Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
SỞ GIO DC V ĐO TẠO TÂY NINH
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC
ĐỀ TI
GIẢM TỈ LỆ HỌC SINH YẾU KÉM MÔN VẬT LÍ
LỚP 12 THÔNG QUA VIỆC HƯỚNG DẪN HỌC SINH
HỌC TỔ, NHÓM.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê
Ngô Hoàng Đức
Tháng 3 năm 2015
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 1
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
MC LC
I. Tóm tắt đề tài……………………………………………………… 1
II. Giới thiệu……………………… ………………………………… 3
III. Phương pháp……………………………………………… ……….5
IV. Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả……………… …………… 8
V. Kết luận……………………………………………………… 10
VI. Tài liệu tham khảo…………………………………………… … 12
VII. Phụ lục (kèm theo)………………………………… ……….……13
1. Các bước thực hiện 12
2. Bảng điểm lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 24
3. Đề kiểm tra và đáp án trước và sau tác động 26
4. Đĩa CD
I. TÓM TẮT ĐỀ TI
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 2
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Điều 28.2 của Luật Giáo dục đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tập của học sinh. Lớp thực nghiệm thông qua bài kiểm tra đánh giá đạt kết quả cao hơn lớp
đối chứng. Điểm số trung bình bài kiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm là 5,36, lớp đối
chứng là 4,46. Kết quả phép kiểm chứng T-test p = 0,001<0,05 có ý nghĩa là có sự khác biệt
lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Kết quả cho thấy sự chênh
lệch giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa, không phải do ngẫu nhiên.
Điều đó chứng minh rằng, việc hướng dẫn học sinh lớp 12C2 học tổ, nhóm môn Vật lí đã
làm giảm tỉ lệ học sinh yếu kém của lớp.
II. GIỚI THIỆU
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 4
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Đa số học sinh đầu vào của trường là yếu kém, mà đã yếu kém thì các em rất lười học, học
trước quên sau, do đó việc giảng dạy kết hợp với hướng dẫn các em tự học và ôn tập thường
xuyên là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của các em.
Một số học sinh khá giỏi, các em có ý thức tự học tự ôn tập, nhưng đa số học sinh trung
bình, yếu, kém chưa có ý thức tự học, trong khi đối tượng này lại chiếm đa số. Trong khi đó
đối với môn Vật lí 12 các em sẽ thi kiểm tra dưới hình thức trắc nghiệm, lượng kiến thức bao
quát, rộng. Tài liệu tham khảo rất nhiều nhưng đa số học sinh yếu kém không tự giải được vì
thế việc hướng dẫn học sinh lớp 12 học tổ nhóm để các em khá giỏi giúp đỡ bạn cùng học tập
tiến bộ.
Qua tham khảo trên mạng Internet, vấn đề hướng dẫn học tổ, nhóm trên lớp có nhiều
tài liệu liên quan. Nhưng việc “Hướng dẫn học sinh học tổ nhóm ngoài giờ” trước đây chưa
có ai nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi ngoài việc nghiên cứu tài liệu Khoa
học sư phạm ứng dụng, nhóm chúng tôi có tham khảo một số đề tài minh họa trong tài liệu và
đề tài môn Vật lí của giáo viên Nguyễn Văn Thắng, Trường THPT Thuận Hòa, Tỉnh Sóc
Trăng.
1. Hiện trạng
Trong quá trình giảng dạy trên lớp và các tiết bồi dưỡng tôi nhận thấy chỉ có những
học sinh khá, giỏi thường có những thắc mắc và hỏi giáo viên trong giờ học hoặc ngoài giờ.
Còn đa số học sinh yếu kém rất ít khi hỏi thầy cô hoặc thắc mắc vấn đề gì. Mặc dù các em
yếu kém có thể vẫn chưa hiểu bài, chưa tự làm được bài tập. Một phần các em sợ hỏi thầy cô,
trường THPT Nguyễn Trung Trực, vì các đối tượng này có nhiều thuận lợi cho việc nghiên
cứu khoa học sư phạm ứng dụng về cả phía đối tượng học sinh và giáo viên.
