Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 28

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng cát ven biển nước ta là vùng sinh thái rất khắc nghiệt, hiểm hoạ cát di
động uy hiếp mạnh mẽ và trở thành khu vực rất xung yếu. Khoảng 400.000 ha
các dải cát di động trải dọc bờ biển miền Trung đã và đang bị sa mạc hoá, ước
tính mỗi năm có 20 ha đất canh tác nông nghiệp bị lấn bởi các đụn cát di động
[9]. Vì vậy việc tạo rừng trên những vùng cát này là hết sức khó khăn.
Do phải tạo rừng trên những vùng đất cát khô hạn, nghèo dinh dưỡng với
chức năng phòng hộ, chắn gió, chắn cát ven biển nên việc lựa chọn loài cây
trồng rừng rất được quan tâm, đây là một trong những khâu cốt yếu quyết định
đến thành bại của công tác trồng rừng. Viện KHLN Việt Nam đã nghiên cứu với
một số loài cây trồng trên vùng này đó là Keo lá tràm, Keo tai tượng, Phi lao,
một số loài cây chịu hạn và một số loài Bạch đàn trắng…nhưng cũng chưa đi
sâu [23].
Với các vùng đất cát ven biển, đặc biệt là các đồi cát nội đồng hoặc đồi cát
di động, bán di động thì Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) là cây trồng lý tưởng
để hình thành rừng phòng hộ bảo vệ đất, điều hòa khí hậu, chống cát bay, cát
nhảy, cải tạo môi trường sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác nông
nghiệp và đời sống dân sinh. Bên cạnh những lợi ích của cây Keo lá liềm mang
lại cho môi trường thì nó còn đem lại nhiều lợi ích về kinh tế. Gỗ Keo lá liềm
khá nặng, gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làm ván ghép thanh; gỗ nhỏ
dùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván ép, cọc trụ mỏ… Do tán lá rộng thường
xanh, mọc chồi khỏe, có khả năng cạnh tranh với cỏ dại nên dùng để trồng trên
đồi trọc làm cây che bóng, bảo vệ đất. Ngoài ra, Keo lá liềm có rễ phát triển
mạnh, nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tác dụng bảo vệ và cải
tạo đất rất tốt, đặc biệt là vùng cát trắng ven biển [20].
Rừng ven biển luôn được tỉnh Thừa Thiên - Huế xác định có vai trò to lớn
trong việc chắn cát, giảm thiểu ảnh hưởng do biến đổi khí hậu, bảo vệ môi
trường sinh thái và các các công trình hạ tầng trong vùng, tạo công ăn việc làm,
nâng cao đời sống của nhân dân. Hiện nay huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế
đã và đang đưa vào xây dựng các mô hình trồng Keo lá liềm nhằm giúp người

Theo nghiên cứu tại CSIRO lâm nghiệp và lâm sản (CSIRO FFP) được tiến
hành trong bối cảnh thuần hóa cây. Cho biết Acacia crassicarpa là một cây khá
lớn có thể cao lên đến 30 m. Nó có sức tăng trưởng và sức sống cao ở những nơi
khô cằn, hơi cao, đồng cỏ cao nguyên và phát triển mạnh trong vùng nhiệt đới ẩm với
tiềm năng của các loài ít được biết đến. Trong những năm qua, Acacia crassicarpa đã
phát triển từ một cây hầu như không được biết đến trong những vùng hoang dã của
miền Bắc Queensland và New Guinea rồi trở thành một loài cây trồng phổ biến với
khả năng cung cấp giấy và bột giấy trong khu vực Đông Nam Á. Hơn 40.000 ha rừng
trồng hiện nay đã được thành lập trên đảo Sumatra ở Indonesia (Midgley 2000) đã
mang lại hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường trên đảo. Mặc dù Keo lá
liềm tạo ra sản lượng bột giấy ít hơn so với Keo tai tượng, nhưng tốc độ tăng trưởng
cao (trung bình gia tăng hàng năm là hơn 25 m
3
/ha/năm) duy trì năng suất trên mỗi
đơn vị diện tích. Nó được trồng chủ yếu trên đất cao, có độ pH thấp và đôi khi có thể
bị ngập nước, trong khi đó Keo tai tượng có thể không phát triển tốt [12].
Acacia crassicarpa là một minh chứng tốt về tiềm năng phát triển nhanh
chóng của loài cây nhiệt đới. Nó đã thu hút sự đầu tư, nghiên cứu tại nhiều quốc
gia như: Úc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc, Tanzania.
Nhiều nghiên cứu đầu được thực hiện trong các dự án ACIAR. Công việc tiếp
theo đã được thực hiện dưới sự bảo trợ của Nhóm tư vấn nghiên cứu và phát
triển của cây Keo (COGREDA).
3
Tại Trung Quốc
Theo Pan Zhigang và đồng nghiệp Yingtian thì Acacia crassicarpa đã được
giới thiệu vào năm 1985 với các loài được trồng ở Trung Quốc. Sau 8 năm nghiên
cứu (1985 - 1993), Acacia crassicarpa cho thấy rằng nó là một cây họ đậu nhiệt
đới phát triển nhanh chóng. Ít sâu bệnh, dịch hại nghiêm trọng và là một loài cây
cung cấp giấy và bột gỗ. Acacia crassicarpa phân bố ở các vùng cận nhiệt đới,
nhiệt đới và phía Nam rộng lớn ở Trung Quốc, nơi nhiệt độ trung bình khoảng 21

