TÀI LIỆU ÔN THI NÂNG NGẠCH CÔNG CHỨC
MÔN KIẾN THỨC CHUNG (VERSION 1)
BAO GỒM 03 CHUYÊN ĐỀ CHÍNH :
Chuyên đề 1
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
Chuyên đề 2
LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Chuyên đề 3
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Chuyên đề 1
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
_____________
I. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1. Khái niệm
Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các
đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp); với những quan
hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch
định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai
cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội.
2. Đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta:
HTCT nước ta có những đặc điểm:
Thứ nhất, HTCT nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo.
Đặc điểm này vừa mang tính phổ biến đối với HTCT các nước XHCN, vừa
mang tính đặc thù. Tính đặc thù đó được quy định bởi vai trò, vị trí, khả năng lãnh
đạo, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay trong
quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, chống ách thực dân, thống nhất
đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đổi mới xã hội
Thứ hai, HTCT nước ta chịu ảnh hưởng của mô hình Xô viết
Mặc dù đang trong quá trình đổi mới, hoàn thiện nhưng ảnh hưởng của chế
độ tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn khá nặng nề cả trong
nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người
Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ
thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt
Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo
nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa
các thành viên.
Các đoàn thể chính trị-xã hội của nhân dân lao động: Tổng Liên đoàn lao
động Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Hội phụ nữ; Đoàn thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh; Hội Cựu chiến binh. Tuỳ theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã được
xác định, vận động, giáo dục đoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp, chính sách;
chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên;
giúp đoàn viên, hội viên nâng cao trình độ về mọi mặt và xây dựng cuộc sống mới;
tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
3.2.Chức năng và quan hệ chính trị giữa các nhân tố trong Hệ thống
chính trị nước ta
Trong hệ thống chính trị nước ta, các quan hệ chính trị được xác lập do một
cơ chế chủ đạo (và cũng là quan hệ chủ đạo): Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ,
Nhà nước quản lý. Trong các mối quan hệ này:
+ Sự lãnh đạo của Đảng được xác định bằng các phương thức chủ yếu sau:
- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
- Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã
hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và
chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm
tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh
3
đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có
quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các
hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.
+Nhà nước quản lý:
- Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công,
phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp
luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phục vụ nhân
dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân,
tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế
1
4
và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô
trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ
cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân
dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung
ương.
- Nhà nước quản lý xã hội trước hết bằng hệ thống quy phạm pháp luật, bằng
hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước từ các bộ đến các cơ sở, trong đó không
loại trừ các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thực hiện sự nghiêm minh của pháp
luật. Nhà nước thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,
quản lý theo ngành hoặc lãnh thổ theo cấp vĩ mô hoặc vi mô. Nhà nước thực hiện
sự quản lý bằng cả chính sách, các công cụ đòn bẩy khác Mục tiêu của quản lý
Nhà nước là phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân được làm tất cả những gì mà pháp luật
không cấm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, nhằm phát
triển nhanh và mạnh mẽ lực lượng sản xuất của đất nước.
khác nhau như: nhân dân trực tiếp tham gia vào công việc quản lý nhà nước; tham
gia thảo luận Hiến pháp và luật; trực tiếp bầu ra các đại biểu Quốc hội và Hội đồng
nhân dân, giám sát hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, bãi
nhiệm các đại biểu này khi họ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân;
bỏ phiếu trưng cầu ý dân về những vấn đề quan trọng thuộc nhiệm vụ quyền hạn
của nhà nước.
4.2 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và
xã hội.
Điều 4 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) khẳng định: Đảng cộng sản Việt Nam là lực
lượng lãnh đạo đối với Nhà nước. Nội dung nguyên tắc thể hiện ở việc Đảng định
hướng sự phát triển về tổ chức bộ máy nhà nước, giới thiệu, bồi dưỡng cán bộ ưu tú
để nhân dân lựa chọn bầu hoặc để các cơ quan nhà nước đề bạt bổ nhiệm giữ các vị
trí quan trọng trong bộ máy nhà nước; Đảng vạch ra phương hướng xây dựng Nhà
nước, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước; Đảng lãnh đạo Nhà nước
thông qua các đảng viên, các tổ chức Đảng trong các cơ quan nhà nước, thông qua
công tác tuyên truyền, vận động quần chúng trong bộ máy nhà nước.
Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng mọi tổ chức của Đảng phải hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là một tất yếu
khách quan, là sự bảo đảm cho nhà nước ta thực sự là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
4.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc hoạt động chủ yếu của
HTCT, trong đó có Đảng và Nhà nước.
