Đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái nông nghiệp huyện giao thủy, tỉnh nam định - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ KIM DIÊN

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÁC HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP
HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SĨ Hà Nội, năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ
rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn TRẦN THỊ KIM DIÊN

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii

LỜI CẢM ƠN


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp tiết của đề tài 1
2. Mục đích 2
3. Yêu cầu 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tổng quan về nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp trong và ngoài nước 3
1.1.1. Tổng quan về nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp ngoài nước 3
1.1.2. Tổng quan về nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp trong nước 8
1.2. Hệ sinh thái nông nghiệp 11
1.2.1. Thành phần và cấu trúc của hệ sinh thái nông nghiệp 11
1.2.2. Chức năng và hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp 14
1.3. Phát triển nông nghiệp theo quan điểm sản xuất bền vững 16
1.3.1. Khái niệm phát triển bền vững 16
1.3.2. Phát triển nông nghiệp bền vững 17
1.4. Phân vùng hệ sinh thái nông nghiệp 20
1.4.1. Phương pháp phân vùng hệ sinh thái nông nghiệp 20
1.4.2. Nội dung phân vùng sinh thái nông nghiệp 21
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.1.1. Đối tượng ngiên cứu 24
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 24
2.2. Nội dung nghiên cứu 24

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
1. Kết luận 71
2. Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Số trang 3.1: Các loại hệ sinh thái chính tại huyện Giao Thủy 40
3.2. Các loại hệ sinh thái nông nghiệp chính tại huyện Giao Thủy 42
3.3. Bảng phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các hệ sinh thái nông
nghiệp huyện Giao Thủy 49
3.4: Hiệu quả kinh tế của các HSTNN 50
3.5: Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hệ sinh thái nông nghiệp 51
3.6. Chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội của các HSTNN 55
3.7. Công lao động của các HSTNN 56
3.8. Chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả môi trườngcủa các HSTNN 58
3.9. Hiệu quả xã hội của các hệ sinh thái nông nghiệp 61
3.10. Hiệu quả môi trường của các HSTNN 62
3.11. Các hiện tượng thời tiết cực đoan ở Giao Thủy 63
3.12: Diện tích và giá trị sản xuất của một số HST nông nghiệp chính huyện
Giao Thủy 64
3.13: Ảnh hưởng của ngập lụt tới một số HST nông nghiệp huyện Giao Thủy 66
3.14. Diện tích các HSTNN có nguy cơ bị ngập và ước lượng tổn thất kinh tế 66
3.15: Các giải pháp thích ứng với BĐKH áp dụng cho HST nuôi trồng thủy sản 68
3.16: Các giải pháp thích ứng với BĐKH áp dụng cho HST cây trồng hàng năm

GIS : Hệ thống thông tin địa ý
HST : Hệ sinh thái
HSTNN : Hệ sinh thái nông nghiệp
KHCN : Khoa học công nghệ
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TN & MT : Tài nguyên và Môi trường
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
UBND : Ủy ban nhân dân
VAC : Vườn - Ao - Chuồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp tiết của đề tài
Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) là một hệ sinh thái có vai trò cung cấp
lương thực và thực phẩm nuôi sống con người nên nó có tầm quan trọng đặc biệt
đối với sự phát triển của mỗi quốc gia hay mỗi cộng đồng. Hệ sinh thái này chịu tác
động trực tiếp của hoạt động sản xuất nông nghiệp và những thay đổi của môi
trường do các biến đổi tự nhiên gây nên. Sự tồn tại và phát triển của các HSTNN ở
một vùng nhất định thường phản ánh rất rõ mối tương tác lâu dài giữa con người và
thiên nhiên tại khu vực cục bộ địa phương đó.
Ngày nay, do nhu cầu lương thực và thực phẩm của con người ngày càng
tăng nên áp lực sản xuất đặt lên các HSTNN cũng ngày càng lớn. Với các hình thức
thâm canh cao, lạm dụng sản phẩm hóa học, quản lý không hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên trong các hệ thống canh tác v.v. đã và đang làm các HSTNN bị
suy thoái. Hệ quả là khả năng đáp ứng các dịch vụ của các HSTNN đối với con
người ngày càng bị hạn chế.

