BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên: HOÀNG TRUNG CHIẾN
Mã số sinh viên: 1155010026
Lớp: 19-TM36A
ĐỀ TÀI: THỰC TIỄN TỔ CHỨC QUẢN LÝ
TRONG CÔNG TÝ TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
MỘT THÀNH VIÊN
Niên khóa: 2011-2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
THỰC TIỄN TỔ CHỨC QUẢN LÝ TRONG
CÔNG TÝ TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT
THÀNH VIÊN
Sinh viên thực hiện: Hoàng Trung Chiến
Khóa: 36 MSSV:1155010026
Nơi thực tập: Văn phòng Luật sư Chân
Thiện Mỹ
Niên khóa: 2011-2015
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 3
1.1.Khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 3
1.2.Đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 3
1.3.Những ưu thế của việc tổ chức kinh doanh dưới hình thức công ty trách
thành viên tại Việt Nam 20
3.3.Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định công ty trách nhiệm hữu hạn
một
thành viên 22
KẾT LUẬN 26
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh đất nước ta ngày càng đổi mới, từng bước hội nhập vào nền kinh tế
khu vực cũng như là thế giới, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có
quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Quyền tự do kinh doanh và bình
đẳng của các doanh nghiệp chỉ thực sự được đảm bảo trên cơ sở một hệ thống pháp
luật hoàn thiện, mà trước hết là hệ thống pháp luật về doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, Luật doanh nghiệp 1999 được Quốc hội thông qua ngày 12/06/1999
đã bước đầu ghi nhận một loại hình doanh nghiệp mới, đó là công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên. Loại hình doanh nghiệp này ra đời đã đáp ứng được sự kỳ vọng
của các nhà doanh nghiệp cũng như các nhà nghiên cứu luật. Quy định này của luật
doanh nghệp 1999 đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy nội lực phát
triển kinh tế đất nước, đẩy nhanh thời kỳ đổi mới từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thì trường.
Tuy nhiên loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thanh viên trong luật doanh
nghiệp 1999 vẫn còn nhiều điêm bất cập chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh
nghiệp muốn kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp này. Trước tình hình đó, ngày
29/11/2005 Luật doanh nghiệp 2005 đã được Quốc hội ban hành và có hiệu lực từ
ngày 01/07/2006. Đáp ứng được sự kỳ vọng của các doanh nghiệp mong muốn kinh
doanh theo hình thức này, Luật doanh nghiệp 2005 đã có nhiều đổi mới trong đó đáng
chú ý nhất là Loại hình công tý trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân đã cải
thiện một bước to lớn môi trường kinh doanh ở Việt Nam, cải thiện thủ tục hành
chính, giúp doanh nghiệp yên tâm hơn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Mặc dù các quy định của pháp luật về Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp 2005 đã có nhiều điểm mới. Song những quy
định này cũng còn một số hạn chế nhất định cho nên cần phải được sửa đổi và hoàn
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày
được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được giảm vốn điều lệ
2
. Quy
định này được xem như là một hạn chế đối với quyền sở hữu công ty.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được phát hành cổ phiếu.
1.3.Những ưu thế của việc tổ chức kinh doanh dưới hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên
Chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động
của công ty.
Việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho phép cá nhân được
hưởng chế độ hữu hạn trong phần vốn họ bỏ vào công ty. Điều này khuyến khích các
cá nhân tham gia kinh doanh do giới hạn rủi ro kinh doanh của họ là phần vốn góp
chứ không phải là tất cả tài sản của họ
1 Điều 63 Luật doanh nghiệp 2005
2 Khoản 1 Điều 76 Luật doanh nghiệp 2005
Đây là mô hình lý tưởng kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ. Do có cơ cấu và tổ
chức đơn giản và phù hợp với các đối tượng có ít vốn và quy mô kinh tế vừa phải.
Đặc biệt là phù hợp với các đối tượng cá nhân muốn kinh doanh độc lập nhưng lại
muốn hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn.
Bên cạnh đó mô hình kinh tế công ty trách nhiệm một thành viên còn mang lại lợi
ích thiết thực khác là giải quyết được số lượng lớn về việc làm cho người lao động ở
từng lĩnh vực khác nhau. Tạo ra một môi trường cạnh trạnh lành mạnh thúc đẩy các
loại hình thành phần kinh tế khác nhau ngày càng phát triển hơn.