Điều 6 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) quy định "Quốc hội với Hội đồng nhân dân
và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
trung dân chủ". Bản chất của nguyên tắc này thể hiện sự thống nhất biện chứng
giữa chế độ tập trung lợi ích của Nhà nước, sự trực thuộc, phục tùng của các cơ
quan nhà nước cấp dưới trước các cơ quan nhà nước cấp trên và chế độ dân chủ,
tạo điều kiện cho việc phát triển sự sáng tạo, chủ động và quyền tự quản của các cơ
quan nhà nước cấp dưới.
Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất kết hợp hài hòa với
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đã tiến hành đấu tranh cách mạng và tự
mình lập nên Nhà nước, tự mình định đoạt quyền lực Nhà nước.
Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, thực hiện
quyền lực Nhà nước với nhiều hình thức khác nhau. Hình thức cơ bản nhất là nhân
dân thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của mình là Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp.
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động
trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.
Pháp luật quy định mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân: quyền của công
dân là trách nhiệm của Nhà nước, nghĩa vụ của công dân là quyền của Nhà nước.
- Tính chất dân chủ rộng rãi của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Dân chủ vừa là nhu cầu vừa là đòi hỏi mang tính nguyên tắc của Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ
của nhân dân là mục tiêu cơ bản bao trùm trong hoạt động của Nhà nước
Để có nền dân chủ thật sự không hình thức, trong tổ chức, hoạt động và xây
dựng Nhà nước phải thể hiện dân chủ hóa, phải cụ thể hóa tư tưởng dân chủ thành
các quyền và nghĩa vụ của công dân.
7
Muốn có dân chủ thật sự, ngoài việc phải dân chủ hóa các mặt đời sống xã
hội, cần phải gắn dân chủ với kỷ luật, kỷ cương chống mọi hiện tượng vô tổ chức,
vô chính phủ, lợi dụng dân chủ.
1.3 Tính dân tộc của Nhà nước
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của tất cả các
dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết dân
tộc.
Tính dân tộc của Nhà nước Việt Nam vừa là bản chất, vừa là truyền thống, là
nguồn sức mạnh của Nhà nước ta.
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân
tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Trong Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ VII(1991) đã
khẳng định: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”. Đến Đại hội XI(2011) Đảng ta
vẫn khẳng định quan điểm trên nhưng có bổ sung phát triển phải kiểm soát quyền
lực khi các cơ quan nhà nước được giao quyền “Quyền lực Nhà nước là thống
nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Như vậy, quyền lực của Nhà nước ta là thống nhất thuộc về nhân dân, các cơ
quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng, sử dụng quyền lực Nhà nước
trao có thể được xem như là một sự phân công lao động hợp lý, có sự ràng buộc,
hợp tác và giám sát lẫn nhau, bảo đảm mỗi tổ chức làm đúng chức năng, đúng pháp
luật, không được lạm quyền và tất cả đều nằm trong quyền lực thống nhất không có
sự phân lập, đối lập lẫn nhau.
- Ba là: Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt
dộng của Nhà nước.
Đây là nguyên tắc đòi hỏi kết hợp đúng đắn tập trung và dân chủ. Không xem
nhẹ mặt nào, có như vậy mới tạo nên sự thống nhất trong tổ chức hoạt động của
Nhà nước.
Tuy nhiên, nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ phải được hiểu và vận dụng
sát với tính chất, chức năng từng loại cơ quan. Nội dung của nguyên tắc này phải
được quán triệt trong luật pháp, phải xác định rõ quyền và nghĩa vụ của từng cấp
chính quyền.
- Bốn là: Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời coi trọng giáo
dục, nâng cao đạo đức.
Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân làm chủ, nghĩa là dân chủ. Để đảm bảo
quyền làm chủ của nhân dân thì mọi quyền và nghĩa vụ của công dân cũng như
thẩm quyền của mọi tổ chức phải được quy định bằng pháp luật và đòi hỏi mọi cá
mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội( bổ
sung và phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng : “ Nhà
nước ta là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự
phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.( Văn kiện Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà nội, năm
2011,tr 85)
3. Cơ cấu bộ máy Nhà nước ta
Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các cơ
quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, được tổ chức theo những quan điểm,
nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức
năng nhiệm vụ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Tổ chức bộ máy Nhà nước ta, theo quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi)
gồm các bộ phận cấu thành sau:
- Quốc hội.
- Chủ tịch nước.
- Chính phủ.
- Các cơ quan Tòa án nhân dân
10
- Các cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân.
- Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp.
3.1. Quốc hội
a. Vị trí pháp lý của Quốc hội
Theo điều 83, Hiến pháp 1992 quy định vị trí pháp lý của Quốc hội là: Quốc
hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
11
- Đoàn đại biểu Quốc hội là các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh
hoặc thành phố trực thuộc Trung ương lập thành đoàn đại biểu Quốc hội.
Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn, Phó trưởng đoàn và có đại biểu hoạt
động chuyên trách.
- Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
không chỉ đại diện cho nhân dân địa phương bầu ra mình mà còn đại diện cho nhân
dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thục hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc
hội.
3.2. Chủ tịch nước
Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi), “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước,
thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại”.(Điều
101). Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.
Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Chủ tịch
nước giữ quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ
tịch Hội đồng Quốc phòng và an ninh.
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
3.3. Chính phủ
a. Vị trí pháp lý của Chính phủ
Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp là hệ thống các cơ quan thực hiện
chức năng quản lý hành chính Nhà nước nên còn gọi là cơ quan hành chính nhà
nước.
Chính phủ có vị trí pháp lý quy định tại điều 109 của Hiến pháp 1992 (sửa
đổi) là:
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước
cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước, đảm bảo hiệu lực
của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp
hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự
biệt, Quốc hội có thể lập Tòa án đặc biệt.
Tòa án nhân dân địa phương chỉ thành lập ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc
Trung ương, cấp huyện và tương đương, không thành lập ở cấp cơ sở.
Trong hoạt động xét xử có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngang quyền với
nhau, độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và quyết định theo đa số.
Các cơ quan tòa án trong hệ thống xét xử có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo
nhiệm kỳ của Quốc hội. Chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của
Thẩm phán, chế độ bầu cử và nhiệm kỳ của Hội thẩm do pháp luật quy định.
b. Viện Kiểm sát nhân dân
Ở nước ta, hệ thống các cơ quan kiểm sát gồm có: Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao, các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương (lập ở cấp tỉnh, huyện và tương
đương) và các Viện Kiểm sát quân sự.
Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) quy định: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp góp phần bảo đảm cho
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân
dân, các Viện Kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và Viện Kiểm sát các họat
động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định.
Hệ thống Viện Kiểm sát được tổ chức thống nhất theo ngành dọc và thực hiện
chế độ thủ trưởng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu,
chịu trách nhiệm lãnh đạo thống nhất toàn bộ hệ thống Viện Kiểm sát và có quyền
13
bổ nhiệm, cách chức đối với tất cả các thành viên của Viện Kiểm sát cấp dưới.
Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ Quốc hội.
3.5. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (chính quyền địa phương)
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được thành lập ở cả 3 cấp tỉnh, huyện,
xã và các đơn vị tương đương.
a. Hội đồng nhân dân (HĐND)
- Vị trí pháp lý của HĐND
HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
HĐND cấp tỉnh thành lập 3 ban gồm: Ban kinh tế và ngân sách, Ban văn hóa
– xã hội, Ban pháp chế; nơi nào có nhiều dân tộc thì có thể thành lập Ban dân tộc.
14
HĐND cấp huyện thành lập 2 ban gồm: Ban kinh tế - xã hội, Ban pháp chế.
Thành viên của các ban HĐND không thể đồng thời là thành viên UBND
cùng cấp, Trưởng ban HĐND không thể là thủ trưởng cơ quan chuyên môn của
UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Ở cấp xã không lập các Ban của HĐND.
+ Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa
phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tuyên
truyền vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc
quản lý nhà nước.
b. Ủy ban nhân dân (UBND)
- Vị trí pháp lý của UBND
UBND do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính
Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà
nước cấp trên.
UBND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện chủ
trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội; củng cố an ninh, quốc phòng và thực
hiện các chính sách khác trên địa bàn.
UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần đảm
bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung
ương đến cơ sở.
UBND cấp dưới chịu sự chỉ đạo của UBND cấp trên. UBND cấp tỉnh chịu sự
chỉ đạo của Chính phủ.
UBND được ra quyết định và chỉ thị để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
mình.
- Tổ chức của UBND
UBND có: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên ủy ban.
cấp trên và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp khi được yêu cầu.
Ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay số lượng cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh là:
16 Sở và 02 cơ quan ngang sở; của UBND cấp huyện là 10 Phòng và 02 cơ quan
ngang phòng; UBND cấp xã không lập cơ quan chuyên môn mà chỉ có công chức
chuyên môn
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND làm việc theo chế độ thủ trưởng./.
16
Chuyên đề 2
LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
__________________
I. Cán bộ, công chức (Điều 4)
1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước.
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là
sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật.
3. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt
Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
4. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.
5. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó
là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định;
trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và
người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc
thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra
quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
V. Quyền của cán bộ, công chức được bảo đảm các điều kiện thi hành
công vụ (Điều 11)
1. Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ.
2. Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định
của pháp luật.
3. Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
4. Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp
vụ.
5. Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ.
VI. Quyền của cán bộ, công chức về tiền lương và các chế độ liên quan
đến tiền lương (Điều 12)
1. Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn
được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Cán bộ, công chức
18
làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có
môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy
định của pháp luật.
2. Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ
khác theo quy định của pháp luật.
VII. Quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi (Điều 13)
19
1. Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất
đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công.
2. Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật.
3. Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến
công vụ để vụ lợi.
4. Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo
dưới mọi hình thức.
XIII. Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến bí
mật nhà nước (Điều 19)
1. Cán bộ, công chức không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà
nước dưới mọi hình thức.
2. Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà
nước thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định nghỉ hưu, thôi
việc, không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình
đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc
liên doanh với nước ngoài.
XIV. Những việc khác cán bộ, công chức không được làm (Điều 20)
Ngoài những việc không được làm quy định tại Điều 18 và Điều 19 của Luật
Cán bộ, công chức, cán bộ, công chức còn không được làm những việc liên quan
đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham
nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định
của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.
XV. Phân loại công chức (Điều 34)
1. Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau:
a) Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp
hoặc tương đương;
b) Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính
hoặc tương đương;
c) Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc
4. Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân
tộc thiểu số.
XIX. Ngạch công chức và việc bổ nhiệm vào ngạch công chức (Điều 42)
1. Ngạch công chức bao gồm:
a) Chuyên viên cao cấp và tương đương;
b) Chuyên viên chính và tương đương;
c) Chuyên viên và tương đương;
d) Cán sự và tương đương;
đ) Nhân viên.
2. Việc bổ nhiệm vào ngạch phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Người được bổ nhiệm có đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch;
21
b) Việc bổ nhiệm vào ngạch phải đúng thẩm quyền và bảo đảm cơ cấu công
chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
3. Việc bổ nhiệm vào ngạch công chức được thực hiện trong các trường hợp
sau đây:
a) Người được tuyển dụng đã hoàn thành chế độ tập sự;
b) Công chức trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch;
c) Công chức chuyển sang ngạch tương đương.
XX. Mục đích đánh giá công chức (Điều 55)
Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá
là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và
thực hiện chính sách đối với công chức.
XXI. Nội dung đánh giá công chức (Điều 56)
1. Công chức được đánh giá theo các nội dung sau đây:
a) Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước;
b) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;
c) Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng.
2. Cán bộ, công chức được khen thưởng do có thành tích xuất sắc hoặc công
trạng thì được nâng lương trước thời hạn, được ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức
vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu.
XXIV. Các hình thức kỷ luật đối với công chức (Điều 79)
1. Công chức vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những
hình thức kỷ luật sau đây:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Hạ bậc lương;
d) Giáng chức;
đ) Cách chức;
e) Buộc thôi việc.
2. Việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ
lãnh đạo, quản lý.
3. Công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì
đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật;
công chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.
23
Chuyên đề 3
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
______________
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC
1.1. Khái niệm cải cách và cải cách hành chính nhà nước
- Theo cách hiểu chung nhất, cải cách là những thay đổi có tính hệ thống và
có mục đích nhằm làm cho một hệ thống hoạt động tốt hơn. Điều đó làm phân biệt
cải cách với những hoạt động khác cũng chỉ sự biến đổi như sáng kiến, thay đổi,
hiện thực hóa mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của giai
cấp cầm quyền trong xã hội. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ
máy hành chính nhà nước là yêu cầu và mong muốn của mọi quốc gia. Cải cách
hành chính nhà nước, xét cho cùng, không có mục đích tự thân mà nhằm tăng
cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước trong quá
trình quản lý các mặt của đời sống xã hội, trước hết là quản lý, định hướng và điều
tiết sự phát triển kinh tế - xã hội và duy trì trật tự của xã hội theo mong muốn của
Nhà nước.
Công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước khởi xướng và lãnh đạo ở
nước ta gần 30 năm qua đã tạo nên những thay đổi vượt bậc trong đời sống
kinh tế - xã hội của đất nước. Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu,
bao cấp đã từng bước vững chắc chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, duy trì
được định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa. Những thành công kể trên có
nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân rất quan trọng là trong toàn
bộ tiến trình đổi mới đất nước từ năm 1986 cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta
luôn chú trọng đến cải cách nền hành chính nhà nước. Cải cách hành chính nhà
nước đã trở thành một trong những đòi hỏi khách quan của sự phát triển và đổi
mới. Khẳng định tầm quan trọng của cải cách hành chính nhà nước với tư cách là
một bộ phận không tách rời và quyết định thành công của đổi mới, Đảng và Nhà
nước ta đã xác định: cải cách hành chính là nội dung trọng tâm của công cuộc đổi
mới và cải cách nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
2.XU HƯỚNG CẢI CÁCH HƯỚNG HÀNH CHÍNH HÀNH CHÍNH
TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Xu hướng cải cách hành chính ở các nước phát triển
Ngày nay, cải cách hành chính nhà nước là một lĩnh vực được hầu hết các
nước trên thế giới quan tâm. Nhiều quốc gia coi cải cách hành chính là một yếu tố
hết sức quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời thông qua
cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước;