IV
Danh muc từ viết tắt 1
Danh mục bảng 2
Danh mục hình 3
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
1.1. TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH 9
1.1.1. Các khái niệm 9
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa hình 12
1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu tài nguyên địa hình phục vụ phát triển
kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo. 18
1.2. SINH KẾ BỀN VỮNG 21
1.2.1. Khái niệm sinh kế bền vững 21
1.2.2. Tính bền vững của sinh kế 22
1.2.3. Tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế 23
1.2.3.1. Khung sinh kế bền vững 24
1.2.3.2. Một số khung sinh kế bền vững tiêu biểu 25
1.3. NGHIÊN CỨU SINH KẾ BỀN VỮNG GĂN VỚI BẢO TỒN THIÊN
NHIÊN 28
1.4. CÁC QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
1.4.1. Các quan điểm nghiên cứu 29
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu 30
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH VÀ THỰC TRẠNG SINH
KẾ CỘNG ĐỒNG KHU VỰC VỊNH BÁI TỬ LONG 33
2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỊA HÌNH KHU VỰC VỊNH BÁI TỬ
LONG 33
2.1.1. Nhóm các nhân tố tự nhiên 33
2.1.1.1. Đặc điểm thạch học và kiến tạo 33
2.1.1.2. Đặc điểm khí hậu 38
2.1.1.3. Đặc điểm thủy văn – hải văn 41
3.2. XÁC LẬP CÁC TIÊU CHÍ SINH KẾ BỀN VỮNG CHO CỘNG ĐỒNG ĐỊA
PHƯƠNG KHU VỰC VỊNH BÁI TỬ LONG 82
3.2.1 Bền vững về kinh tế 83
3.2.2. Bền vững về xã hội 84
3.2.3. Bền vững về môi trường 85
3.2.4. Bền vững về thể chế. 86
3.2.5. Đảm bảo quốc phòng an ninh 86
3.3. ĐỀ XUẤT CÁC ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP TẠO SINH KẾ BỀN VỮNG
NHẰM BẢO TỒN TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH Ở VỊNH BÁI TỬ LONG 87
3.3.1. Định hướng phát triển du lịch của huyện Vân Đồn đến năm 2020 tầm
nhìn đến năm 2030. 87
VI
3.3.2. Đề xuất các đinh hướng giải pháp tạo sinh kế bền vững nhằm bảo tồn
tài nguyên địa hình ở vịnh Bái Tử Long 89
KÊT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 1 100
1 Danh muc từ viết tắt
DFID
Cơ quan phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
(The Department for International Development)
GIS
Hệ thống Thông tin Địa lý
(Geographical Information System)
IMM
Hình 2. Ranh giới vịnh Bái Tử Long 7
Hình 3. Mối quan hệ giữa nguyên liệu, tài sản và tài nguyên địa mạo 10
Hình 4. Khung sinh kế bền vững của DFID 26
Hình 5. Khung sinh kế bền vững vùng ven biển của IMM 27
Hình 6. Bản đồ địa chất vịnh Bái Tử Long 34
Hình 7. Bề mặt sườn vách đá vôi bị rửa lũa tại khu vực vịnh Bái Tử Long. 41
Hình 8. Hang hàm ếch biển 42
Hình 9. Hang Quan, một hang động Karst ở khu vực nghiên cứu 42
Hình 10-11. Các hoạt động sinh kế tại khu vực 47
Hình 12. Bản đồ tài nguyên địa hình vịnh Bái Tử Long 48
Hình 13. Bãi Dài 52
Hình 14. Bãi Dài 52
Hình 15. Bãi Quan Lạn 52
Hình 16. Bãi Quan Lạn 52
Hình 17. Bãi Minh Châu 53
Hình 18. Bãi Minh Châu 53
Hình 19. Bãi Ngọc Vừng 53
Hình 20. Bãi Ngọc Vừng 53
Hình 21. Hang Quan 55
Hình 22. Hang Quan 55
Hình 23. Vị trí địa lý Hang Nhà Trò 55
Hình 24. Cảnh trong Hang Nhà Trò 55
Hình 25. Một góc cảnh ở đảo Trà Bản 57
Hình 26. Cảnh đẹp ở đảo Trà Bản 57
Hình 27. Bên ngoài Áng Tùng Con 57
Hình 28. Áng Tùng Con 57
Hình 29-30. Bãi triều nhỏ trên đảo Trà Bản 58
4
Hình 31. Biểu đồ tỷ lệ số phiếu phỏng vấn trên xã 63
bằng việc bẻ thạch nhũ hay viết vẽ lên thành hang. Hay việc, người dân địa phương
tự ý phá hủy các cảnh quan karst để lấy đá vôi hay làm hòn non bộ,…Ngoài ra, điều
kiện cấu tạo của các đảo trong vịnh gây ra rất nhiều hạn chế với những sinh kế quen
thuộc với người dân như: trồng trọt và chăn nuôi. Điều này gây ra rất nhiều khó khăn
cho cuộc sống của người dân trong khu vực. Vì vậy, càng buộc người dân khai thác
các nguồn tài nguyên khác nhiều hơn.
