giao lưu, buôn bán qua Tây Á và Địa Trung Hải bị người
A Rập độc chiếm.
- Khoa học – kĩ thuật có nhiều tiến bộ:
+ Ngành hàng hải đã có những hiểu biết về địa lí, đại dương, sử dụng la
bàn.
+ Kĩ thuật đóng tàu có những tiến bộ mới.
Các cuộc phát kiến địa lí lớn:
- 1487, B.Đi-a-xơ tìm đến cực nam của châu Phi.

PHỤ LỤC 5: ĐỀ KIỂM TRA VÀ ĐÁP ÁN SAU TÁC ĐỘNG
ĐỀ KIỂM TRA 1 TIẾT GIỮA HỌC KÌ II
Môn: Lịch Sử 11
(Thời gian làm bài 45 phút)
ĐỀ 1
Câu 1. Công xã thị tộc được hình thành và phát triển như thế nào? (4đ)
Câu 2. Trình bày những chính sách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc đối
với nhân dân ta về kinh tế và văn hóa. Vì sao nhân dân ta vẫn giữ được tiếng nói,
phong tục tập quán của mình trước những âm mưu và thủ đoạn đồng hóa về văn hóa
của phong kiến phương Bắc? (4đ)
Câu 3. Hãy nhận xét về cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta trong thời kì Bắc
thuộc.(2đ)
ĐỀ KIỂM TRA 1 TIẾT GIỮA HỌC KÌ II
Môn: Lịch Sử 11
(Thời gian làm bài 45 phút)
ĐỀ 2
Câu 1. Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc được hình thành trên cơ sở nào? Hãy trình bày
tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang – Âu Lạc. (4đ)
Câu 2. Trình bày diễn biến, nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng
Bạch Đằng năm 938. (4đ)
Câu 3. Hãy nhận xét chính sách đô hộ của phong kiến phương Bắc đối với nhân dân ta
thời Bắc thuộc. (2đ)
HƯỚNG DẪN CHẤM, BIỂU ĐIỂM
ĐỀ 1
TT Hướng dẫn chấm
Biễu
điểm
Câu
1
Công xã thị tộc được hình thành và phát triển như thế nào?

0.5đ
Câu
2
Trình bày những chính sách đô hộ của các triều đại phong kiến phương
Bắc đối với nhân dân ta về kinh tế và văn hóa. Vì sao nhân dân ta vẫn giữ
được tiếng nói, phong tục tập quán của mình trước những âm mưu và thủ
đoạn đồng hóa về văn hóa của phong kiến phương Bắc?
4 đ
*Kinh tế:
- Thi hành chính sách bóc lột, cống nạp đối với nhân dân ta:
+ Bắt nộp những thứ lâm thổ sản quý.
+ Cướp ruộng đất lập đồn điền.
+ Nắm độc quyền “muối và sắt”.
→ Nhằm hạn chế sự phát triển sản xuất, duy trì sự nghèo nàn, lạc hậu.
*Văn hóa:
- Mở trường dạy chữ Hán, truyền bá Nho giáo vào Việt Nam.
- Bắt nhân dân ta thay đổi phong tục theo người Hán.
- Đưa người Hán ở lẫn với người Việt.
- Áp dụng luật pháp hà khắc, thẳng tay đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân
dân ta→ Nhằm đồng hóa dân tộc Việt Nam.
*Nhân dân ta vẫn giữ được tiếng nói, phong tục tập quán của mình trước
những âm mưu và thủ đoạn đồng hóa về văn hóa của phong kiến phương
Bắc vì:
- Tiếp thu những yếu tố tích cực của văn hóa Trung Hoa, đồng thời cải
biến cho phù hợp với thực tiễn văn hóa dân tộc Việt.
- Ý thức bảo vệ, duy trì và phát triển nền văn hóa dân tộc.
1.5đ
1.5đ
0.5đ
0.5 đ

+ Công xã thị tộc giải thể, công xã nông thôn và gia đình phụ hệ ra đời.
- Công tác trị thủy, thủy lợi phục vụ nông nghiệp và chống giặc ngoại xâm
cũng được đặt ra.
→ Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc ra đời.
*Tổ chức nhà nước Văn Lang – Âu Lạc còn rất đơn giản và sơ khai:
+ Đứng đầu nhà nước là vua Hùng, vua Thục.
+ Giúp việc có các Lạc hầu, Lạc tướng. + Cả nước chia làm 15 bộ do Lạc
tướng đứng đầu.
+ Dưới bộ là các xóm, làng do Bồ chính (già làng) cai quản.
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
1 đ
Câu
2
Trình bày diễn biến, nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của chiến
thắng Bạch Đằng năm 938.
4 đ
− Năm 931 Dương Đình Nghệ lãnh đạo nhân dân đánh bại cuộc xâm lược
của quân Nam Hán và xưng là Tiết Độ Sứ thay họ Khúc, sau đó ông bị Kiều
Công Tiễn giết hại.
− Năm 938 Ngô Quyền đem quân đánh Kiều Công Tiễn, Công Tiễn cho
người sanh cầu cứu nhà Hán → quân Nam Hán xâm lược nước ta.
− Ngô Quyền dùng kế đóng cọc trên sông Bạch Đằng, cho quân mai phục 2
bên bờ sông. Với kế sách này Ngô Quyền đánh bại cuộc xâm lược của quân
Nam Hán.
* Nguyên nhân thắng lợi:
- Tinh thần yêu nước, đoàn kết, quyết tâm chiến đấu vì nền độc lập của nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status