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU
HẠN MỘT THÀNH VIÊN
2.1. Đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo luật
xác định gồm nhà, tên phố, xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, số điện thoại, so fax, thư điện tư, và có hồ sơ
đăng ký kinh doanh hợp lệ.
- Giấy kinh doanh là sự thoả thuận chính thức về mặt pháp lý về sự tồn tại của
doanh nghiệp và có tư cách chủ thể để tiến hành các hoạt động kinh doanh. Nó là bảo
3 Khoản 1,2 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005
4 Nghị Định 102/2007/NĐ-CP
5 Điều 7 Luật doanh nghiệp 2005
đảm pháp lý quan trọng để các đối tác của doanh nghiệp biết là người cũng giao dịch
với mình có đủ tư cách pháp lý để tham gia giao dịch hay không.
- Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và đủ điều kiện kinh doanh được áp dụng
theo các quy định của pháp luật, pháp lệnh, nghị định chuyên ngành hoặc có quyết
định có liên quan của Thủ tướng.
Đối với ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề:
- Chứng chỉ hành nghề là văn bản mà cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền của Việt
Nam hoặc hiệp hội nghề nghiệp được Nhà Nước uỷ quyền cấp cho cá nhân có đủ trình
độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về một ngành nghề nhất định được quy
định tại khoản 2 Điều 7 của Luật doanh nghiệp . Chứng chỉ hành nghề được cấp ở
nước ngoài không có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp được cơ quan nhà
nước của Việt Nam có thẩm quyền cho phép hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên có quy định khác.
- Ngành nghề kinh doanh phải có đủ chứng chỉ hành nghề và điều kiện cấp chứng
chỉ hành nghề tương ứng áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên
quan.
Đối với các ngành nghề cấm kinh doanh: Luật doanh nghiệp cấm kinh doanh các
ngành, nghề gây phương hại đến an ninh, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
truyền thống, lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khỏe
của nhân dân. Với quy định này thì chính phủ là cơ quan có thẩm quyền công bố danh
mục cụ thê ngành, nghề cấm kinh doanh
2.1.3.Thủ tục đăng ký kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
doanh nghiệp. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì doanh
nghiệp mới có được tư cách chủ thể để tiến hành hoạt động kinh doanh một cách hợp
pháp theo các quy định của pháp luật. Việc doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nói
chung và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nói riêng có ý nghĩa trong việc
sự thừa nhận chính thức về mặt pháp lý của sự tồn tại của một doanh nghiệp có tư
cách chủ thể để tiến hành các hoạt động kinh doanh.
-Nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh
7
:
Người thành lập doanh nghiệp hoặc người đại diện theo ủy quyền nộp đủ hồ sơ tại
Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh hoặc huyện nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp
và chịu trách nhiệm về tính chính xác cũng như tính trung thực với nội dung hồ sơ
đăng ký kinh doanh. Điều này nhằm mục đích tạo nên tính trung thực trong kinh
doanh của người kinh doanh nhằm tránh trường hợp lập công ty “ma” để thực hiện
công việc lừa đảo, chiếm đoạt, xảy ra những hậu quả rất khó lường.
Phòng đăng ký kinh doanh không được quyền yêu cầu người thành lập doanh
nghiệp nộp thêm bất kỳ giấy tờ nào khác với quy định nêu trên khi tiếp hồ sơ, việc
đưa ra quy định này nhằm hạn chế tình trạng những người có quyền gây ra những khó
khăn đối với người thành lập doanh nghiệp nhằm trục lợi, quan liêu, phòng đăng ký
7 Điều 16 Nghị định 88/2006/NĐ-CP
kinh doanh cấp tỉnh hoặc huyện phải trao giấy biên nhận cho người lập hồ sơ, tuy
nhiên không chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật xảy ra khi đăng ký kinh
doanh.
-Cơ quan đăng ký kinh doanh
8
2.1.4.Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xét duyệt hồ sơ đăng ký kinh doanh
và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ
ngày nhận hồ sơ. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì thông báo
bằng văn bản cho người thành lập biết, thông báo phải nêu rõ lý do và các yêu cầu sửa
những thủ tục, hồ sơ trùng lập không cần thiết, qua đó làm giảm bớt chi phí về thời
gian, công sức và tiền bạc cho việc thành lập doanh nghiệp, đồng thời cũng giúp cho
doanh nghiệp có được sự chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
2.2. Các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty trách nhiệm hũu hạn một
thành viên
2.2.1.Quyền của chủ sở hữu công ty là tổ chức
9
:
-Quyết định nội dung, Điều lệ công ty, sửa đổi bổ sung Điều lệ công ty;
-Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;
-Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các
chức danh quản lý công ty;
-Quyết định các dự án đầu tư có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản
được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn
quy định tại Điều lệ công ty.
-Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
-Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy
định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài
chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhở hon quy định tại Điều lệ công ty;
-Quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được
ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định
tại Điều lệ công ty;
-Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ
vốn điều lệ công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Như vậy chủ sở hữu công ty có quyền
quyết định tăng vốn điều lệ công ty, vậy chủ sở hữu công ty có quyền quyết định giảm
vốn điều lệ của công ty hay không. Theo điều 76 Luật doanh nghiệp công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền giảm vốn điều lệ. Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên thì được quyền tăng vốn điều lệ của của công ty mình,
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tăng vốn điều lệ bằng cách chủ sở hữu
công ty đầu tư thêm hoặc huy động thêm vốn của người khác. Chủ sở hữu công ty
hạn số vốn đã cam kết thì phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của công ty.
-Chủ sở hữu công ty là cá nhân phải xác định và tách biệt tài sản của sở hũu công
ty với tài sản công ty. Trường hợp chủ sở hữu công ty là cá nhân thì phải tách biệt các
chi tiêu của cá nhân với gia đình mình và các chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch công
ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
-Đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có chủ sở hữu là cá
nhân khi kinh doanh sẽ có hai khối tài sản chính: Một là khối tài sản không đưa vào
10 Khoản 2 Điều 64 Luật doanh nghiệp 2005
11 Điều 65 Luật doanh nghiệp 2005
hoạt động sản xuất kinh doanh, hai là khối tài sản trực tiếp đưa vào hoạt động sản xuất
kinh doanh, cho nên sự chuyển dịch giữa hai khối tài sản này là rất khó kiểm soát mặc
khác với tư cách cá nhân đó cũng dễ thay đổi vừa là công dân vừa là nhà đầu tư cho
nên dẫn đến hệ quả là khó khăn trong việc phân biệt giữa công việc của gia đình và
công việc của công ty. Vì vậy Nhà nước cần nên ban hành những quy định pháp lý
thật chính xác rỏ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của loại hình công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân cũng như đối với Chủ sở hữu công ty.
-Tuân thủ các quy định của pháp luật về hợp đồng, pháp luật có liên quan trong
việc mua bán, vay, cho vay, thuê và các giao dịch khác giữa công ty với chủ sở hữu
công ty.
-Thực hiện các giao dịch khác theo quy định của luật doanh nghiệp và Điều lệ công
ty.
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN TỔ CHỨC QUẢN LÝ TRONG CÔNG TÝ TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
3.1.Cơ cấu tổ chức và quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Luật doanh nghiệp 2005 cho phép một cá nhân hoặc một tổ chức được quyền thành
lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên . Do đó, công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên được chia làm 2 loại: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là
tổ chức và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân.
3.1.1.Cơ cấu tổ chức và quán lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ
+ Hội đồng thành viên: Hội đồng thành viên nhân danh chủ sở hữu công ty tổ chức
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; có quyền nhân danh công ty
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ
sở hữu công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo quy định của
Luật doanh nghiệp mới và pháp luật có liên quan. Quyền, nghĩa vụ, nhiệm vụ cụ thể
và chế độ làm việc của Hội đồng thành viên đối với chủ sở hữu công ty được thực
hiện theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật có liên quan.
Thẩm quyền, cách thức triệu tập họp Hội đồng thành viên áp dụng theo quy định sau:
Hội đồng thành viên được triệu tập họp bất cứ khi nào theo yêu cầu của Chủ tịch
Hội đồng thành viên hoặc theo yêu cầu của thành viên hoặc nhóm thành viên (Đó là
trường hợp thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu trên 25% vốn điều lệ hoặc một tỷ
lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định, trừ trường hợp quy định dưới đây, có
quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn đề thuộc
thẩm quyền. Trường hợp công ty có một thành viên sở hữu trên 75% vốn điều lệ và
Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định trên (25%) thì
các thành viên thiểu số hợp nhau lại đương nhiên có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội
đồng thành viên để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền). Cuộc họp của Hội
đồng thành viên phải được tổ chức tại trụ sở chính của công ty, trừ trường hợp Điều lệ
công ty có quy định khác.
