MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ Ở TỈNH THÁI BÌNH - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề truyền thống ở nớc ta đ có từ lâu đời với nhiều làngã
nghề nổi tiếng trong và ngoài nớc. Cùng với các làng nghề truyền
thống các nghề mới, làng nghề mới cũng xuất hiện. Trong điều kiện
nền kinh tế nớc ta hiện nay các làng nghề có vị trí đặc biệt quan trọng
chúng là một bộ phận cơ bản của công nghệp nông thôn. Các làng
nghề có khả năng thu hút nhiều lao động góp phần tích cực vào việc
giải quyết tình trạng thất nghiệp tăng thu nhập cho ngời lao động
nhất là ở vùng nông thôn.
Thái Bình là một tỉnh thuần nông với 94% dân số sống ở nông
thôn là nơi có số lợng làng nghề tập trung đông, nhiều làng nghề
truyền thống nổi tiếng. Các làng nghề đ có những đóng góp đáng kểã
vào quá trình phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh. Tuy nhiên trong
những năm gần đây mặc dù Nhà nớc đ có những chính sách cho phépã
và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu t phát triển sản xuất
kinh doanh nhng các làng nghề vẫn gặp rất nhiều khó khăn một số
làng nghề bị mai một. Do đó cha tạo điều kiện để thu hút hết lực lợng
lao động cũng nh sử dụng hết khả năng tay nghề của ngời thợ nhằm
phát huy tối đa tiềm năng kinh tế vốn có của tỉnh.
Việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cũng
nh các làng nghề mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ về mặt
kinh tế mà về mặt ổn định chính trị x hội.ã
Để góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế x hội thực hiệnã
CNH HĐH mà cụ thể là phát triển các làng nghề ở Thái Bình, cần
phải nghiên cứu đa ra đợc những giải pháp hữu hiệu đó chính là yêu
cầu của đề tài "Một số giải pháp nhằm phục hồi và phát triển các làng
nghề ở tỉnh Thái Bình".
Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của việc phát triển các làng

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển các
làng nghề ở nông thôn.
I. Các khái niệm và đặc trng của làng nghề
1.Các khái niệm:
- Làng nghề
Lịch sử nông thôn việt nam gắn liền với các thôn làng và các
làng nghề chúng là đặc trng cho truyền thống kinh tế văn hoá của xã
hội thông thôn các làng nghề là cầu nối giữa công nghiệp và nông
nghiệp giữa nông thôn và thành thị giữa truyền thống và hiện tại là
nấc thang quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá ở nông thôn n-
ớc ta.
Nói đến làng nghề chúng ta cần chú ý 2 yếu tố cấu thành đó là
làng và nghề. Làng là một khu vực địa lý một không gian l nh thổã
nhất định ở đó tập hợp những ngời dân cùng sinh sống cùng sản xuất.
Các làng nghề gắn bó với các ngành nghề phi công nghiệp các ngành
nghề thủ công ở các thôn làng.
Để nhận dạng làng nghề ngời ta sử dụng hai tiêu chí sau:
+ Tỷ trọng số hộ làm nghề trong làng.
+ Tỷ trọng thu nhập từ nghề trong tổng thu nhập của làng.
Làng nghề là một khái niệm mang tính tơng đối nó phụ vào chủ tr-
ơng chính sách của từng địa phơng.
ở Thái Bình theo quy định tạm thời làng (x ) nghề là một khu vựcã
dân c ở nông thôn tập hợp từ 50% số hộ nông dân trở lên làm nghề CN
- TTCN dịch vụ thơng mại có sản phẩm hàng hoá khá lớn tiêu thụ ở
trong và ngoài nớc có thu nhập ít nhất chiếm 30% tổng thu nhập của
làng (x ).ã
Nói tới làng nghề ngời ta thờng chỉ chú ý đến làng nghề truyền
thống mà ít liên hệ đến làng nghề mới.
Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời

kinh doanh theo luật định.
Phân loại theo thành phần kinh tế cơ sở chuyên nghề đợc chia
thành 5 nhóm: Tổ hợp sản xuất, hợp tác x , doanh nghiệp tã nhân,
Công ty TNHH và xí nghiệp quốc doanh. Các cơ sở chuyên nghề hình
thành ngày càng nhiều với vai trò quan trọng trong phát triển ngành
nghề nông thôn.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đồng thời cùng với sự thăng trầm của làng nghề số lợng hộ, lao
động cũng có biến động rất mạnh mẽ với những nghề phát triển mạnh
số hộ, lao động làm nghề tăng nhanh và ngày càng có nhiều hộ
chuyên sống bàng nghề đó. Cũng có những nghề truyền thống bị mai
một số ngời làm nghề ngày càng giảm thậm chí chỉ còn một vài hộ làm
nghề cũ đa số các hộ chuyển sang làm nghề khác, nhng khi có điều
kiện thuận lợi để khôi phục và phát triển trở lại nghề cũ chắc chắn họ
sẽ tiếp tục làm và phát triển nghề truyền thống mà nhiều đời họ đ lã u
truyền và dìn giữ. Nh vậy không chỉ căn cứ vào số hộ lao động làm
nghề nhiều hay ít để xác định có phải là làng nghề truyền thống hay
không mà còn phải dựa vào thực tiễn lịch sử phát triển của địa phơng
đó để xem xét.
Ngoài ra ngời ta còn có khái niệm về làng một nghề và làng nhiều
nghề để chỉ số nghề tiểu thủ công nghiệp mà số làng này làm và
chúng có đóng góp đáng kể vào thu nhập của họ ngoài nghề nông.
2.Đặc trng của làng nghề:
Hầu hết các làng nghề tiêu thủ công nghiệp đòi hỏi vốn đầu t sản xuất
không lớn tạo ra đợc nhiều chỗ làm tại địa phơng.
Đây là một thuận lợi có bản để các ngành nghề phát triển trong điều
kiện còn nhiều khó khăn về vốn, về kiến thức sản xuất kinh doanh.
Các làng nghề truyền thống thờng có bí quyết gia truyền và có một vị
tổ nghề riêng. Trớc đây phơng thức truyền nghề chủ yếu là ở phạm vi

cạnh tranh ngày càng khốc liệt nếu phải xem xét để tìm ra đợc những
sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế của những nớc
đang phát triển nh Việt nam thì trên hết phải kể đến sản phẩm các
làng thủ công truyền thống.
II. Phân loại làng nghề
1. Phân theo lịch sử tồn tại và phát triển:
Theo tiêu chí trên ngời ta phân chia các làng nghề thành
làng nghề truyền thống và làng nghề mới.
Chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã
tạo ra một sức sống mới cho các làng nghề. Rất nhiều làng nghề trớc
đây bị mai một nay đ bắt đầu phát triển và lan rộng ra các nơi khác.ã
Theo số liệu thống kê cả nớc hiện có trên 1400 làng nghề trong đó
ĐBSH là nơi tập trung đông nhất tới trên 700 làng nghề với khoảng
200 làng nghề truyền thống thu hút gần 600.000 lao động.
Bảng 1: Làng nghề và lao động ĐBSH (1998)
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thái Bình
Tổng
số
Truyền
thống
Mới
Lao động
làm nghề
Thái Bình 82 14 68 88.505
Ninh Bình
(*)
161 20 141 87.221
Nam Định 90 29 61 52.132

Nhóm IV: Các làng nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống nh
nề, mộc rèn, hàn đúc làm cây bừa...
Việc phân loại nh trên chỉ mang tính tơng đối bởi lẽ một số
nghề có thể vừa thuộc nhóm này lại vừa thuộc nhóm khác. Một số
nghề đối với địa phơng cơ sở đợc coi là nghề truyền thống nhng trên
phạm vi vĩ mô thì có thể cha đợc coi là làng nghề truyền thống.