* Học sinh:
Chọn 2 lớp: Lớp 12C2 và lớp 12C3, là hai lớp có nhiều điểm tương đồng: Trình độ học
sinh, số lượng, giới tính, thành phần dân tộc, độ tuổi
Bảng 1: Số lượng, giới tính, thành phần dân tộc
Số
HS
Nam Nữ Dân tộc kinh
Dân tộc Hoa Dân tộc Khơ
me
Lớp 12C2 40 18 22 40 0 0
Lớp 12C3 41 20 21 41 0 0
Ý thức học tập của học sinh hai lớp: Đa số học sinh đều ngoan, tích cực, chủ động
tham gia học tập. Bên cạnh đó cả 2 lớp vẫn còn nhiều học sinh học yếu kém, lười học, thụ
động…
Kết quả học tập môn Vật lí của học sinh hai lớp gần giống nhau trong năm học trước
(2013-2014):
Bảng 2:
Xếp loại học lực môn Vật lí năm học 2013-2014
Tổng số
Kém Yếu Trung bình Khá Giỏi
Lớp 11C2 0 15 18 5 2 40
Lớp 11C3 0 16 18 6 1 41
* Giáo viên Phan Thị Kim Huê giảng dạy lớp 12C2, giáo viên Ngô Hoàng Đức giảng
dạy lớp 12C3. Cả hai giáo viên đều có 14 năm kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và 8
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 7
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
năm giảng dạy lớp 12 cuối cấp. Giáo viên có lòng nhiệt huyết, nhiệt tình, có trách nhiệm cao
trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh.
Nhóm KT trước TĐ Tác động KT sau TĐ
Lớp 12C2
(TN)
O1
Hướng dẫn học sinh học tổ, nhóm.
O3
Lớp 12C3
(ĐC)
O2
Không hướng dẫn học sinh học tổ,
nhóm.
O4
Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập.
3. Quy trình nghiên cứu
+ Chuẩn bị bài của giáo viên
Giáo viên dạy lớp 12C3 (Lớp đối chứng): Không hướng dẫn cho học sinh học tổ nhóm,
các tiến trình lên lớp khác vẫn hoạt động bình thường.
Giáo viên dạy lớp 12C2 (Lớp thực nghiệm): Hướng dẫn học sinh học tổ, nhóm và kiểm
tra việc học tổ, nhóm của các em.
+ Tiến hành dạy thực nghiệm
Thời gian tiến hành thực nghiệm là 9 tuần, từ tuần 8 đến tuần 16 của học kỳ I. Giáo
viên tiến hành hướng dẫn cho học sinh lớp 12C2 học tổ, nhóm và kiểm tra việc tự học của các
em chủ yếu trong các tiết bồi dưỡng và tự chọn với các công việc cụ thể như sau:
Phân loại đối tượng học sinh trong trong lớp, tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu
kém, hướng các em vào các nhóm thích hợp.
Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà và phương pháp học tập bộ môn:
Giao nhiệm vụ cho các tổ nhóm và hướng dẫn học sinh thực hiện.
Các biện pháp kiểm tra hoạt động và kết quả của các nhóm.
(Kèm theo phụ lục số 1)
4. Đo lường và thu thập dữ liệu
ngẫu nhiên mà là do kết quả của sự tác động.
Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD): SMD = 0,92 nên mức độ ảnh hưởng của tác động
khi hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập trắc nghiệm là lớn. Giả thuyết được kiểm chứng: “Việc
hướng dẫn học sinh lớp 12 học tổ, nhóm môn Vật lí” đã làm tăng kết quả học tập của học
sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Trung Trực.
Bàn luận:
- Kết quả cho thấy, điểm trung bình của nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng,
chênh lệch điểm số là: 5,83 – 4,9 = 0,93.
- Độ chênh lệch điểm trung bình tính được SMD = 0,92 chứng tỏ mức độ ảnh hưởng
của tác động là lớn.
- Theo phép kiểm chứng T-Test điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai lớp
là p = 0,0002 < 0,05 chứng tỏ điểm trung bình của lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng
không phải ngẫu nhiên mà là do tác động, nghiêng về nhóm thực nghiệm.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 11
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
- Tác động đã có ý nghĩa lớn đối với tất cả các đối tượng học sinh: yếu, kém, trung
bình, khá. Số học sinh yếu kém giảm nhiều, số học sinh khá tăng đáng kể, đặc biệt có học
sinh đạt kết quả giỏi.
Hạn chế:
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện giải pháp vẫn còn một số tồn tại sau đây:
- Còn một số học sinh chậm tiến mặc dù đã được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè.
- Các nhóm hoạt động không đều, còn một số học sinh trong các nhóm tham gia không
đều, chờ đến các ngày gần thi, kiểm tra mới vào học nhóm.
- Việc hướng dẫn và kiểm tra kết quả học tổ, nhóm của các em đòi hỏi giáo viên tốn
nhiều thời gian và công sức, do đó giáo viên phải là người yêu nghề, kiên trì, chịu khó, luôn
quan tâm và theo dõi sự tiến bộ của học sinh.
V. KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ
Kết luận:
Việc hướng dẫn học sinh lớp 12 học tổ, nhóm môn Vật lí thông qua: Phân loại các
3- Sách giáo khoa Vật lí 12 cơ bản - Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên).
4- 720 câu hỏi trắc nghiệm Vật lí 12 (chương trình chuẩn) - Vũ Thị Phát Minh -Lê
Khắc Bình - Nguyễn Đăng Khoa.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 14
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
PH LC
PH LC 1: Các bước thực hiện:
Bước 1. Phân loại đối tượng học sinh trong trong lớp, tìm hiểu nguyên nhân học sinh
yếu kém, hướng các em vào các nhóm thích hợp.
Ngay từ đầu năm học, dựa vào kết quả bộ môn năm học trước, tham khảo thêm điểm
TBM cuối năm của môn Toán và kết quả khảo sát đầu năm, giáo viên phải phân loại được học
sinh, nắm được từng đối tượng học sinh yếu kém.
Qua tìm hiểu nguyên nhân thì đa số các em yếu kém do mất căn bản từ lớp dưới, tiếp
thu bài chậm so với bạn, không tự học do chưa có động cơ học tập và phương pháp học tập
đúng đắn. Em Trần Huỳnh Mỹ Duyên, Huỳnh Ngọc Ái Linh, Võ Thanh Trúc, Phạm Tuấn
Thiện, Hồ Thị Thanh Ngân mất căn bản, tiếp thu bài chậm. Em Thái Công Danh, Nguyễn
Thành Tài, Nguyễn Hoàng Vĩnh lười học, chưa có động cơ học tập. Em Nguyễn Hiếu Vinh
thường xuyên vắng. Đa số các em yếu kém chưa vận dụng được công thức để giải bài tập Vật
lí, tính toán chậm, mà các dạng bài tập Vật lí lớp 12 rất phong phú, do đó nếu các em tự học ở
nhà sẽ có vướng mắc mà không biết hỏi ai.
Với các lý do trên nên tôi hướng dẫn các em vào các tổ nhóm thích hợp để học tập.
Dựa vào nhóm tự có của lớp và dựa vào hai tiêu chí: Nhóm gồm học sinh tự nguyện và chung
mối quan tâm là học tập tiến bộ và nhóm phải có học sinh khá để hỗ trợ học sinh yếu. Dựa
vào điều kiện lớp có 6 học sinh học khá môn Vật lí nên cả lớp thống nhất chia lớp thành 3
nhóm:
Nhóm 1 gồm 11 học sinh: Nguyễn Trường Duy nhóm trưởng, Đặng Thị Hoài Ân
nhóm phó, *Công Danh, *Mỹ Duyên, *Thúy Hằng, *Duy Hân, Ngọc Hân, *Thanh Hòa, *Ái
Linh, Yến Nhi, Tấn Phát. Nhóm có 6 bạn học sinh yếu kém.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 15
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
ưu tiên cho các em yếu mà có cố gắng. Đồng thời với cho điểm có thể tuyên dương các em để
động viên tinh thần.