- Đánh giá được hiện trạng về sản xuất nông nghiệp, về cơ sở hạ tầng, môi
trường nông nghiệp, tiềm năng sử dụng các hệ sinh thái.
- Đánh giá hiệu quả khai thác, sử dụng các hệ sinh thái nông nghiệp và mức
độ dễ tổn thương của các HST nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp trong và ngoài nước
1.1.1. Tổng quan về nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp ngoài nước
Hệ sinh thái nông nghiệp là một hệ sinh thái gắn liền với sự phát triển của
con người. Hệ sinh thái này vừa cung cấp sản phẩm nuôi sống con người vừa cung
cấp những chức năng sinh thái học cơ bản, đảm bảo sự vận hành liên tục của chu
trình vật chất, giữ vững cân bằng sinh thái môi trường. Trong các loại hệ sinh thái,
hệ sinh thái nông nghiệp được xem là có vai trò quan trọng hàng đầu đối với tất cả
các cộng đồng dân cư trên thế giới (Altieri, 1995). Chính vì thế, các nghiên cứu liên
quan đến đánh giá, phân loại, phân vùng và ứng dụng của hệ sinh thái này được giới
khoa học và các tổ chức quốc tế quan tâm nghiêm cứu từ nhiều năm trước.
Từ thập kỷ 70, Tổ chức Nông lương thế giới FAO đã triển khai những dự án
nghiên cứu lớn liên quan đến đánh giá đất đai và phân vùng sinh thái nông nghiệp
(FAO, 1974, 1976, 1977, 1978). Thông qua những nghiên cứu có tính hệ thống và
kiểm chứng trên thực tế ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, FAO đưa ra khung
phương pháp phân vùng sinh thái nông nghiệp (FAO 1976, 1978). Khung phương
pháp đánh giá và phân vùng của FAO bao gồm trình tự các thủ tục cần thực hiện để
tổng hợp các yếu tố sinh thái đất đai đơn lẻ như bức xạ nhiệt, độ ẩm, đất v.v. để
đánh giá tiềm năng sử dụng cho các đơn vị đất đai hoặc sinh thái cảnh quan. Riêng
phương pháp phân vùng sinh thái nông nghiệp được khuyến cáo sử dụng mang tính
quy chuẩn cho vùng nhiệt đới và sau đó mở rộng cho cả vùng ôn đới (Fisher et al.,

ứng với cộng đồng dân cư địa phương, góp phần cung cấp đủ nhu cầu lương thực,
thực phẩm cho con người sở tại.
Gần đây, những nguyên lý và cơ sở lý luận nói trên vẫn được ứng dụng một
cách có hiệu quả ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau. Tuy nhiên, do sự phát triển của
khoa học công nghệ nên các ứng dụng sinh thái học đã được thực hiện một cách chi
tiết và tổng hợp hơn nhiều những giai đoạn trước đó. Ví dụ, để đảm bảo tính cân
bằng của chu trình vật chất trong HST nông nghiệp người ta có thể kết hợp mô hình
cây trồng cấy ghép gen để cho năng suất cao và thích ứng tốt. Bên cạnh đó, các phế
phẩm nông nghiệp được phân hủy tạo phân compost bằng những công nghệ vi sinh
sử dụng vi sinh vật hữu hiệu một cách truyền thống. Các sản phẩm khó phân hủy có
thể được đốt yếm khí để tạo than sinh học v.v. Loại hình công nghệ này có thể có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

các tên gọi khác nhau như công nghệ vi sinh, công nghệ môi trường v.v.
Trong những hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt khi ứng dụng vào giải quyết các mục
tiêu sinh thái học thì đó chính là công nghệ sinh thái. Thông qua kết quả phân tích
về những tiếp cận công nghệ sinh thái trong bảo tồn đa dạng sinh học ở Mỹ và
Trung Quốc, Mitsch (1991) đã kết luận rằng tất cả các loại công nghệ sạch sử dụng
trong nông nghiệp chính là công nghệ sinh thái.
Ngày nay mức độ phát triển dân số trên thế giới diễn ra nhanh chóng. Hậu
quả kéo theo là nhu cầu lương thực và thực phẩm cũng tăng lên không ngừng. Để
đáp ứng nhu cầu của mình, con người đã tìm mọi cách tăng năng suất cây trồng, bắt
hệ sinh thái nông nghiệp phải sản sinh ra mức năng suất đôi khi vượt quá khả năng
cung cấp tự nhiên của nó. Hoạt động này dẫn tới tình trạng suy thoái đất nông
nghiệp trầm trọng (UNDP, 1994). Theo FAO (2011), hiện nay có khoảng 25% diện
tích đất trên thế giới đang “thoái hóa nghiêm trọng” với nhiều biểu hiện như xói
mòn, thiếu nước và suy giảm mức độ đa dạng sinh học. Tỷ lệ thoái hóa diễn ra
nhiều nhất là trong những vùng sản xuất nông nghiệp thâm canh. Tình trạng suy
thoái các hệ sinh thái nông nghiệp càng gia tăng hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu
toàn cầu (UN News Center, 2011). Một trong những giải pháp có hiệu quả cho các

hướng sản xuất gạo chất lượng cao, phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa. Những vùng
nhỏ được hỗ trợ gieo trồng 1 vụ lúa, còn các vụ khác cho phép người dân lựa chọn
cây trồng một cách tự do.
Ở Thái Lan, hệ thống cây trồng mỗi vùng sinh thái được phân chia và thiết
kế chủ yếu theo yếu tố địa hình (Ministry of Agriculture and Cooperatives –
Thailand, 2008). Vùng núi cao miền Bắc có mô hình cây trồng là lúa cạn, cây trồng
ngắn ngày và các cây ăn quả như vải, nhãn và xoài, Hệ thống cây ăn quả được
trồng xen với cây trồng ngắn ngày, rau và hoa. Mô hình cây trồng vùng này do đó
có lúa và cây ăn quả là hệ thống cây trồng chính. Trong vùng Đông Bắc, cây lúa
hưởng nước trời được gieo trồng chính trong năm ở vùng cao nguyên bán khô hạn
với đất cát cằn cỗi. Vùng đất khô hạn trồng sắn, đay, cây dâu cho nghề nuôi tằm.
Đối với vùng đất trũng có tưới, vụ lúa nước được gieo trồng tiếp theo là vụ lúa cạn
hoặc đậu tương, đậu xanh, lạc, đay, cây vừng và một vài cây rau. Thêm vào đó, sự
đa dạng hóa cũng được đề cập trong vùng này, đặc biệt với cây ăn quả như xoài, me
ngọt, chuối, đu đủ , nuôi trồng lúa-cá, các loại vật nuôi là sự phù hợp trong mùa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

mưa như là sự lựa chọn táo bạo trong sản xuất nông nghiệp. Trong hệ thống cây
trồng có lúa và các loại cây trồng ngắn ngày là thành phần chủ đạo. Vùng đồng
bằng có hai hoặc ba loại giống lúa được gieo trồng hầu hết các vùng đất màu mỡ
trên phạm vi cả nước với diện tích được tưới là lớn nhất. Những cây trồng chính
khác là cây ăn quả, cây rau, cây công nghiệp ngắn ngày cũng như vật nuôi. Hệ
thống cây trồng có tưới là lúa nước, tiếp theo là vụ lúa cạn hoặc đậu tương đậu
xanh, lạc, khoai lang, dưa hấu, vừng và một vài loại cây rau như là ngô ngọt, ngô
bao tử, bí ngô, dưa chuột v.v. Đại diện cho hệ thống cây trồng vùng đất cao là ngô-
lúa miến, vừng-đậu xanh, đậu xanh-ngô v.v. Vật nuôi và cá cũng đã được kết hợp
mạnh mẽ với các loại cây trồng. Do vậy, hệ thống cây trồng chính vùng này là cây
lúa và cây ngắn ngày. Ở miền Nam: Cây trồng chính là cao su. Lúa, cây ăn quả, cây
rau và các loại cây trồng thu lợi khác, những trang trại cá nước mặn, tôm cũng rất
quan trọng. Vùng đất thấp, hệ thống cây trồng là vụ lúa nước, tiếp theo đó là lúa cạn