4
nhất là 98% và chiều cao đo được là 8,7 m, tiếp theo là Keo lá liềm với tỷ lệ
sống 91% và chiều cao 8,0 m. Hiệu suất cuối cùng của loài cây trồng đã được
xác nhận trong các thí nghiệm độc cấp và trồng thí điểm [11].
Khả năng tăng trưởng nhanh chóng của những loài ngoại lai trong lần tái
trồng rừng đầu tiên trên các đồng cỏ đã cung cấp một cơ sở đáng tin cậy cho các
hoạt động tiếp theo. Có thể thấy rằng Keo lá liềm là loài cây có thể sinh trưởng
và phát triển tốt trên đồng cỏ ở Nam Kalimantan, và cần được ưu tiên nghiên
cứu thêm trong thời gian tới.
Tại Tanzania
Nghiên cứu này để so sánh hiệu suất của các loài Keo, loài/xuất xứ: Acacia
mangium, Acacia auriculiformis, Acacia crassicarpa và Acacia julifera được
tiến hành tại Kongowe, Kibaha, Tanzania. Loài/xuất xứ đánh giá về tỷ lệ sống,
sinh trưởng (đường kính, chiều cao và khối lượng), mật độ cơ bản và sinh khối
gỗ. Các thử nghiệm đã được tiến hành bằng cách sử dụng một khối hoàn toàn
ngẫu nhiên với ba lần lặp lại của 22 phương pháp nghiên cứu (loài/xuất xứ). Dữ
liệu của tỷ lệ sống, đường kính ngang ngực và chiều cao được thu thập ở độ tuổi
từ 2 đến 4 năm. Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể của tỷ lệ sống, chiều cao
và tăng trưởng đường kính giữa các loài/xuất xứ tại tất cả các lần đánh giá [10].
 Kết quả nghiên cứu
Chỉ tiêu đánh giá Loài
Đường kính lớn nhất
Acacia crassicarpa từ Bensbach, Papua New Guinea
(PNG), với đường kính là 13,9cm
Chiều cao lớn nhất
Acacia crassicarpa từ Bimadebum, PNG có chiều cao là 12,6m
Khối lượng sản xuất
và sinh khối
Acacia crassicarpa từ Bensbach, PNG, có khối lượng
cao nhất (58,7 m