Chủ tịch Hội đồng thành viên phải chấp thuận kiến nghị và bổ sung chương trình
họp Hội đồng thành viên nếu kiến nghị có đủ nội dung theo quy định được gửi đến trụ
sở chính của công ty chậm nhất một ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng thành
viên; trường hợp kiến nghị được đệ trình ngay trước khi họp thì kiến nghị được chấp
thuận nếu đa số các thành viên dự họp đồng ý.
Thông báo mời họp Hội đồng thành viên có thể bằng giấy mời, điện thoại, fax,
telex hoặc các phương tiện điện tử khác do Điều lệ công ty quy định và được gửi trực
tiếp đến từng thành viên Hội đồng thành viên. Nội dung thông báo mời họp phải xác
định rõ thời gian, địa điểm và chương trình họp.
Chương trình và tài liệu họp phải được gửi cho thành viên công ty trước khi họp.
Tài liệu sử dụng trong cuộc họp liên quan đến quyết định về sửa đổi, bổ sung Điều lệ
hoặc nhóm thành viên đã yêu cầu có quyền triệu tập họp Hội đồng thành viên. Chi phí
hợp lý cho việc triệu tập và tiến hành họp Hội đồng thành viên sẽ được công ty hoàn
lại.
Cuộc họp của Hội đồng thành viên được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba số
thành viên dự họp. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì mỗi thành viên có
một phiếu biểu quyết có giá trị như nhau. Hội đồng thành viên có thể thông qua quyết
định theo hình thức lấy ý kiến bằng văn bản.
Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua khi có hơn một nửa số thành
viên dự họp chấp thuận. Việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, tổ chức lại công ty,
chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty phải được ít nhất ba
phần tư số thành viên dự họp chấp thuận.
Quyết định của Hội đồng thành viên có giá trị pháp lý kể từ ngày được thông qua,
trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định phải được chủ sở hữu công ty chấp thuận.
Các cuộc họp của Hội đồng thành viên phải được ghi vào sổ biên bản. Nội dung
biên bản họp Hội đồng thành viên có các nội dung chủ yếu sau đây: Thời gian và địa
điểm họp; mục đích, chương trình họp; Họ, tên, tỷ lệ vốn góp, số và ngày cấp giấy
chứng nhận phần vốn góp của thành viên, người đại diện theo uỷ quyền dự họp; họ,
tên, tỷ lệ vốn góp, số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp của thành viên,
người đại diện uỷ quyền của thành viên không dự họp; Vấn đề được thảo luận và biểu
quyết; tóm tắt ý kiến phát biểu của thành viên về từng vấn đề thảo luận; Tổng số phiếu
biểu quyết tán thành, không tán thành, không có ý kiến đối với từng vấn đề biểu
quyết; Các quyết định được thông qua; Họ, tên, chữ ký của thành viên, người đại diện
theo uỷ quyền dự họp.
+ Chủ tịch công ty: Chủ tịch công ty nhân danh chủ sở hữu tổ chức thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; có quyền nhân danh công ty thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của công ty; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công
ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo quy định của Luật Doanh
nghiệp và pháp luật có liên quan. Quyền, nghĩa vụ, nhiệm vụ cụ thể và chế độ làm
việc của Chủ tịch công ty đối với chủ sở hữu công ty được thực hiện theo quy định tại
Điều lệ công ty và pháp luật có liên quan. Quyết định của Chủ tịch công ty về thực
sở hữu công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình.
Kiểm soát viên có các nhiệm vụ sau đây: Kiểm tra tính hợp pháp, trung thực, cẩn
trọng của Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
trong tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu, trong quản lý điều hành công việc kinh
doanh của công ty; Thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh, báo
cáo đánh giá công tác quản lý và các báo cáo khác trước khi trình chủ sở hữu công ty
hoặc cơ quan nhà nước có liên quan; trình chủ sở hữu công ty báo cáo thẩm định;
Kiến nghị chủ sở hữu công ty các giải pháp sửa đổi, bổ sung, cơ cấu tổ chức quản lý,
điều hành công việc kinh doanh của công ty; Các nhiệm vụ khác quy định tại Điều lệ
công ty hoặc theo yêu cầu, quyết định của chủ sở hữu công ty.