Ngoài ra để thuận tiện cho quản lý ngời ta còn thực hiện phân chia
làng nghề theo địa giới hành chính, tỉnh, huyện, x .ã
III. Vai trò của các làng nghề trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội của địa phơng.
1.Tính tất yếu của việc hình thành làng nghề ở nông thôn:
- Phát triển ngành nghề ở nông thôn là vấn đề mang tính lịch sử. Từ
xa xa khi sản xuất còn giản đơn, việc sản xuất và mua bán các sản
phẩm công nghiệp cha phát triển sản xuất nông nghiệp là chủ yếu và
thời điểm nông nhàn ngời nông dân tự sản xuất ra các đồ dùng sinh
hoạt chogia đình, bản thân. Khi lực lợng sản xuất phát triển hơn bắt
đầu có phân công lao động x hội sự trao đổi hàng hoá đ dần dần hìnhã ã
thành nên các làng nghề để trao đổi sản phẩm cho nhau. Những hoạt
động đó dần dần đợc đúc kết lại lu truyền qua các thế hệ và trở thành
các ngành nghề truyền thống ở nông thôn. Cùng với những kỹ thuật
truyền thống và nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phơng các ngành
nghề phát triển mạnh và có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động
kinh tế x hội ở địa phã ơng đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
Nớc ta là một nớc nông nghiệp có đến 80% dân số ở nông thôn, một
đặc điểm lớn của nghề nông là tính thời vụ và thu nhập thấp. Hàng
năm ngời nông dân sau những mùa cấy gặt vất vả là lúc nông nhàn.
Diện tích đất bình quân đầu ngời ngày càng thấp đ khiến cho tìnhã
trạng thất nghiệp trở nên trầm trọng. Hơn nữa lao động nông nghiệp
chủ yếu là lao động chân tay không kỹ năng lao động, không có tay
nghề, chính vì thế để tạo việc làm cho lực lợng này không gì hơn là

chỗ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn. Thực tế cho thấy ở những làng nghề đ đã ợc khôi phục và phát
triển không chỉ lực lợng lao động trong từng hộ gia đình của điạ ph-
ơng đợc toàn dụng mà có khi còn giải quyết đợc việc làm cho nhiều lao
động ở nơi khác đến. Đáng chú ý là làng gốm sứ bát tràng hàng ngày
thu hút thêm từ 3000-5000 lao động từ nơi khác đến làm thuê. Làng
mộc mỹ nghệ cao cấp Đồng ky có 1550 hộ sản xuất với trên 3000 lao
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
động ngoài ra còn thuê thêm hơn 1500 lao động từ các làng khác.
Làng nghề chiếu cói, kim sơn đ sử dụng một lã ợng lớn lao động trong
đó có 2000 lao động sản xuất nguyên liệu và 9679 lao động sản xuất
các mặt hàng cói. Làng nghề dệt Vạn Phúc (Hà tây) có 1650 lao động
nghề chiếm 72,3% lực lợng lao động của làng.... Nhờ có công ăn việc
làm ổn định nên thu nhập của những làng nghề cao hơn hẳn các làng
không nghề khác. Tuy nhiên, tuỳ theo từng loại nghề và mức độ phát
triển của từng loại nghề mà mức thu nhập giữa chúng có sự chênh
lệch đáng kể.
Bảng 2: Thu nhập bình quân lao động / tháng ở 1 số làng nghề.
STT Ngành nghề Thu nhập bình quân
1 Lao động làng gốm (Bát tràng) 430.000đ
2 Thợ điêu khác gỗ (Hà Tây) 800.000đ
3 Thợ chạm bạc (Đông Xâm-Thái Bình) 200.000đ
4 Thợ dệt đũi (Nam Cao Thái Bình) 180.000đ
Nguồn : kết quả điều tra ngành nghề nông thôn 1997
Các làng nghề góp phần đáng kể vào sự gia tăng giá trị sản
phẩm của các địa phơng, cơ cấu kinh tế có bớc chuyển đổi rõ rệt.
Năm 1995 tổng doanh thu từ nghề gỗ mỹ nghệ của làng Đồng kỵ đạt
25 tỷ, thu từ sản phẩm thêu Minh L ng (Vũ thã - Thái Bình) đạt trên 4
tỷ đồng.

tìm hiểu ở một số làng nghề chúng tôi thấy ở đây không chỉ đời sống
của đồng bào đợc nâng cao, cơ sở vật chất tốt hơn mà điều kiện chính
trị x hội cũng rất ổn định, đây chính là cơ sở cho sự phát triển của địaã
phơng của tỉnh và cả nớc.
Ngoài những tác động tích cực đến nông nghiệp nông thôn chúng ta
cũng không thể không xem xét các ảnh hởng xấu về môi trờng đề có
những hớng giải quyết trong các chơng trình phát triển, bảo đảm cho
sự phát triển bền vững.
IV IV. Các nhân tố ảnh hởng tới sự phát triển của làng nghề.
1. Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý:
- Điều kiện tự nhiên có ảnh hởng trực tiếp đến việc sản xuất và
tiêu thụ các sản phẩm sản xuất do đó nó ảnh hởng lớn đến việc phát
triển các ngành nghề. Mỗi vùng với điều kiện khí hậu thời tiết đặc tr-
ng tạo nên những nguồn nguyên liệu cho các làng nghề khác nhau,
hầu hết các sản phẩm thủ công truyền thống đều nhằm phục vụ đời
sống của ngời dân mà mỗi nơi ngời dân có những nhu cầu khác nhau
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cho phép phát triển những ngành nghề khác nhau VD: vùng ĐBSH có
khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Nó ảnh
hởng trực tiếp đến ngành may mặc, ngành dệt len, chế biến lơng thực
và một số ngành khác ngoài ra nó còn ảnh hởng tới việc vận chuyển
bảo quản phơi sấy, đi lại, giao dịch buôn bán. Đất đai cũng là nhân
tố ảnh hởng tới sự phát triển của làng nghề nhất là việc thành lập các
cơ sỏ ngành nghề , các cụm công nghiệp tập trung ở nông thôn
- Vị trí địa lý là một yếu tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định
đến sự hình thành và phát triển và đảm bảo sự , phát triển lâu dài đối
với các ngành nghề đặc biệt là các ngành nghề truyền thống.
Thực tế cho thấy các làng nghề thờng ở vị trí thuận trên về giao
thông thuỷ bộ, gần nguồn nguyên liệu. ở những nơi lu vực Sông Hồng,

thì làng nghề cũng tăng cả về quy mô và số lợng và ngợc lại thu nhập
càng tăng thì cần tăng tổ chức tiêu thụ sản phẩm.
Trong những năm vừa qua ngành tiểu thủ công nghiệp có nhiều biến
động thăng trầm thị trờng cũng có nhiều thay đổi nhất là sau sự sụp
đổ của hệ thống XHCN nhng cho đến ngày nay cùng với sự cải tiến về
mẫu m chất lã ợng sản phẩm đặc biệt là chủ trơng mở rộng quan hệ
ngoại giao của Đảng và Nhà nớc ta đ tạo đà cho ngành tiểu thủ côngã
nghiệp có bớc phát triển đáng kể. Tuy nhiên, một số mặt hàng tiêu
dùng trong nớc trớc đây do ngành nghề thủ công sản xuất và cung cấp
song nay do công nghiệp phát triển đ tạo ra những sản phẩm có chấtã
lợng cao hơn phù hợp với nhu cầu ngời dân khiến nhiều làng nghề thủ
công nghiệp đ phải thu hẹp dần quy mô sản xuất hoặc chuyển sangã
làm nghề khác VD: làm nón, quạt và một số nghề đan lát....
- Trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề.
Cần phải khẳng định rằng vai trò của nghệ nhân đối với nghề và
làng nghề thủ công truyền thống là rất lớn. Không có nghệ nhân thì
không có làng nghề hay ít nhất cũng không thể có làng nghề lừng
danh. Chính tài năng của các nghệ nhân với đôi "bàn tay vàng" của họ
đ tạo nên những sản phẩm quý giá, tinh xảo và độc đáo những sảnã
phẩm văn hoá sống m i với thời gian, góp phần làm vẻ vang cho dânã
tộc và cho mỗi làng nghề. Chính nghệ nhân, thợ cả đ giữ cho làngã
nghề tồn tại đ đào tạo ra những nhóm thợ mà trã ớc hết là con cháu
của họ, những ngời trong gia đình, dòng tộc rồi đến con em trong làng
thuộc các dòng họ khác. Kiên trì truyền dạy nghề hết ngày này qua
ngàykhác theo lối "cầm tay chỉ việc", "vừa học vừa làm" các nghệ nhân
đ tạo ra một đội ngũ thợ lành nghề ngay tại làng xóm mình. Cứ nhã
thế thợ thủ công kế tiếp, đan xen nhau lớp này đến lớp khác đời sau
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nối tiếp đời trớc. Do đặc trng sản xuất thủ công cả gia đình từ ông bà,

phát triển sản xuất và giải quyết việc làm nh vốn từ Quỹ quốc gia giải
quyết việc làm, vốn cho địa phơng thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, vốn xoá đói giảm nghèo. Nhng số lợng và tỷ lệ các hộ đợc vay vốn
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong các làng nghề còn ít ỏi trong khi nhu cầu vay vốn là rất lớn đã
ảnh hởng không nhỏ đến việc phát triển chỗ làm việc mới nh đầu t
theo chiều sâu của các doanh nghiệp trong các làng nghề.
Thực tiễn trong một số nghề cho thấy nếu đáp ứng đợc nhu cầu về
vốn và có chính sách hỗ trợ hơn nữa đối với ngời sản xuất thì chắc
chắn sẽ phát triển mạnh đợc sản xuất, giải quyết tốt đợc công ăn việc
làm cho ngời lao động của các địa phơng và cơ sở.
3. Điều kiện xã hội.
- Sự phân bố và tập trung số lợng làng nghề nhiều ở vùng ĐBSH
cho thấy một độ dân số cao là một trong những điều kiện cho việc ra
đời các ngành nghề bởi nhu cầu việc làm. Do dân số quá đông diện
tích đất đai để sản xuất lại ít dẫn đến vấn đề giải quyết tình trạng
thất nghiệp điều đó thúc đẩy việc hoàn thành và phát triển các làng
nghề.
- Trình độ dân trí và tay nghề của ngời lao động: Một địa phơng có
trình độ phát triển cao sẽ có các nội lực mạnh nh vốn: khoa học công
nghệ, trình độ quản lý....đó là những yếu tố quyết định sự lớn mạnh
của các làng nghề trong kinh tế thị trờng ngày nay. Trình độ dân trí
sẽ ảnh hởng tới sự nhận thức, tiếp thu mỹ thuật của các ngành nghề,
ảnh hởng đến việc quản lý phục hng, tái chế và phát triển các làng
nghề, ngành nghề.
- Chính sách và pháp luật của Nhà nớc.
Để đảm bảo phát triển nghề này sinh nhiều làng nghề mới đã
đào tạo đợc nhiều thợ trẻ trong cả nớc cũng nh đảm bảo cho các làng
nghề phát triển bền vững nhất thiết phải có hệ thống chính sách và

phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, van hoá và x hội phát triểnã
theo hớng CNH, HĐH trên phạm vi cả nớc.
4. Các nhân tố khác.
Ngoài các nhân tố trên còn có nhiều nhân tố khác cũng ảnh hởng
tới sự phát triển của các làng nghề nh hơng ớc, quy chế của.....
Trong hàu hết các hàng thủ công lâu đời nổi tiếng ở nớc ta đều có quy
chế về nghề thủ công hoặc thành văn bản hoặc không thậm chí ở mỗi
phờng nghề tỏng cùng một nghề ở cùng một làng cũng có quy chế
tiêng dới dạng "lời thề", "lời nguyền".
Trớc kia ở các làng, các x điển hình là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ,ã
hơng ớc và quy chế đợc là những văn bản pháp lý chúng đợc mặc
nhiên thừa nhận và tồn tại song song với hệ thống pháp luật của Nhà
nớc phong kiên trung ơng.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong bối cảnh lịch sử đó các phờng nghề, hội nghề gia tộc làm
nghề thủ công cũng soạn ra các văn bản về nghề nghiệp gọi là "lời
thề", "lời nguyền"....Những quy chế này đợc truyền từ đời này sang đời
khác bắt buộc các thành viên trong gia độc, trong phờng hội nhất nhất
tuân theo thực hiện 1 cách khá nghiêm ngặt.
Những quy định trong làng nghề phờng nghề tộc nghề...là những biện
pháp giữ bí mật và bí quyết nghề nghiệp của những ngời thợ ở các
làng nghề thủ công cổ truyền. Điều đó các tác dụng tích cực đối với
việc duy trì lâu dài hoạt động sản xuất của mỗi làng nghề. Nhng
chính sự tuyệt đối bí mật mang tính độc quyền đ làm kìm h m sựã ã
phát triển nghề nghiệp trong phạm vi cả nớc.
Chỉ sau này khi các trờng dạy nghề mở ra các khoá học thực hành
ngắn hạn, dài hạn đ tạo nên những thợ trẻ cho nhiều tỉnh, thành phốã
thì tình hình hạn chế nói trên có thay đổi tích cực hơn.
