Sử dụng sơ đồ kiến thức nâng cao hiệu quả giảng dạy Môn Lịch sử ở trường THPT - Pdf 26

ĐỀ TÀI:
“SỬ DỤNG SƠ ĐỒ KIẾN THỨC NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG
DẠY MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. ”
1/ Lý do chọn đề tài
Trong thời gian qua, nhất là từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới, đã coi
giáo dục là quốc sách hàng đầu thì vai trò, vị trí của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông
đã không ngừng được củng cố và nâng cao. Bộ môn Lịch sử đã góp phần quan trọng trong
việc giáo dục tư tưởng ,chính trị và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ. Đã góp phần
xứng đáng trong việc xây dựng những con người và thế hệ tha thiết, gắn bó với lý tưởng
cao quí của Đảng.
Thực trạng về chất lượng dạy – học môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông
trong những năm gần đây đang được dư luận đặc biệt quan tâm, nhất là sau các kỳ thi vào
đại học trong những năm vừa qua. Kết quả thi tuyển sinh môn Lịch sử đã thực sự gây
“sốc” đối với toàn xã hội: tỷ lệ thi đại học môn Lịch sử năm học 2010 – 2011 thí sinh có
điểm thi dưới trung bình chiếm hơn 80%, trong đó hơn 60% có điểm thi dưới 1 ( 1/10 ).
Kết quả đó được xem như hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội và những người làm công
tác giáo dục, nhất là đối với những người Quản lý và Giảng dạy chuyên môn Lịch sử. Bởi
kết quả ấy đã phần nào phản ánh được thực trạng của việc dạy và học môn Lịch sử ở
trường Trung học phổ thông hiện nay. Một thực trạng đáng suy ngẫm hơn nữa đó là ở
trường Trung học phổ thông phần lớn Học sinh coi môn Lịch sử là môn học khô khan,
không sáng tạo, là thuần túy học thuộc các sự kiện…
Trường THPT Hồ Thị Kỷ 1 GV: Nguyễn Văn Bàng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên :
-Cấu trúc chương trình không hợp lí, còn quá nặng nề.
-Cấu trúc và cách viết của sách giáo khoa còn nhiều hạn chế giữa kênh hình và
kênh chữ, kênh chữ to và kênh chữ nhỏ…
-Sách giáo khoa viết có quá nhiều phân tích, nhận định, đánh giá…ít mô tả sự kiện,
hiện tượng.
-Cơ sở vật chất và thiết bị cho việc dạy và học môn Lịch sử còn thiếu, phổ biến
trong tay giáo viên và học sinh chỉ có sách giáo khoa.
- Quá trình tổ chức dạy học còn đơn điệu,chưa phát huy hết vai trò và tác dụng của

- GV :kẻ bảng, phân công 4 tổ ( nhóm) thảo luận các nội dung bảng mẫu
- Mỗi tổ cử một đại diện lên hoàn tất một nội dung kiến thức trên bảng.
Nội dung Thành tựu
* Giáo dục -Năm 1070 vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu.
Trường THPT Hồ Thị Kỷ 3 GV: Nguyễn Văn Bàng
* Văn hoá
* Nghệ thuật
*Khoa học-Kĩ thuật:
-Lịch sử
-Địa lý
-Toán học
-Quân sự
-Năm 1075 tổ chức khoa thi đầu tiên chọn nhân tài.
-Văn hoá chữ Hán và chữ Nôm đều phát triển.
-Tác phẩm tiêu biểu : Hịch tướng sĩ
-Kiến trúc phát triển: các chùa, tháp được xây dựng
-Điêu khắc có nét đặc sắc: Rồng, hoa sen…
-Sân khấu như tuồng , chèo ngày càng phát triển.
-Âm nhạc phát triển
+Có Đại Việt sử kí, Đại Việt sử lược
+Có Dư địa chí, Hồng Đức bản đồ…
+Có Đại thành toán pháp, Lập thành toán pháp
+Có Binh thư yếu lược, chế tạo súng thần cơ, thuyền chiến
có lầu…
- Sau khi hoàn thành nội dung trên bảng, từng đại diện học sinh vận dụng kiến thức
các môn học khác nói rõ hơn về những thành tựu mình trình bày.
GV : nhận xét, từ đó xác định trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người trong việc
gìn giữ và phát huy những di sản văn hoá dân tộc.
Ví dụ 2: Sách Nâng cao – Bài 30:Kháng chiến chống ngoại xâm (TK X- XV)
Khi dạy bài này GV hướng dẫn học sinh lập bảng thống kê các cuộc kháng chiến và