Kiểm soát viên có quyền xem xét bất kỳ hồ sơ, tài liệu nào của công ty tại trụ sở
chính hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty. Thành viên Hội đồng thành
viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác có nghĩa
vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin về thực hiện quyền chủ sở hữu, về quản lý,
điều hành và hoạt động kinh doanh của công ty theo yêu cầu của Kiểm soát viên.
Kiểm soát viên phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây: Có đủ năng lực hành
vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của
Luật doanh nghiệp năm 2005; Không phải là người có liên quan của thành viên Hội
đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người có thẩm
quyền trực tiếp bổ nhiệm Kiểm soát viên; Có trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm
nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán hoặc trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế
trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác
quy định tại Điều lệ công ty.
3.1.2.Cơ cấu tổ chức hoạt động của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá
nhân
15
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân có Chủ tịch công ty, Giám
đốc hoặc Tổng giám đốc. Chủ sở hữu công ty đồng thời là Chủ tịch công ty. Chủ tịch
công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công
ty theo quy đinh tại Điều lệ công ty.
đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ, cá nhân này vừa là
Chủ sở hữu vừa là người sử dụng tài sản đồng thời cũng là người quản lý hoạt động
của doanh nghiệp, còn đối công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một doanh
nghiệp do một tổ chức hay một cá nhân làm Chủ sở hữu theo Luật doanh nghiệp 2005
(Còn đối với Luật Doanh nghiệp 1999 thì Chủ sở hữu chỉ là tổ chức không quy định
cá nhân là chủ sở hữu công ty. Đây là điểm khác biệt giữa Luật Doanh nghiệp 1999 và
Luật Doanh nghiệp 2005). Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa
vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của mình.
-Từ việc thừa nhận một cá nhân có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển thành
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình
thức công ty trách nhiêm hữu hạn một thành viên để kinh doanh ngay từ khi thành lập
doanh nghiệp. Có thể nói đây là một quy định rất phù hợp với thực tế, thể chế hoá kịp
thời các mối quan hệ hoá phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của một nền
kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của công ty phát huy được thế mạnh
của loại hình doanh nghiệp này đồng thời vẫn đảm bảo được sự quản lý của cơ quan
Nhà Nước, quy định này có thể xem là một thể chế hoá “Quyền tự do kinh doanh”
16
được ghi nhận trong Hiến pháp 2013. Vì quyền tự do lựa chọn hình thức kinh doanh là
một yếu tố quan trọng của quyền tự do kinh doanh. Ngoài ra quy định này còn có ý
nghĩa góp phần làm đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh làm phong phú thêm các
nhân tố với tư cách là một chủ thể độc lập trong nền kinh tế.
-Trên thực tế trong tổng số các doanh nghiệp vừa được thành lập với mô hình công
ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên không ít doanh nghiệp về thực chất
là sự biến hoá của hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Điều này có
ý nghĩa là ngay khi thành lập, Công ty chỉ có một thành viên đích thực còn các thành
viên và số vốn góp của họ hoàn toàn chỉ mang tính hình thức. Để giải thích nguyên
nhân của hành vi này có nhiều ý kiến khác nhau tuy nhiên quan điểm của họ đều cho
rằng hiện tượng “lách luật” này xuất phát từ tâm lý chung của các nhà đầu tư. Đó là
tâm lý tự mình điều hành hoạt động kinh doanh của công ty không muốn phân chia lợi
áp dụng các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế thì các hoạt động này dễ có khuynh
hướng đi vào hoạt động ngầm và nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan quản lý
Nhà Nước. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng những yếu tố tích cực từ việc quy định
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã vượt xa những yếu tố tích
cực có thể phát sinh từ hoạt động của loại hình doanh nghiệp này.
3.2.2. Thực trạng hoạt động của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
tại Việt Nam
Thuận lợi:
-Luật doanh nghiệp 2005 là một cuộc cải cách cơ bản trong hệ thống về doanh
nghiệp ở nước ta, dựa trên sự thành công đã được thừa nhận rộng rãi trong Luật doanh
nghiệp 1999. Với số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không ngừng
tăng lên theo mỗi năm.