+ Hướng dẫn học sinh ghi chép bài, trình bày vở sạch đẹp như: Tựa bày phải viết chữ
in, dưới các tiêu đề gạch bằng viết đỏ, các công thức phải đóng khung … có như thế khi nhìn
vào vở học sinh sẽ dễ học bài hơn.
+ Kiểm tra tập nháp, dụng cụ học tập và máy tính của học sinh thường xuyên.
+ Quản lí thật chặt chẽ giờ dạy.
- Đối với học sinh:
Để việc tự học của học sinh đạt kết quả tốt, học sinh cần lưu ý một số vấn đề như:
+ Học sinh phải có góc học tập ở nhà, ở nơi thoáng, đủ ánh sáng.
+ Có thời khóa biểu ở trường và thời gian biểu ở nhà hợp lí, học xen kẻ các môn với
nhau, có thời gian nghỉ ngơi hợp lí để đảm bảo sức khỏe.
+ Thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học và biết tự kiểm tra.
+ Ở nhà các em phải học lí thuyết, công thức rồi sau đó mới vận dụng giải các bài tập
sách giáo khoa, sách bài tập.
- Việc tự học của học sinh ở nhà bao gồm học bài cũ, chuẩn bị bài mới và thường
xuyên ôn tập kiến thức cũ.
* Học bài cũ
+ Các định nghĩa, khái niệm, định luật: Cần cố gắng hiểu rõ và nhớ chính xác từng ý
nghĩa của các mệnh đề được phát biểu.
+ Các công thức: Cần hiểu rõ ý nghĩa, đơn vị của từng đại lượng, học công thức bằng
cách ghi ra giấy hoặc ghi bảng nhiều lần. Học sinh ghi lại mỗi công thức ít nhất 5 lần vào vở
tự học.
+ Tập thói quen tự làm dàn bài tóm tắt bài học theo ý mình sau khi vừa học xong, để
sao cho khi học theo dàn bài, ta dễ dàng hiểu và nhớ chính xác bài học.
+ Để làm được bài tập học sinh phải học thuộc công thức, tóm tắt được đề bài sau đó
vận dụng công thức đã học để giải bài tập.
+ Làm đầy đủ bài tập (từ dễ đến khó) trong sách giáo khoa và sách bài tập Vật lí do Bộ
Giáo dục và Đào tạo phát hành.
+ Học sinh yếu kém phải làm lại các bài tập đã sửa trên lớp vào vở tự học.
* Làm thế nào để học sinh học thuộc công thức?
- Đối với giáo viên:
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 18
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên có thể trình bày cách ghi của mình sao cho dễ
hiểu dễ nhớ.
Ví dụ: Trong bài 9 sóng dừng, công thức điều kiện để có sóng dừng ghi:
2
l k
λ
=(2 1)
4
l k
λ
= +
Học sinh khó nhớ ở chỗ khi thì
2
λ
, khi thì
4
λ
.
Ta có thể ghi lại:
2
l k
ω
= ± −
Trong vật lí hạt nhân cần bổ sung công thức:
0
0
0
0
.2
2
.2
2
t
T
t
T
t
T
t
T
m
m m
N
N N
−
−
= =
= =
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 19
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Công thức tính lực căng dây của con lắc đơn ở li độ
môn học. Trước khi đến lớp, cần đọc trước nội dung chương mục, ghi câu hỏi, cố gắng đề
xuất câu trả lời, sau đó đối chiếu với câu trả lời của thầy cô, bạn bè. Sau buổi học cần làm bài
tập, các đề thi cũ. Thực hiện nghiêm túc việc tự học qua sách, các tài liệu từ internet và học
nhóm Đây là giải pháp được đánh giá rất cao. Thông qua học nhóm, mọi người học được
nhiều hơn và nhớ bài tốt hơn. Bên cạnh đó, thực hành nhiều để học tập có chiều sâu, đồng
thời rèn luyện các kỹ năng tư duy.