Keo lá liềm (Acacia crassicarpa hay Racosperma crassicarpum (Acacia Cunn.
ex Benth.) Pedley.) là một cây bản địa Úc (Queensland), Indonesia và Papua New
Guinea. Ở nước ta vùng trồng Keo lá liềm nhiều nhất là vùng Bắc Trung Bộ,
Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ. Keo lá liềm thích hợp nơi có nhiệt độ trung bình
24 - 25
0
C, lượng mưa 1.500 - 2000 mm, độ cao dưới 400 - 500 m so với mực
nước biển, độ dốc dưới 20 - 25
0
. Là loài cây ưa đất có thành phần cơ giới trung
bình, thoát nước, chịu được đất chua, đất nghèo, đất cát, trồng tập trung và phân
tán đều được [21].
Trong vòng 20 năm (1980 - 2000) đã có trên 20 khảo nghiệm được triển
khai, trải dài suốt từ Bắc tới Nam, tại nhiều vùng sinh thái và trên nhiều dạng lập
địa khác nhau đã là cơ sở tốt để chọn được các loài và xuất xứ có triển vọng
trong toàn quốc và cho từng vùng. Hàng chục loài và gần 100 xuất xứ
Keo Acacia vùng thấp đã được quan tâm khảo nghiệm từ những năm 1980.
Trong số nhiều loài Keo được đưa vào khảo nghiệm thì 3 loài là Keo lá liềm,
Keo lá tràm và Keo tai tượng đã chứng tỏ có nhiều xuất xứ đáp ứng được yêu
cầu trồng rừng trên diện rộng do có khả năng sinh trưởng nhanh và khả năng
thích nghi cao [7].
6
Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh trưởng của các loài Bạch đàn: Eucalytus
camaldulensis, Eucalytus pellita và các loài Keo: Acacia crassicarpa, Acacia
aulacocarpa trồng thử nghiệm 3 năm tại trạm thực nghiệm Mang Yang, tỉnh Gia
Lai trên đất feralit rừng nghèo kiệt, việc bố trí trồng hỗn giao giữa Bạch đàn và
Keo vừa đáp ứng mục tiêu kinh tế vừa góp phần bảo vệ môi trường đất là
phương thức hợp lý, bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc trồng hỗn giao
theo hàng giữa 4 loài cây trong điều kiện đất rừng nghèo trong giai đoạn rừng
non đã thúc đẩy sinh trưởng tốt, nhất là chiều cao. Đất rừng Mang Yang cơ bản

(cm) H (m) V (dm
3
)
x
(%)
v
x
(%)
v
x
(%)
v
16602 Dimisisi PNG 21,4 17,4 19,7 11,0 390 1,6
16993 Deri-Deri PNG 21,4 16,5 19,6 9,8 389 1,6
17869 Morehead PNG 21,0 18,0 19,7 11,9 390 1,6
17552 Bensbach PNG 20,8 18,0 19,3 12,2 387 1,6
13682 Oriomo PNG 19,6 18,9 18,9 12,3 339 1,8
13680 Wemenever PNG 19,0 19,0 18,7 12,1 313 1,9
17561 Limal PNG 19,3 18,9 17,2 11,8 285 2,1
16598 Bimadebum PNG 19,2 18,9 17,6 12,0 292 2,0
17944 Claudie Qld 18,6 19,4 15,0 11,2 241 2,4
17849 Samlenberr Indo 17,6 19,2 18,0 12,0 256 2,3
16128
Jardine Qld
A. auri. ĐN VN
16,6
8,4
20,4
28,1
12,4

Theo tác giả Nguyễn Thị Liệu - Trung tâm Khoa học sản xuất Bắc Trung
Bộ: “Qua điều tra tập đoàn cây trồng rừng chủ yếu trên đất cát nội đồng vùng
duyên hải Bắc Trung Bộ đã xác định Keo lá liềm là loài cây trồng có triển vọng
nhất. Keo lá liềm có khả năng thích nghi rộng nhất, tỷ lệ sống cao, sinh trưởng
được trên điều kiện đất cát nội đồng, cây thường đơn thân, xanh tốt. Những
vùng đất cát nội đồng úng ngập cần phải lên líp cao mới sinh trưởng tốt. Nếu
không lên líp thì sinh trưởng rất kém, lá vàng” [5].
Đầu những năm 1980 bốn loài keo vùng thấp là Keo lá tràm (Acacia
auriculiformis), Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá liềm (Acacia
crassicarpa), và Keo nâu (Acacia alaucocarpa) đã được nhập trồng thử tại Ba Vì
(Hà Tây), Hóa Thượng (Thái Nguyên) và Trảng Bom (Đồng Nai). Đánh giá sơ bộ
năm 1991 đã thấy trong 4 loài keo được trồng thử năm 1982 tại Ba Vì và năm
1984 tại Hóa Thượng thì ba loài Keo có sinh trưởng nhanh là Keo tai tượng,
Keo lá liềm và Keo lá tram, trong đó Keo lá tràm là loài có sinh trưởng nhanh
trong năm đầu (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1991).
Trong các năm 1990 - 1991 thông qua các dự án UNDP một bộ giống 39
xuất xứ của 5 loài keo vùng thấp đã được khảo nghiệm nhằm tại Đá Chông (huyện
Ba Vì, tỉnh Hà Tây), Đông Hà (Quảng Trị) và Đại Lải (Vĩnh Phúc) [4].
Như vậy có thể thấy rằng, Keo lá liềm là loài cây mới được đưa vào trồng ở
nước ta vào đầu những năm 1980, là loài có sinh trưởng nhanh nhất trong các
loài Keo ở vùng thấp, đặc biệt là có thể sinh trường tốt trên mọi lập địa từ
Feralit, đất cát, phù sa.
9
 !!"#$%&"'!()#)*+,
Vùng cát ven biển ở tỉnh Thừa Thiên - Huế bao gồm các xã, thị trấn thuộc
5 huyện: Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc, với chiều
dài gần 50 km, rộng hàng chục nghìn ha. Những vùng này nhiều năm qua có
điều kiện môi trường biến động khá mạnh. Trong đó, hiện tượng sạt lở bờ biển
và cát bay, cát nhảy, hoang mạc hóa là những mối đe dọa thường xuyên, làm
cho vùng đất nơi đây vốn đã khốn khó, lại càng khốn khó hơn. Theo Chi cục

(Acacia auriculiforimis) và Keo lá liềm (Acacia crassicarpa). Kết quả cho thấy
sau 4,5 năm, đường kính và chiều cao của Keo lá liềm trồng trên líp tăng một
cách ý nghĩa so với không lên líp. Đường kính và chiều cao đạt tương ứng là 5
cm và 7,7 m, trong khi ở công thức đối chứng các chỉ tiêu này chỉ đạt 2,6 cm và
5,8 m. Đối với Keo lá tràm sự khác nhau rõ rệt chỉ xảy ra đối với đường kính.
Kích thước líp thích hợp cho Keo lá liềm là cao 0,2 m, rộng 4 m và cho Keo lá
tràm là 0,2 m chiều cao và 1,5 m chiều rộng (Nguyễn Thị Liệu, 2004). Năm 2001,
thí nghiệm về làm đất được tiến hành với Keo lá tràm. Sau 4 năm, chiều cao của
cây trong thí nghiệm đối chứng (không cày) tốt hơn rõ rệt so với cây trong công
thức làm đất bằng cách cày toàn diện. Nguyên nhân có thể trong công thức cày
toàn diện đất bị rửa trôi và xói mòn (Phạm Thế Dũng, 2005). Sự sai khác không
có ý nghĩa được ghi nhận đối với tăng trưởng đường kính thân cây và trữ lượng
lâm phần. Hiện tại, hầu hết đất trồng rừng thường được xử lý bằng cách đào hố sau
khi xử lý thực bì. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước hố tới sinh trưởng
của Keo còn ít [2].
Trồng rừng thí nghiệm năm 2000, diện tích 5 ha được tiến hành tại Triệu
Trạch - Triệu Long - Quảng Trị. Rừng trồng được 1 tuổi [5].
Thử nghiệm các biện pháp làm đất (10 công thức):
- CT1: Đối chứng: Không lên líp.
- CT2: Lên líp đơn (trồng 1 hàng) rộng 1,5m, rãnh líp 1,5m, cao 0,2m.
- CT3: Lên líp đơn (trồng 1 hàng) rộng 1,5m, rãnh líp 1,5m, cao 0,4m.
- CT4: Lên líp đôi (trồng 2 hàng) rộng 4,0m, rãnh líp 2,0m, cao 0,2m.
- CT5: Lên líp đôi (trồng 2 hàng) rộng 4,0m, rãnh líp 2,0m, cao 0,4m.
- CT6: Lên líp bốn (trồng 4 hàng) rộng 10m, rãnh líp 2,0m, cao 0,2m.
Phần đối chứng Keo lá tràm:
- CT7: Không lên líp
- CT8: Lên líp đơn (trồng 1 hàng) rộng 1,5m, rãnh líp 1,5m, cao 0,2m.
- CT9: Lên líp đôi (trồng 2 hàng) rộng 4,0m, rãnh líp 2,0m, cao 0,2m.
- CT10: Lên líp bốn (trồng 4 hàng) rộng 10m, rãnh líp 2,0m, cao 0,2m.
11

cây, Sinh khối bao gồm cả các vật thể được xác định ở trên và dưới mặt đất.
12
Sinh khối trên mặt đất là sinh khối sống trên mặt đất bao gồm: thân cây,
gốc cây, cành nhánh, vỏ, hạt và lá.
Sinh khối dưới mặt đất là tất cả sinh khối sống của rễ. Những rễ cây có
đường kính nhỏ hơn 2 mm (được khuyến nghị) bỏ qua bởi vì chúng thường rất
khó để phân với vật chất hữu cơ trong đất hoặc vật rơi dụng khác.
Sinh khối rừng
Sinh khối được định nghĩa là tổng lượng vật chất hữu cơ sống trên mặt đất
trong rừng, được tính bằng tấn khô trên một đơn vị diện tích (rừng, ha, vùng,
hoặc quốc gia).
Khối lượng thể tích gỗ
Tỷ lệ giữa khối lượng khô tuyệt đối và thể tích thân gỗ tươi không vỏ. Nó
cho phép tính toán sinh khối gỗ theo khối lượng vật chất khô. Khối lượng thể
tích gỗ thông thường được tính bằng gam/cm
3
hoặc tấn/m
3
[3].
2.2.4.2. Sơ lược về tỷ lệ sống
Tỷ lệ sống của rừng trồng còn là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh
giá sự thành công hay thất bại của công tác trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng
trên vùng đất cát ven biển. Hiện nay số loài cây lâm nghiệp tồn tại được trên
vùng cát trắng ven biển còn rất ít, lý do chủ yếu do tính chất khắc nghiệt của đất
cát và khí hậu vùng cát làm cho cây trồng không thể chịu đựng nỗi.
=8>/?@!%4A3&"
2.2.5.1. Khát quát các đặc điểm chung
Đặc điểm chung của đất cát ven biển là được hình thành trên các cấu trúc
uốn nếp cổ của dải Trường Sơn có tuổi Palêzôi (pz). Trong đó cấu trúc địa chất
của vùng duyên hải miền Trung thường có hai tầng: Tầng dưới là nền móng cổ

Phẫu diện
Đặc điểm
Nội đồng
trong rừng
Nội đồng
ngoài rừng
Ven viển
trong rừng
Ven biển
ngoài rừng
Màu sắc
0-30cm Trắng bạc Xám nhạt Trắng bạc Trắng bạc
30-60cm Trắng xám Xám Trắng bạc Xám nhạt
60-100cm Trắng xám Xám đậm Nâu nhạt
Xám đen
nhạt
Độ sâu bắt đầu có nước
(cm)
110 115 70 75
Tỉ lệ đá (0-100cm)
(%)
3,6 1,2 2,7 0,8
Khối lượng tươi rễ cám/m
2
(kg)
8,3 0 6,2 0
(Nguồn: Nguyễn Văn Lương, 2013) [6]
14
- Về màu sắc: Càng xuống sâu thì màu sắc càng đậm dần nhưng thay đổi
không đáng kể, từ trắng bạc đến trắng xám, xám nhạt ta có thể quan sát bằng

Trung bình 5,5
Ngoài rừng
0-30 5,4
30-60 5,8
60-100 6,6
Trung bình 5,9
(Nguồn: Nguyễn Văn Lương, 2013 )[6]
- Độ pH của 2 vùng đất cát ven biển và đất cát nội đồng ở trong và ngoài
rừng không chênh lệch nhau lớn.
15
- Có thể thấy pH của cả khu vực biến động từ 4,6 - 6,6 tương đương với đất
chua nhiều đến chua ít. Việc trồng cây đã cải thiện pH của cây không nhiều.
B+3/?@!45!
H Kết quả phân tích hàm lượng mùn (%) trong đất
Đơn vị: (%)
Địa điểm Vị trí phẫu diện Độ sâu lấy mẫu (cm) Hàm lượng mùn (%)
Nội đồng
Trong rừng
0-30 3,7
30-60 2,3
60-100 1,6
Trung bình 2,5
Ngoài rừng
0-30 1,7
30-60 1,1
60-100 0,8
Trung bình 1,2
Ven biển
Trong rừng
0-30 2,6

Trung bình 9,7
Ngoài đất trống
0-40 4,9
40-80 8,5
80-120 12,8
Trung bình 8,7
Rừng Keo lá
liềm ở ven
biển
Trong rừng
0-30 7,3
30-60 13,5
60-100 17,4
Trung bình 12,7
Ngoài đất trống
0-30 6,7
30-60 12,6
60-100 16,2
Trung bình 11,8
(Nguồn: Nguyễn Văn Lương, 2013)[6]
- Độ ẩm của đất cát dao động từ 4,9 - 17,4%, có sự thay đổi theo chiều tăng
lên. Cụ thể là ở vùng cát ven biển tăng lên 1%, vùng cát ven biển là 0,9%. Như
vậy, việc trồng Keo lá liềm đã làm tăng độ ẩm của đất.
- Theo bảng 2.7 cho thấy, độ ẩm tuyệt đối của vùng cát ven biển ở trong và
ngoài rừng đều cao hơn vùng cát nội đồng.
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
17

18
- Ảnh hưởng của các phương thức làm đất đến tỷ lệ sống và sinh khối của
một số dòng Keo lá liềm ở vùng cát ven biển.
- Ảnh hưởng của tuổi cây con đến tỷ lệ sống của Keo lá liềm.
- Ảnh hưởng của tuổi cây con đến khả năng tạo sinh khối của Keo lá liềm.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
-7)!L9<!5
- Thông qua niên giám thống kê hàng năm của khu vực về điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội.
- Thông qua các tài liệu có sẵn, số liệu từ các đơn vị thiết kế trồng rừng,
các chương trình, dự án đã và đang thực hiện, các số liệu của Sở, Ban, Ngành có
liên quan…
- Thông qua điều tra, thu thập số liệu từ hạt Kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn.
-79!M!M<:!!L9<>5
* Nguồn giống và kỹ thuật trồng rừng
- Nguồn giống
Các dòng Keo lá liềm được chọn thí nghiệm là các dòng cây trội, các cây
trội này được lựa chọn từ các tỉnh miền trung (Thanh Hóa cho đến Ninh Thuận,
trừ Đà Nẵng).
Chọn cây trội dự tuyển cây có kiểu hình đáp ứng sơ bộ của nhà chọn
giống, sau khi tiến hành đánh giá được kiến nghị để sản xuất và xây dựng
vườn giống và rừng giống. Đây là những cây có kiểu hình vượt trội về sinh
trưởng, hình dạng, về chất lượng gỗ đó là cây trội.
Sau khi xác định được cây trội tiến hành cắt cành, xử lý hom, tiến hành
giâm hom, sau đó chăm sóc giâm hom đúng kỹ thuật.
- Tiêu chuẩn chọn cây đem trồng
+ Đường kính cổ rể 0,25 - 0,30cm.
+ Chiều cao bình quân 25 - 30cm, cây đã hóa gỗ hoàn toàn, cây không bị
bệnh, bộ rễ phát triển tốt và có nấm cộng sinh, cây không bị cụt ngọn, không có

6
7
8
9
10
Tổng
--Bảng mẫu tỷ lệ sống của 10 dòng Keo lá liềm với 4 công thức
làm đất ở vùng cát nội đồng
Công thức
Cây
sống
Cây
chết
Tổng Tỷ lệ sống (%)
Cuốc hố
Lên líp đơn (1,5m) trồng 1 hàng
Cày đất + cuốc hố
Lên líp đôi (3,5m) trồng 2 hàng
Tổng
* Ảnh hưởng của các phương thức làm đất đến tỷ lệ sống của một số dòng
Keo lá liềm ở vùng cát ven biển.
- Tiến hành đo đếm số lượng cây sống, cây chết của 10 dòng Keo lá liềm ở
vùng cát ven biển.
- Tiến hành thống kê tỷ lệ sống của 10 dòng Keo lá liềm với 3 công thức
làm đất.
-7Bảng mẫu tỷ lệ sống của 10 dòng Keo lá liềm với 3 công thức làm đất
ở vùng cát ven biển
Công thức Cây sống Cây chết Tổng Tỷ lệ sống (%)
Không làm đất + cuốc hố
Cày đất + cuốc hố

- Tiến hành nghiên cứu lúc sáng sơm để có thể tránh đi sự mất nước ở các
mẫu thực vật.
- Đối với lá: Dùng cân chính xác và xác định khối lượng tươi của lá, cho lá
vào bao, ghi mã số của cây và dòng cây.
22
- Đối với thân: Dùng thước thẳng để đo chiều dài và dùng thước kẹp đo
đường kính gốc, tiến hành dùng cân chính xác và xác định khối lượng của thân
tươi. Cho thân vào bao, ghi mã cây và mã dòng.
- Đối với rễ: Dùng kéo tách rễ ra khỏi đất, dùng thước thẳng để đo chiều
dài và dung thước kẹp đo đường kính cổ rễ, tiến hành dùng cân chính xác và xác
định khối lượng của rễ tươi. Cho rễ vào bao, ghi mã cây và mã dòng.
- Nốt sần: Lấy nốt sần của cây từ rễ và trong đất, tiến hành dùng cân chính
xác và xác định khối lượng. Cho nốt sần bào bì, ghi mã cây và mã dòng.
Sau khi tiến hành cân tươi cây ta tiến hành sấy khô:
- Cho lá, thân, rễ, nốt sần vào sấy, tiến hành sấy trong 24h từ nhiệt độ tăng
dần (55
o
C, 75
o
C, 105
o
C).
- Sấy lần 1: Cho tất cả các mẫu vào các khay sắt rồi cho vào máy sấy. Sau
khi sấy lần 1, dùng cân chính xác để xác định khối lượng sau lần sấy 1, ghi số
liệu vào giấy.
- Sấy lần 2: Sau khi sấy lần 2, dùng cân chính xác để xác định khối lượng
sau lần sấy 2, nếu kết quả không đổi thì tiến hành nhập số liệu vào máy tính, nếu
kết quả thay đổi thì tiến thành sấy lần 3.
Tiếp tục sấy như vậy cho đến lúc các mẫu đều có khối lượng không đổi thì
ngừng sấy.

2
2
ji
ij
t
TbTa
TS
f
χ
f
ij
2

là giá trị bình phương của các số hạng từ cấp i đến j
23
f
ij
=
TS
TT
bjai
×
Nếu
2
t
χ

2
05
χ

f
12
f
1j
f
1b
f
21
f
12
f
2j
f
2b f
21
f
12
f
2j
f
2b

b
TS
Trong đó: f
ij
là tần số quan sát của mẫu i cấp chất lượng j.
Ta
j
là tổng tần số quan sát của mẫu thứ i.
Tb
j
là tổng tần số quan sát của cấp chất lượng j.
TS là tổng tần số quan sát của toàn thí nghiệm.
∑∑∑∑
= ===
===
a
i
b
j
ij
b
i
j
a
i
i
fTbTaTS
1 111
24
* Để đánh giá ảnh hưởng của các phương thức làm đất đến sinh khối Keo lá

a
i
Xij
1
Sj (B) là tổng trị số quan sát cấp j của nhân tố B
Sj(B) =

=
b
j
Xij
1
Xi (A) là trị số trung bình cấp i của nhân tố A
i (A) =
b
ASi )(
Xj (B) là trị số trung bình cấp j của nhân tố B
j(B)=
a
BSj )(
S là tổng trị số quan sát ngoài thí nghiệm
25

Trích đoạn Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status