-Từ những môi trường pháp lý như hiện nay công ty trách nhiệm một thành viên đã
có những tiến bộ về mọi mặt trong quá trình kinh doanh, cùng với những thuận lợi
trên thì ngày nay số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn nói chung và công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên nói riêng được thành lập rất nhiều trong khắp địa bàn
trên cả nước. Cùng với sổ lượng công ty trách nhiệm hữu hạn không ngừng tăng lên
theo mỗi năm và đó là yếu tố tích cực trong việc Nước ta đã và đang hội nhập vào nền
kinh tể thị trường của thế giới.
Thật vậy về mặt nội dung Luật doanh nghiệp 2005 đã được đổi mới và kế thừa
những thành tựu phát triển về nội dung, tinh thần của Luật doanh nghiệp 1999. Từ
những môi trường pháp lý thuận lợi như hiện nay công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên đã có những tiến bộ về mọi mặt trong quá trình kinh doanh, chẳng hạn như
kỹ năng quản trị được nâng cao nhờ chuyên môn hóa. Chủ sở hữu có vốn, có trình độ
như nhau, nên họ có thể bổ sung cho nhau về sự giao lưu về kỹ năng giao tiếp, chuyên
môn. Điều rất dễ thấy ở loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thường
được các kỹ sư chuyên môn kế toán hay các chuyên gia hợp tác với nhau thành lập
quản lý và điều hành công ty có khả năng quản lý toàn diện. Đối với ký năng tăng
trưởng và phát triển, sự đa dạng trong cung cách quản trị và sự phong phú của nguồn
vốn nâng cao triển vọng đối với sự phát triển và mở rộng thị trường mới của công ty
công ty đăng ký kinh doanh ngành này nhưng thực tế đi vào hoạt động họ lại kinh
doanh ngành khác, có những trường hợp việc cạnh tranh của các doanh nghiệp không
lành mạnh đã dẫn đến hệ quả là làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh
tế nước ta. Ngày nay nền kinh tế Nước ta phát triển theo xu thế thị trường là một nền
kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa vì vậy các loại hình kinh doanh
rất phức tạp trong điều kiện nền kinh tế đổi mới. Vì thế chúng ta cần quan tâm chặt
chẽ đến việc thành lập các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư kinh doanh
một cách lành mạnh có vậy mới tránh được sự lừa dối lẫn nhau giữa các nhà doanh
nghiệp.
-Về ngành nghề đăng ký kinh doanh vấn đề khó khăn vướng mắc xuất hiện ở một
số điểm sau:
+ Yêu cầu người đăng ký kinh doanh phải ghi ngành nghề muốn kinh doanh theo
mã số của phân loại ngành, nghề kinh tế quốc dân có lẽ chưa phù họp với quy định
của Luật doanh nghiệp theo nguyên tắc người dân và danh nghiệp được quyền kinh
doanh tất cả các ngành nghề mà Pháp Luật không cấm.
+ Việc áp dụng mã số ngành, nghề theo quy định trên thực tế cho thấy điều đó rất
khó khăn vì có sự không tương đồng giữa ngành nghề kinh doanh với ngành nghề
kinh tế quốc dân theo quy định của pháp luật. Điều này đang gây khó khăn, tốn kém
cho cà nhà đầu tư lẫn doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Nhà Nước có thẩm quyền.
+ Đối với ngành nghề đăng ký không có trong danh mục ngành nghề kinh tế quốc
dân là tương đối phổ biến, điều đáng nói là một số ngành nghề đăng ký được cán bộ
đăng ký kinh doanh coi là nhạy cảm và phải chờ để phòng đăng ký kinh doanh xin ý
kiến bằng văn bản của các cơ quan có liên quan. Hệ quả là người đăng ký kinh doanh
chưa thể đăng ký thành lập doanh nghiệp đựợc, nếu chưa có ý kiến đồng ý của các bộ
có liên quan.
-Về vấn đề chứng chỉ hành nghề đối với Giám đốc
17
: Cả 3 Điều khoản 4 Điều 16,
Khoản 5 Điều 18 và Khoản 5 Điều 19 đều quy định với những lĩnh vực, ngành nghề
kinh doanh đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề, Giám đốc phải có chứng chỉ đó. Tuy