“Đã vui chơi thì chơi cho thật thỏa thích, đã học thì học cho đến nơi đến chốn!”
* Giúp tập trung hơn vào việc học:
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 20
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Các em có khó khăn tập trung khi học? Đừng vội bi quan! Dưới đây là một số lời
khuyên sẽ giúp các em tập trung hơn vào việc học.
- Tránh nhồi nhét: Nhồi nhét không phải là một thói quen học tập tốt, nó khiến học
sinh cảm thấy bị áp đảo với số lượng tài liệu phải học và làm giảm hứng thú học. Vì vậy, học
tuần tự từng bài, bài nào xong bài đó, tuyệt đối không để dồn đến kỳ thi mới học tất cả.
- Tránh tiếng ồn: Tiếng ồn làm giảm khả năng tập trung của hầu hết mọi người. Sáng
sớm, khi mọi người vẫn còn ngủ, sẽ là lúc tốt để học. Tốt nhất là các em ngồi học nơi yên tĩnh
hoặc đối mặt với một bức tường, các em sẽ không bị phân tâm vì những người khác có mặt ở
đó.
- Tránh phiền nhiễu: Tránh đồ vật không liên quan và những người khác. Chỉ đặt trên
bàn những điều mình thực sự sẽ cần sử dụng cho việc học tập. Ngoài ra, để giảm bớt hoặc loại
bỏ phiền nhiễu là tắt truyền hình và internet trong khi các em đang học.
- Tránh không tập trung khi học: Đôi khi các em đang cố gắng đọc nhưng dường
như tâm trí của các em không thể tập trung. Khi điều này xảy ra, các em thấy khó để hiểu
những gì mình đang đọc ngay cả khi bạn đọc đi, đọc lại nó nhiều lần. Một trong những cách
để ngăn chặn các luồng tư tưởng này là đọc ra tiếng (không cần to lắm) tài liệu học tập của
mình. Các em cũng có thể gạch chân hay đánh dấu các chú ý quan trọng trong các tài liệu
mình đang học, chúng sẽ giúp các em tập trung hơn.
- Một điều các em cũng nên tránh là học bài khi bụng đang đói: Khi chúng ta học,
chúng ta cũng sử dụng rất nhiều năng lượng và nếu bắt đầu với một dạ dày trống rỗng, nó sẽ
Sau khi học lý thuyết kết thúc chương nào, các em phải giải bài tập chương đó, đối với học
sinh khá các em giải hết mức1,2,3 còn các em học sinh yếu kém chỉ yêu cầu các em làm được
các bài tập mức 1,2.
Ngoài ra sau mỗi chương, giáo viên cho lớp phôtô tài liệu ôn tập chương gồm tóm tắt
kiến thức, phương pháp giải các dạng bài tập và một số câu hỏi và bài tập trắc nghiệm. Trước
khi sửa các bài tập trong lớp, các em phải giải trước ở nhà qua các buổi học nhóm ngoài giờ.
- Hướng dẫn học sinh cách học trong nhóm.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 22
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
+ Học công thức, lý thuyết:
Tùy vào lượng bài học hay công thức nhiều hay ít nhóm trưởng quy định thời gian học
bài cá nhân. Sau đó cứ 2 bạn trong nhóm truy bài cho nhau, một học sinh đọc một học sinh dò
bài sau đó đổi ngược lại. Đối với công thức một em đọc tên công thức một em ghi. Nếu em
nào chưa thuộc thì tiếp tục học.
+ Giải bài tập đề cương:
Cả nhóm ngồi xoay vòng giải bài tập trong đề cương, mức 1,2 các em tự giải, em nào
không biết hoặc chưa rõ chỗ nào thì nêu lên để các bạn trong nhóm hoặc nhóm trưởng hướng
dẫn. Đối với các bài tập mức 3 và các bài khó các em có thể thảo luận cách giải và đi đến
thống nhất chung.
Bước 4. Các biện pháp kiểm tra hoạt động và kết quả của các nhóm.