Ngoài việc phải chịu những tác động tiêu cực từ những hoạt động sinh kế của
con người, tài nguyên cảnh quan - địa hình của vịnh Bái Tử Long cũng đang bị phải
chịu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Những tác động này thể hiện qua
hai mặt: Trực tiếp, những tác động từ những thay đổi của khí hậu đến tài nguyền như
axit hóa nước biển, mưa axit, bão,…; Gián tiếp, biến đổi khí hậu tác động đến đời
sống của cộng đồng tại địa phương gây ra những khó khăn cho cuộc sống của người
dân. Từ đó, buộc cộng đồng phải khai thác nhiều hơn tài nguyên thiên nhiên nói chung
và tài nguyên địa hình nói riêng. Điều này lại gây ra tác động tiêu cực vào tài nguyên
này.
Với những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất định
hướng sinh kế bền vững gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị của tài nguyên
địa hình ở Vịnh Bái Tử Long” làm luận văn tốt nghiệp của mình, nhằm làm sáng tỏ
6
thực trạng và giá trị của tài nguyên địa hình và đề xuất định hướng các loại hình sinh
kế bền vững phù hợp với điều kiện của khu vực nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát huy
các giá trị đốc đáo của loại tài nguyên này ở vịnh Bái Tử Long.
Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Toàn bộ khu vực vịnh Bái Tử Long
Vịnh Bái Tử Long là một phần của Vịnh Hạ Long bao gồm vùng biển phụ cận
của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và huyện Vân Đồn, nằm trong tọa độ địa lý
107
o
13’ – 107
Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu
Nội dung:
- Tổng quan cơ sở lý luận về nghiên cứu tài nguyên địa hình và sinh kế bền
vững.
- Phân tích đánh giá, làm rõ các giá trị của tài nguyên địa hình, làm rõ mối quan
hệ giữa tài nguyên địa hình với sinh kế của người dân và tài nguyên địa hình
với sự phát triển của khu vực.
- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sinh kế của người dân trong khu vực.
- Xác lập các tiêu trí sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương.
- Đề xuất các định hướng giải pháp tạo sinh kế bền vững nhằm bảo tồn tài
nguyên địa hình ở vịnh Bái Tử Long.
8
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu và thực hiện tốt các nội dung trên, luận văn có các nhiệm
vụ chính sau đây:
- Thu thập, phân tích và đánh giá các tài liệu đã được công bố có liên quan đến
nội dung nghiên cứu của luận văn.
- Tiến hành điều tra thực địa, khảo sát nằm bổ sung các phân tích về tài nguyên
địa hình của khu vực cũng như các phân tích về hoạt động sinh kế tại đây.
- Lập bản đồ tài nguyên địa hình của khu vực.
- Xây dựng sơ đồ định hướng phát triển cho tài nguyên địa hình.
- Tổng hợp tài liệu và viết báo cáo
Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được cấu trúc
thành 03 chương. Trong đó:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đánh giá tài nguyên địa hình và thực trạng sinh kế của cộng đồng khu vực
vịnh Bái Tử Long
Chương 3: Nghiên cứu đề xuất định hướng sinh kế bền vững nhằm bảo tồn và phát
Đối tượng nghiên cứu của khoa học địa mạo là địa hình và thành phần vật chất
tạo nên chúng. Do đó, địa hình được xem là có cấu trúc khối chứ không phải là mặt
phẳng. Địa hình là một trong những hợp phần quan trọng nhất của môi trường địa lý
và được nghiên cứu trong mối tác động tương hỗ lẫn nhau và ảnh hưởng lẫn nhau của
các yếu tố như nước trên mặt đất, nước ngầm, thổ nhưỡng, thực vật và thế giới động
vật (trong đó có cả con người).