nghệ sinh thái để bảo vệ tài nguyên môi trường, giữ cân bằng cho hệ thống nông
nghiệp để hướng tới phát triển bền vững là một trong những nhiệm vụ cần ưu tiên của
thế giới
1.1.2. Tổng quan về nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp trong nước
Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến điều tra, đánh giá
các hệ sinh thái nông nghiệp đã được tiến hành với các quy mô khác nhau. Những
công trình tiên phong chủ yếu là do cán bộ thuộc trường Đại học Nông nghiệp Hà
Nội thực hiện. Chương trình cấp Nhà nước do cố GS. Cao Liêm làm chủ trì về Phân
vùng sinh thái nông nghiệp vùng ĐBSH là một điển hình (Cao Liêm, 1990). Dựa
trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới điều kiện sinh thái của vùng đồng
bằng sông Hồng như: khí hậu, nhiệt độ, thuỷ văn, lượng mưa, độ ẩm, địa chất, địa
hình, thổ nhưỡng và các yếu tố xã hội khác, đề tài đã đề xuất được tiêu chuẩn một
số đơn vị phân vùng sinh thái, xây dựng được một bản đồ phân vùng sinh thái vùng
đồng bằng sông Hồng tỉ lệ 1/250.000 kèm theo bản chú giải. Kết quả bản đồ phân ra
8 vùng và 13 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp, mô tả đặc điểm, hướng sử dụng cho
từng vùng sinh thái chính ở đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, do sự thay đổi quá
lớn của các yếu tố kinh tế xã hội và sử dụng đất nên các đơn vị phân loại của công
trình này và những công trình trước đó đã bị thay đổi quá nhiều, không còn phù hợp
cho thực tế phục hồi và phát triển của các HSTNN ngày nay.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9

Các nội dung về bố trí hệ thống cây trồng cũng đã được triển khai từ rất sớm.
Ngay sau khi hòa bình ở miền Bắc, cố GS. Vũ Tuyên Hoàng (1957) đã nghiên cứu
thiết lập hệ thống cây trồng gắn với từng vùng sinh thái. Thành tựu nổi bật trong
nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp tiếp theo đó là công trình nghiên cứu chuyển
đổi hệ thống cây trồng vùng ĐBSH từ vụ lúa chiêm sang vụ lúa xuân và đã mở ra
một bước tiến quan trọng từ sản xuất nông nghiệp 2 vụ/năm sang canh tác 3 vụ/năm
với một hệ thống cây trồng đa dạng. Do nhiều điều kiện khách quan mà những năm
sau đó các nhà khoa học đã chủ yếu tập trung nghiên cứu về đất, các yếu tố sinh
thái, các chủng loại cây trồng và HSTNN ở từng tiểu vùng sinh thái.