- Kiểm tra việc tự học bài cũ của học sinh:
- Học sinh lên trả bài phải có 3 quyển tập: Vở bài học, bài tập và vở tự học ghi chép
đầy đủ. Học sinh không thực hiện bị điểm 0.
- Học sinh không thuộc bài bị điểm 0 và viết lại 5 lần nội dung bài đó nộp lại cho giáo
viên vào tiết học sau. Nếu học sinh không thuộc bài lần 2 thì viết lại 10 lần nội dung bài đó và
mời phụ huynh học sinh vào để kết hợp giáo dục học sinh.
- Ngoài ra, giáo viên có thể kiểm tra dưới hình thức cho 5-10 học sinh ngồi khác vị trí
trong lớp kiểm tra viết 5 phút và nộp lại cho giáo viên, các em khác đóng hết tập sách lại và
ngồi nghiêm túc.
- Kiểm tra việc làm bài tập về nhà của học sinh:
bài tập. Sau mỗi lượt các em giải xong, giáo viên sửa hoàn chỉnh, các em sửa bài nào mình
làm sai vào vở. Đối với học sinh yếu kém, chỉ yêu cầu các em làm các bài tập ở mức 1,2.
Giáo viên giao bài tập cho từng nhóm, các em tiến hành thảo luận nhóm trong thời gian
quy định, sau đó giáo viên chỉ định bất kì em nào trong mỗi nhóm lên bảng sửa bài và cho
điểm. Nếu nhóm nào có nhiều bạn giải đúng bài tập sẽ được cộng điểm cho cả nhóm. Với
cách kiểm tra này sẽ giúp cho các em trong nhóm đoàn kết hơn và các em học khá sẽ có điều
kiện giúp đỡ các bạn yếu kém tiến bộ hơn trong học tập.
Nhóm thực hiện: Phan Thị Kim Huê – Ngô Hoàng Đức 24
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
- Kết quả các nhóm: Nhóm 1 có 4 bạn yếu kém có tiến bộ, thi học kì I trên 5 điểm,
nhóm 2 có 2 bạn tiến bộ, nhóm 3 có 3 bạn tiến bộ. Ngoài các em yếu kém có điểm thi trên 5
điểm, các em còn lại điểm có tăng so với trước khi học tổ nhóm.
- Theo dõi hoạt động của các nhóm giải đáp các thắc mắc
+ Giáo viên theo dõi hoạt động của nhóm qua báo cáo của các nhóm trưởng hàng tuần.
+ Giáo viên thăm nhóm, động viên các em học tập.
+ Trong quá trình học nhóm, có những bài tập khó chưa giải được hoặc có thắc mắc gì
thì cử một bạn trong nhóm ghi lại, đến các tiết học nhóm trưởng nhờ giáo viên giải đáp.
* Một số lưu ý trong việc học tổ nhóm
- Giáo viên kiểm tra sự hiểu bài của học sinh yếu kém, tránh tình trạng học sinh yếu
mượn bài tập đã giải của bạn để chép mà không hiểu.
- Giáo viên phải kiểm tra sác suất lại các báo cáo của nhóm trưởng.
- Nhóm trưởng và nhóm phó là các em học thực sự khá, có ý thức tự học cao, biết giúp
đỡ bạn bè, không ganh tị với bạn bè trong học tập.
- Những bài tập nào mà nhóm trưởng, nhóm phó và các thành viên trong nhóm chưa tự
quyết định hoặc chưa rõ cách giải thì nên ghi lại nhờ giáo viên giải, nhằm hạn chế cả nhóm
cùng làm sai.
- Đây là hình thức tự học nên giáo viên không ép buộc các em. Thường xuyên động
viên khuyến khích các em. Tuyên dương kịp thời các em có tiến bộ, khen thưởng học sinh
tiến bộ điển hình, các nhóm có nhiều học sinh tiến bộ và đồng thời tuyên dương các bạn học
sinh khá giúp đỡ bạn tiến bộ. Động viên khen thưởng kịp thời là động cơ để các em tích cực