10
Tài nguyên địa mạo
Theo Panizza, địa hình và các quá trình địa mạo được đánh giá là tài nguyên
thông qua 4 chỉ tiêu: khoa học, văn hóa, kinh tế-xã hội và phong cảnh. Trong đó, chỉ
tiêu khoa học phải đảm bảo được 4 đặc trưng là: 1- là mô hình tiến hóa địa mạo; 2-
là một thực thể được sử dụng cho các mục đích giáo dục và đạo tào; 3- là một ví dụ
về cổ địa mạo và 4- là trụ cột của hệ sinh thái [32].
Theo Panizza, để ứng dụng tốt cho các vấn đề môi trường thì địa mạo được
chia thành 2 hướng: tài nguyên địa mạo và tai biến địa mạo [32].
“Tài nguyên địa mạo bao gồm các nguyên liệu thô (liên quan tới các quá trình
địa mạo) và địa hình – cả hai loại có ích cho con người lẫn loại có thể trở nên có ích
phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội và công nghệ”. Chẳng hạn, một bãi biển có
thể thu được giá trị và được xem là tài nguyên địa mạo khi được sử dụng cho các khu
nghỉ dưỡng ven biển [32].
Cũng theo tác giả trên, địa hình và các quá trình địa mạo đều được coi là tài
sản nếu chúng có giá trị. Từ những giá trị này, nếu được sử dụng thì chúng sẽ trở
thành tài nguyên thiên nhiên. Các thuộc tính mà có thể cho giá trị đối với tài sản, rồi
trở thành tài nguyên địa mạo bao gồm: khoa học, văn hóa, kinh tế - xã hội và phong
cảnh.
Hình 3. Mối quan hệ giữa nguyên liệu, tài sản và tài nguyên địa mạo [32]
Di chỉ địa mạo
(2003), De Waele và đồng nghiệp (2004), Piccini và đồng nghiệp (2005), Hoblea
(2009), Dowling và Newsome (2006, 2008) – những người đã xác định các quan
niệm, phát triển được các phương pháp đánh giá. Và năm 2001 – Hội địa mạo Quốc
tế thành lập nhóm nghiên cứu di chỉ địa mạo do Reynard đứng đầu.
Panizza cũng đã đưa ra định nghĩa về di chỉ địa mạo như sau: “Di chỉ địa mạo
bao gồm các thành tạo địa hình và quá trình phát sinh sự đa dạng địa hình nào đó có
như đặc điểm tạo nên một điểm đến du lịch. Di chỉ địa mạo mang các giá trị khoa
học, văn hóa/lịch sử, thẩm mỹ và/hoặc khinh tế do nhân thức hoặc khai thác của con
người” [32].
Các nhà khoa học đã phân chia di chỉ địa mạo thành 2 loại: di chỉ địa mạo tích
cực cho phép nhìn thấy được các quá trình địa mạo đang hoạt động (thung lũng sông,
bãi biển,…) và các di chỉ địa mạo thụ động biểu lộ các quá trình trước đây được xem
là di sản đặc biệt về ký ức của Trái đất. Chúng là công cụ đắc lực phục vụ cho phát
triển du lịch.
12
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa hình
Theo Panizza các tiêu chí có thể cho giá trị đối với địa hình để trở thành tài
nguyên địa mạo được liệt kê dưới đây [32].
- Giá trị khoa học
- Giá trị văn hóa
- Giá trị kinh tế - xã hội
- Giá trị về phong cảnh/cảnh vật
a) Giá trị khoa học
Trên quan điểm khoa học và trong lĩnh vực địa mạo, tầm quan trọng về giá trị
của tài nguyên địa mạo tự nhiên có thể đánh giá theo 4 đặc trưng (Panizza và Piacente,
1993):
1) Là một mô hình tiến hóa địa mạo, chẳng hạn phễu karst hoặc một cột đất.
2) Là một vật thể được sử dụng cho các mục đích giáo dục, chẳng hạn một khúc
uốn của dòng sông
Một yếu tố phong cảnh cũng có thể là tài nguyên địa mạo cả ở cảm giác ngoạn
mục, lẫn vì sự hấp dẫn của nó là một sự thu hút, mà có thể làm cho nó dễ dàng hơn
đối với con người tiếp cận các vấn đề môi trường và làm tăng hiểu biết và nhân thức
của họ.
Từ những quan sát ở trên, có thể suy ra, tài nguyên địa mạo có thể hoặc là địa
hình hoặc là nguyên liệu thô, hoặc là cả hai.
c) Giá trị về phong cảnh/cảnh vật
Chỉ tiêu phong cảnh/cảnh vật có phạm vi rất rộng về bản chất trực giác. Trong
trường hợp này, cách tiếp cận với tự nhiên tùy thuộc vào cách thưởng ngoạn nó và
tâm trí của con người tại thời điểm đó. Nó được xuất phát từ những cảm giác do nhận
thức cá nhân mang tính chủ quan cao, do đó, khó mà đánh giá và so sánh với những
cảm giác và nhân thức của những người khác nhau.
d) Giá trị kinh tế - xã hội
Tiếp cận địa mạo dựa trên cơ sở kiến thức khoa học về tài nguyên thiên nhiên,
nhận thức về các quy luật điều chỉnh sự tiến hóa của nó và nhận thức về tầm quan
trọng của nó đối với loài người. Bởi thế, đây là nhiệm vụ có thể chỉ được thực hiện
bởi những nhà địa mạo được đào tạo cẩn thận – những người có thể nhận ra và đánh
giá một cách chính xác các thuộc tính này.
Địa hình trở thành tài nguyên địa mạo chỉ khi nó có những hàm ý xã hội, nghĩa
là chỉ khi các tham số khác, các tham số khách quan, bắt đầu hoạt động để đầu tư cho
nó có giá trị (Panizza và Piacente, 1993)
14
Tuy nhiên, việc đánh giá nên được thực hiện một cách chính xác, nghĩa là,
đánh giá sự tồn tại liên tục của tài nguyên theo thời gian. Một cách cụ thể hơn, điều
này bao gồm cả việc điều chỉnh sử dụng nó khi mà những quan tâm về xung đột phát
triển. Những xung đột như vậy bao gồm nghiên cứu khoa học chống lại sự khai hoa
kết trái của nó, sự hạn chế cơ hội sử dụng địa hình chống lại nhu cầu hiểu biết và
những mục đích giáo dục, sử dụng trực tiếp chống lại những quan sát thuần túy,… Vì
thế, thang đánh giá có thể được tổng kết như sau: ở vị trí thứ nhất – có sự tồn tại của
2
Có thể
đến
được
Phương
tiện
thông
tin
Thiếu
- Trong khu vực
- Ngoài khu vưc
0
Không
hiện đại
- Trong khu vực
- Ngoài khu vực
0.5
Hiện
đại
- Trong khu vực
- Ngoài khu vực
0.5
15 Các đặc trưng
Chỉ tiêu
Điểm
Tính hấp dẫn
Yếu
(0,5)
TB
(1,0)
Mạnh
(2)
Khả năng nhìn thấy
<100m
(0,5)
100 –
1000m
(1)
>1000m
(2)
Kích thước
Diện tích
<5m
2
(0,5)
<50m
2
(1)
>50m
2
(2)
Dài hoặc cao
gốc và kích
thước
Trong địa
phương
Thường
xuyền
(0,1)
TB (0,5)
Hiếm
(1,5)
Hiếm thông
qua nguồn
gốc và kích
thước
Trong khu
vực lớn
Thường
xuyền
(0,5)
TB (1)
Hiếm (2)
Nguồn nghiên cứu
Hạn chế
(0,5)
TB (1)
Quang
trọng
(1,5)
Nguồn chỉ thị và cho giáo dục
sinh thái
0,5
1,5
Địa điểm
quan trọng
cho sự kiện
hoặc tính
cách
Sự kiện văn
hóa
0
0,5
1,5
Lịch sử
0
0,5
1,5
Văn hóa
0
0,5
1,5
Biểu diễn thể
thao
Leo núi
Không
Ít quan
trọng
Quan
trọng
0
0,5
1,0
Yếu tố trong cấu trúc cảnh
0
0,5
1,5
Thứ sinh
Các hành
động ở mức
độ
Địa phương
Không
Ý nghĩa
Quang
trọng
0
0,5
1,0
Quốc gia
0
0,5
1,0
Có thể đến
được
Mạng lưới (từ đường mòn
đến đường quốc ô tô)
Không
Không
hiện đại
Hiện
Tốt cho
mỗi
kiểu
0
0,2
0,5
Số du khách/năm hoặc trung
bình. Số lượng ý kiến thăm
dò về hoạt động du lịch trên
các di chỉ địa mạo
<100
100-
1000
>1000
0
1
1,5
18 1.1.3. Tổng quan các nghiên cứu tài nguyên địa hình phục vụ phát triển kinh tế
xã hội và xóa đói giảm nghèo.