hợp cho lúa gieo theo hàng. Quy trình này tiết kiệm được 50% lượng giống gieo,
giảm được 80 – 90% tổng số công so với lúa cấy.
- Đề tài B2008-11-113 về “Nghiên cứu quy trình xử lý rơm rạ trên đồng
ruộng và tái chế thành phân hữu cơ bón cho cây lúa trên đất phù sa sông Hồng” do
PGS.TS. Nguyễn Xuân Thành chủ trì. Đề tài này có kết quả nghiên cứu chính là
khẳng định được vai trò của việc tận dụng tàn dư thực vật trên đồng ruộng đem xử
lý bằng chế phẩm vi sinh vật để phân hủy chuyển hóa nhanh tàn dư thực vật trên
đồng ruộng, đã mang lại lợi ích to lớn cho người nông dân, tăng thu nhập, trả lại
chất hữu cơ cho đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng vụ sau. Giải quyết nguồn
phân hữu cơ thiếu hụt hiện nay.
- Đề tài cấp tỉnh về “Xử lý phế phụ phẩm lúa, hành tỏi bằng chế phẩm vi
sinh vật và tái chế thành phân hữu cơ” do PGS.TS. Nguyễn Xuân Thành chủ trì
thực hiện tại thành phố Hải Dương. Kết quả đã xây dựng được quy trình công nghệ
xử lý phế thải hành tỏi xuất khẩu bằng chế phẩm vi sinh vật và tái chế phế thải và
phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón hữu cơ bón cho cây trồng, giảm thiểu ô
nhiễm môi trường làng nghề truyền thống.
- Đề tài Nhánh cấp nhà nước độc lập về “Nghiên cứu giải pháp thủy lợi cải
tạo phục hồi và bảo vệ vùng đất có vấn đề phục vụ phát triển kinh tế xã hội dải ven
biển đồng bằng Bắc Bộ” do PGS.TS Nguyễn Hữu Thành chủ trì. Trong thời gian
nghiên cứu 2009-2010, nhóm nghiên cứu đã xác định được phân bố, diện tích và
các tính chất hiện tại của các loại đất dải ven biển đồng bằng Bắc Bộ: có 05 nhóm
đất với 19 loại đất: Nhóm đất cát có diện tích 5.967,87 ha với 03 loại đất, nhóm đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11

mặn có diện tích 75.209,50 ha với 03 loại đất, nhóm đất phèn có diện tích 37.821,48
ha với 04 loại đất, nhóm đất phù sa có diện tích 56.011,67 ha với 06 loại đất, nhóm
đất xám có diện tích 4.744,51 ha với 03 loại đất.
Kết quả nghiên cứu của các đề tài nói trên sẽ được sử dụng như những cơ sở
tham khảo có hiệu quả cho nội dung đánh giá và đề xuất các giải pháp phục hồi và
phát triển hệ sinh nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng.

đai cụ thể có hoạt động chức năng cơ bản là chuyển hóa năng lượng, vật chất do con
người và thiên nhiên cung cấp để tạo thành sản phẩm đầu ra trong đó có lương thực
và thực phẩm cùng rất nhiều tác động môi trường khác.
Hệ sinh thái nông nghiệp là một hệ thống có thứ bậc, trong đó mối liên hệ có
thể kéo dài từ cây trồng ở mức quần thể, qua hệ canh tác ở mức quần xă đến hệ sinh
thái nông nghiệp ở mức cao nhất. HSTNN có nhiều loại do sự khác nhau về thành
phần có thể phân biệt như hệ sinh thái đồng ruộng, hệ sinh thái chuồng trại chăn
nuôi, hệ sinh thái ao, hồ
Các hệ sinh thái đồng ruộng theo quan điểm của điều khiển học là những hệ
thống phức tạp. Hệ thống ấy lại gồm những hệ thống phụ nhỏ hơn và các yếu tố của
hệ thống phụ. Các hệ thống phụ bao gồm (Đào Thế Tuấn, 1984):
Hệ thống phụ khí tượng là các yếu tố như bức xạ mặt trời, nhiệt độ, mưa, độ
ẩm không khí, lượng CO
2
, O
2
, gió Các yếu tố này tác động lẫn nhau và tác động vào
đất, cây trồng, quần thể sinh vật, , tạo nên vi khí hậu của ruộng cây trồng.
Hệ thống phụ đất bao gồm các yếu tố như nước, không khí, chất hữu cơ, chất
khoáng, vi sinh vật, động vật đất tác động lẫn nhau và chịu tác động của các yếu
tố khí tượng, nước, không khí và các chất dinh dưỡng cho rễ cây.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

Hệ thống phụ cây trồng là hệ thống trung tâm của hệ sinh thái. Hệ thống này
có thể thuần nhất nếu ruộng cây trồng chỉ trồng một giống cây, hay phức tạp nếu
trồng xen, trồng gối Các yếu tố của hệ thống này là các đặc tính sinh lý và hình
thái của giống cây trồng do các đặc điểm di truyền của nó quyết định.
Hệ thống quần thể sinh vật của ruộng cây trồng bao gồm các loài cỏ dại, côn
trùng, nấm và vi sinh vật, các động vật nhỏ. Các sinh vật này có thể có tác dụng tốt,
trung tính hay gây hại cho cây trồng.

Hoạt động trao đổi vật chất cũng được diễn ra đồng thời với trao đổi năng
lượng. Vật chất trong hệ sinh thái được trao đổi có tính tuần hoàn từ môi trường
ngoài vào cơ thể sinh vật rồi từ cơ thể sinh vật lại chuyển ra môi trường bên ngoài
tạo nên chu trình địa – sinh – hóa. Trong sinh quyển có thể chia ra làm hai loại chu
trình, đó là chu trình các chất khí có nguồn dự trữ trong khí quyển hoặc thủy quyển
như chu trình N, chu trình CO
2
, chu trình nước và chu trình các chất lắng đọng
(trầm tích) có nguồn dự trữ trong lớp vỏ quả đất như chu trình Ca, Mg, P
Cụ thể, trong hệ sinh thái nông nghiệp có sự trao đổi năng lượng và vật chất
như sau (Phạm Văn Phê, 2006):
- Ruộng cây trồng trao đổi năng lượng với khí quyển bằng cách nhận năng
lượng bức xạ mặt trời, thông qua quá trình quang hợp của lá xanh tổng hợp nên chất
hữu cơ. Đồng thời cây trồng có sự trao đổi khí CO
2
, nước với khí quyển, N và các
chất khoáng với đất. Trong các sản phẩm của cây trồng như lúa, rau, màu có tích
lũy năng lượng, protein và các chất khoáng. Tất cả các sản phẩm đó là năng suất sơ
cấp của hệ sinh thái.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15 Hình 1.3. Mô hình hệ sinh thái nông nghiệp
(Nguồn: Đào Thế Tuấn, 1984)
- Năng lượng và vật chất trong lương thực thực phẩm được cung cấp cho khối
dân cư. Ngược lại, con người trong quá trình lao động cung cấp năng lượng cho ruộng
cây trồng, ngoài ra, các chất bài tiết (phân, nước tiểu) được trả lại cho đồng ruộng dưới
dạng phân hữu cơ. Một phần lương thực và thực phẩm từ đồng ruộng cung cấp cho trại
chăn nuôi và vật nuôi gia đình. Vật nuôi chế biến năng lượng và vật chất của cây trồng
thành các sản phẩm chăn nuôi, đó chính là năng suất thứ cấp của hệ sinh thái. Các vật

Một số vật chất do hệ sinh thái đô thị cung cấp tham gia vào sự tạo năng suất
sơ cấp của HSTNN như nước, phân bón, có tính chất quyết định năng suất.
1.3. Phát triển nông nghiệp theo quan điểm sản xuất bền vững
1.3.1. Khái niệm phát triển bền vững
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và
Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển
của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng
những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" (Dẫn
theo Phan Nguyên Hồng, Trần Văn Thụy, 2004).
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland
(còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế
giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Phát triển bền vững là "sự phát triển có
thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những
khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ". Nói cách khác, phát triển bền
vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi
trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế -

Trích đoạn Khung phương pháp trong phân vùng hệ sinh thái nông nghiệp Tài nguyên đất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status