IV. Kinh nghiệm phát triển tiểu thủ công nghiệp ở một số nớc

nghiệp chính phủ liên bang phụ trách, trực thuộc là một mạng lới các
Viện dịch vụ gọi tắt là SISO, lúc đầu có 4 Viện sau thành lập 16 Viện
trong 16 bang.
Đến năm 1960 chơng trình đ xây dựng đã ợc 36.457 cơ sở tiểu công
nghiệp, sử dụng 1.337.000 ngời ( chiếm 38% công nhân công nghiệp:
17% vốn cố định, 26% giá trị tăng thêm trong công nghiệp). Ngoài ra
toàn liên bang còn 4,2 triệu ngời làm tiểu côg nghiệp không đăng ký .
Cũng trong thời gian đó Chính phủ quyết định thành lập Viện phổ
biến và đào tạo tiểu công nghiệp, lấy tên là SIET
Sự nỗ lực về nhiều mặt đ đã a nền tiểu công nghiệp lên vị trí chiến lợc
đối với nền kinh tế quốc dân và Chính phủ ấn độ đ xây dựng đã ợc một
hệ thống tổ chức chuyên ngành có khả năng phát triển tiểu công
nghiệp vững chắc lâu dài trên phạm vi cả nớc
3. Kinh nghiệm của Đài loan
Đài loan đ có chủ trã ơng ngay từ đầu là xây dựng các xí nghiệp công
nghiệp nhẹ bố trí phân tán ở các huyện lỵ , thị trấn rải rác ở các vùng
nông thôn gần địa bàn nguyên liệu. Sự hình thành và phát triển các
xí nghiệp vữa và nhỏ phân tán ở nông thôn là một đặc trng của công
nghiệp hoá nói chung và công nghiệp hoá nông thôn nói riêng ở Đài
loan. Côg nghiệp phân hoá ở nông thôn đ thu hút đã ợc lao động d thừa
làm cho nhiều hộ từ thuần nông trở thành vừa làm nông nghiệp vừa
làm công nghiệp, dịch vụ. ở Đài loan công nghiệp nông thôn bao gồm
các ngành nghề trung, tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề cổ truyền,
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các xí nghiệp gia đình sản xuất chế biến lơng thực thực phẩm theo
công nghệ cổ truyền và các mặt hàngh thủ công mỹ nghệ phục vụ du
lịch và xuất khẩu, các xí nghiệp vệ tinh liên doanh với các xí nghiệp
lớn ở đô thị. Sự phát triển của công nghiệp nông thôn đ cho phép Đàiã
loan nhanh chóng thực hiện đợc mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghề mới với công nghệ thủ công nửa cơ khi và cỏ khí hoá. Công
nghiệp nông thôn bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau
- Về hình thức và quy mô cơ sở, xí nghiệp công nghiệp nông thôn ở
mỗi nớc cũng rất khác nhau. Tổ chức cơ sở công nghiệp nông thôn có
các xí nghiệp gia đình của từng hộ riêng rẽ hoặc một số hộ đứng ra
tập hợp các hộ nông dân trong xóm làm gia công theo hợp đồng xí
nghiệp, hợp tác x .Các ngành nghề cổ truyền chủ yếu dựa vào laoã
động thủ công, công nghệ thô sơ. Nhng cũng có những ngành nghề
thủ công mỹ nghệ cần tay nghề điêu luyện và sáng tạo của những
nghệ nhân cao tay nghề cao. Để tăng năng suất các cơ sở ngành nghề
đ từng bã ớc áp dụng máy móc vào thay thế sức lao động của con ngời
- Các nớc đ đánh giá đúng vị trí chiến lã ợc của tiểu thủ công nghiệp
trong phát triển kinh tế và giải quyết việc làm cho lao động x hội, từã
đó xây dựng đợc chơng trình phát triển toàn diện và tổ chức hệ thống
quản lý toàn ngành có hiệu lực
- Các nớc này đ rất coi trọng đầu tã chất xám cho (đào tạo cố vấn, cán
bộ quản lý, xây dựng các dịch vụ cố vấn, phát triển các Viện nghiên
cứu ngành nghề ): đầu t vốn thích đáng cho phát triển ngành nghề ở
nông thôn
- Một điều cần chú ý là nhà nớc có vai trò cực kỳ quan trọng đối với
phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp nông thôn bằng việc đề
ra một hệ thống đồng bộ các chính sách có tác dụng khuyến khích từ
nghiên cứu, dịch vụ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm nhằm đảm bảo
cho tiểu thủ công nghiệp phát triển
- Phát huy tốt hiệu lực các văn bản pháp luật để bảo hộ và bảo vệ
sản xuất tiểu công nghiệp
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đ đạt đã ợc trong quá trình
phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp nông thôn của các nớc
cũng bộc lộ những tồn tại đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu nh:

hình bằng phẳng nhất so với cả nớc có hệ thống giao thông khá hoàn
thiện làm cơ sở cho phát triển kinh tế - x hội nói chung và làng nghềã
nói riêng.
- Do nhiều thuận lời về điều kiện tự nhiên nên nguồn nguyên liệu
cho các nghề mây tre đan chế biến lơng thực thực phẩm dồi dào đây là
một nghề trớc đây khá phổ biến ở Thái Bình.
2. Trình độ phát triển kinh tế:
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp mặc dù có trình độ thâm canh lúa
nớc khá cao song vẫn là một nền kinh tế trì trệ lạc hậu, trong cơ cấu
GDP nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ yếu.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng 4: Tỷ trọng các ngành trong GDP toàn tỉnh (%)
Cơ cấu GDP (gía hiện hành) 1990 1995 1999
Nông nghiệp 76,44 61,7 54,42
Công nghiệp 8,87 13 12,07
Dịch vụ 14,69 25,31 31,52
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái bình
Công nghiệp chiếm tỷ trọng quá nhỏ bé đây là một khó khăn đối với
việc phát triển ngành nghề ở nông thôn. ở các nớc công nghiệp phát
triển thì các cơ sở ngành nghề nông thôn tồn tại với t cách nh là
những vệ tinh cho công nghiệp đô thị.
Thu nhập bình quân của toàn tỉnh còn quá thấp công nghiệp phát
triển chậm, các dự án đầu t nớc ngoài hầu nh không đáng kể, nguồn
thu chủ yếu của tỉnh hiện nay vẫn dựa vào nông nghiệp
Bảng 5: Thu nhập bình quân lao động/tháng
ĐV:1000 đ
19994 19995 19996
Thu nhậpbình quân chung 162 187 217
Thu nhập bình quân thành thị 205 237 280

Cấp III: 20,52%
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Không bằng cấp chiếm: 79,83%
Sơ cấp chiếm: 3,30%
Công nhân kỹ thuật: 9,01%
Trung cấp: 4,73%
Cao Đẳng và Đại học: 3,02%
Trên đại học: 0,11%
Với những số liệu trên cho thấy lực lợng lao động Thái Bình tuy đông
đảo về số lợng song chất lợng còn hạn chế. Mặc dù trong những năm
gần đây công tác đầu t cho giáo dục đ đặc biệt đã ợc quan tâm nhng tỷ
lệ ngời học hết trung học phổ thông vẫn còn ít, đội ngũ công nhân kỹ
thuật thiếu trầm trọng đây sẽ là một khó khăn cơ bản trên con đờng
CNH HĐH.
Trong quá trình phát triển tất yếu phải đi lên một x hội côngã
nghiệp để đi từ nông nghiệp lên công nghiệp đối với nớc ta có những
bớc dịch chuyển dần lao động từ nông nghiệp - công nghiệp mà một
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong những bớc trung gian quan trọng đó là phát triển công nghiệp
nông thôn.
II. Thực trạng về phát triển các làng nghề:
1. Lợc sử quá trình hình thành và phát triển.
Cho tới ngày nay các làng nghề ở Thái Bình đ trải qua nhiềuã
giai đoạn phát triển một số làng nghề đ có hàng trăm năm tồn tạiã
nh chạm bạc Đông Xâm (trên 300 năm) dệt Nam Cao, mây tre đan
Thợng Hiền....
Làng nghề trạm bạc Đồng Xâm hiện thờ vị tổ nghề Nguyễn Kim
Lâu, ông vốn làm nghề vàng bạc ở Cao Bằng, khoảng năm 1689 ông
tới xứ Đông Xâm và lập ra 12 phờng để truyền nghề. Buổi đầu là nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status