Các nghiên cứu quốc tế
Các nghiên cứu về địa mạo nói chung và địa hình nói riêng đã được diễn ra từ
rất lâu về trước, song lịch sử tồn tại của nó như một khoa học độc lập lại rất ngắn
ngủi. Trước đây, những tài liệu về địa hình mặt đất chỉ được thu thập một cách nhân
tiện khi tiến hành các công trình nghiên cứu địa lý, địa chất, sinh vật học và thổ
nhưỡng. Thêm vào đó, đó mới chỉ là những tài liệu mạng tính mô tả. Chỉ sau khi xuất
hiên những công trình nghiên cứu tổng quát nổi tiếng của các nhà địa lý địa chất như
Powell, Gillbert, Davis, Richthofen, A. Penck và nhất là của W. Penck thời kỳ cuối
Nghiên cứu “A sustainability index for karst environments” của Philip Van
Beynen, Robert Brinkmann và Kaya Van Beynen đã chỉ ra các yếu tố chịu tác
động của hoạt động dân sinh đang nảy sinh trong những khu vực hệ thống đá
vôi.
Mỏ đá lộ thiên:
Khai thác mỏ ngầm:
Nông nghiệp:
Du lịch hồ ô nhiễm
Sử dụng đất đô thị và sử dụng
nguồn nước
Chính phủ
Nông nghiệp xanh
Xây dựng và phát triển
Phát triển kinh tế ngành công
nghiệp xanh
Du lịch sinh thái
Năng lượng
Quản lý tài nguyên thiên nhiên
Giao thông vận tải
Giảm lãng phí phát sinh chất
thải
Dạy giáo dục
Bảo tồn nước
Quản lý khí thải nhà kính
Tài liệu trong nước
Tại nước ta, trước đây các nghiên cứu chủ yếu vẫn chỉ tập trung nghiên cứu
vào các đặc điểm khoa học của địa mạo và địa hình và ứng dụng của chúng trong việc
xây dưng các công trình, quy hoạch hay các tai biến liên quan,…. Trong vài năm trở
20
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (trước đây là
21
Khoa Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) đã được 22 năm
với 13 đợt khảo sát với quy mô khác nhau, tiến hành nghiên cứu hang động ở
các tỉnh như: Quảng Ninh, Quảng Bình, Ninh Bình, Lạng Sơn, Sơn La, Cao
Bằng, Quảng Nam, Đà Nẵng và đã đo vẽ tổng độ dài trên 250 km của hơn 300
hang.
Ngoài ra, còn một số tài liệu khác:
- Tài liệu “Giới thiệu núi đá vôi Kiên Giang” do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát
hành năm 2009. Tài liệu giới thiệu một cách khái quát về các giá trị của cảnh
quan địa hình Karst ở Kiên Giang như: giá trị khảo cổ học, giá trị văn hóa, giá
trị lịch sử, đa dạng sinh học núi đá vôi,… Ngoài ra tài liệu cũng nêu khái quát
hiện trạng khai thác đang diễn ra ở đây nhằm hướng tới mục tiêu phát triển
bền vững nguồn tài nguyên cảnh quan karst.
- Các bài báo khoa học về địa hình Karst và hang động ở Vịnh Hạ Long nhằm
tìm hiểu về đặc trưng của địa hình Karst ở khu vực nghiên cứu.
1.2. SINH KẾ BỀN VỮNG
1.2.1. Khái niệm sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế bề vững về cơ bản được dụa trên nền tảng của khái niệm về
sinh kế và sự phát triển bền vững, trong đó chú trọng hơn đến sự phát triển bền vững.
Về sinh kế, các khái niệm sinh kế thường xuyên được sử dụng và trích dẫn
trong các nghiên cứu đều dựa trên ý tưởng về sinh kế của Chambers và Conway
(1992), trong đó, sinh kế, theo cách hiểu đơn giản nhất là phương tiện để kiếm sống.
Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway về sinh kế là: “sinh kế bao gồm
khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người”.
Một sinh kế là bền vững “khi có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ
những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra
các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh
kế khác ở cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn[22].
bảo tiến bộ xã hộ và bảo vệ môi trường”
Thông qua tìm hiểu và làm rõ các khái niệm về sinh kế và phát triển bền vững
thì sinh kế trở nên bền vững khi giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc
có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương
lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên (theo DFID, 2001).
1.2.2. Tính bền vững của sinh kế