Sơn
1418
1427
Minh Lê Lợi
Nguyễn Trãi
Chi Lăng,
Xương Giang
GV nhận xét và đánh giá :
- Khẳng định ý nghĩa thắng lợi của những cuộc kháng chiến trên.
- Công lao to lớn của những nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc
- Trách nhiệm gìn giữ nền độc lập dân tộc của các thế hệ kế tục.
b, Lịch sử lớp 11:
Ví dụ 3 : Sách cơ bản: Bài 17 Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945)
Khi phân tích mối quan hệ quốc tế chồng chéo, phức tạp giữa các nước Đế quốc và
giữa các nước Đế quốc với Liên Xô trước khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra. Ta có
thể sử dụng sơ đồ đơn giản sau :
Trường THPT Hồ Thị Kỷ 5 GV: Nguyễn Văn Bàng
- Dựa vào SGK và sơ đồ GV hỏi: Học sinh quan sát sơ đồ, hãy nêu các mâu thuẫn
cơ bản trong quan hệ quốc tế ngay trước khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ ?
-Học sinh nêu được :
+Các nước phát xít Đức – Italia- Nhật > < Anh- Pháp-Mĩ : về thị trường, thuộc địa
+Tất cả các nước Đế quốc > < Liên Xô : vì Liên Xô là nước Xã hội chủ nghĩa.
-GV nhận xét và giải thích nguyên nhân bùng nổ chiến tranh :
+Sâu xa : sự phát triển không đều của Chủ nghĩa đế quốc.
+Trực tiếp : sự hình thành 2 khối đế quốc > < gay gắt với nhau…
Ví dụ 4 : Sách nâng cao:
Bài 34 : Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)
Khi dạy bài này GV đưa ra sơ đồ đánh dấu các mốc thời gian, yêu cầu học sinh lên bảng
hoàn thành quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp qua sơ đồ sau :
Trường THPT Hồ Thị Kỷ 6 GV: Nguyễn Văn Bàng

Pa-tơ-nốt
Đặt ách cai
trị ở cả 3 kì
Khai thác
thuộc địa
lần I
Thời gian Hoạt động Ý nghĩa
-6/1919
-7/1920
-12/1920
-1921
-1923
-1924
-6/1925
6/01/1930
-Gửi yêu sách đến hội nghi Vecxai
Đòi quyền dân tộc…
-Đọc luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa của Lênin.
-Dự đại hội Tua và tham gia sáng
lập Đảng cộng sản Pháp.
-Sáng lập Hội Liên Hiệp các dân
tộc thuộc địa
-Ở Liên Xô, dự các hội nghi quốc
tế.
-Dự đại hội V Quốc Tế Cộng sản,
trình bày tham luận
-Sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng
thanh niên.
-Triệu tập và chủ trì Hội nghị Hợp

GV cho học sinh lên điền vào sơ đồ theo các nội dung:
Trường THPT Hồ Thị Kỷ 9 GV: Nguyễn Văn Bàng
-Sau khi học sinh hoàn thành nội dung trên bảng.
-GV đặt câu hỏi: So với chiến lược “ Chiến tranh đăc biệt “ “ Chiến tranh cục bộ”
có điểm gì giống và khác ?
- Dựa vào nội dung trên bảng học sinh đứng lên trả lời và điền vào bảng nội dung
tương ứng.
Trường THPT Hồ Thị Kỷ 10 GV: Nguyễn Văn Bàng
Nội dung Chiến tranh cục bộ Chiến tranh dặc biệt
-Hình thức chiến tranh
-Phương tiện chiến
tranh
-Lực lượng chính
-Vai trò của Mĩ
-Phạm vi chiến tranh
-Tính chất ( mức độ )
- Chiến tranh xâm lược thực
dân kiểu mới của đế quốc Mĩ.
-Do Mĩ cung cấp
-Quân Mĩ, quân Đồng minh…
-Trực tiếp tham chiến
-Cả hai miền Nam-Bắc Việt
Nam
-Ác liệt: Lực lượng đông, vũ
khí hiện đại, tìm diệt quân giải
phóng
- Chiến tranh xâm lược thực
dân kiểu mới của đế quốc
Mĩ.
-Do Mĩ cung cấp

5/ Phạm vi ảnh hưởng:
- Đề tài đã được thực hiện từ năm học 2009 – 2010 đến nay.
- Đề tài được áp dụng trong một số giờ dạy chính khóa và dạy bồi dưỡng học sinh
giỏi môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông Hồ Thị Kỷ.
- Đề tài cũng được áp dụng trong giảng dạy Lịch sử ở nhiều trường Trung phổ thông
trong Tỉnh.
6/ Kiến nghị
Trên đây chỉ là một số ví dụ cụ thể về phương pháp Sử dụng Sơ đồ kiến thức trong
giảng dạy Lịch sử ở trường Trung học phổ thông. Để giờ giảng dạy đạt hiệu quả cao đòi
hỏi giáo viên phải khai thác nhiều nguồn tư liệu trên mạng Internet, trang Web…hay từ
những nguồn tư liệu khác.
Để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn Lịch sử đòi hỏi giáo viên phải
kết hợp linh hoạt các phương pháp giảng dạy, sử dụng đồ dùng và phương tiện giảng dạy
phong phú, dễ hiểu tạo hứng thú học tập cho học sinh, đồng thời Thầy phải hướng dẫn,
giúp các em chủ động lãnh hội kiến thức và phát huy khả năng tư duy sáng tạo của học
sinh.
Phương pháp Sử dụng sơ đồ kiến thức trong dạy học Lịch sử tuy chưa phải là
phương pháp hay nhất, song việc ứng dụng phương pháp này trong dạy học Lịch sử hiện
Trường THPT Hồ Thị Kỷ 12 GV: Nguyễn Văn Bàng
nay là rất cần thiết. Đó là góp phần hưởng ứng và thực hiện tích cực cuộc vận động : Đổi
mới phương pháp giảng dạy, chống “đọc chép “ do Bộ Giáo Dục – Đào Tạo phát động.

Cà Mau, ngày 03 tháng 02 năm 2013
Người viết
Nguyễn Văn Bàng
Trường THPT Hồ Thị Kỷ 13 GV: Nguyễn Văn Bàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status