luận văn tốt nghiệp điều tra tỷ lệ mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái tại huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An - Pdf 28


PHẦN 1
TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HUYỆN THANH CHƯƠNG
1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Thanh Chương là một huyện miền núi địa hình tương đối phức tạp. Chiều dài
từ Nam đến Bắc 43 km, chiều rộng từ Đông sang Tây 23km, phía Đông giáp
huyện Đô Lương, phía Tây giáp huyện Lào, Nam giáp Nam Đàn và Hà Tĩnh,
phía Bắc giáp huyện Anh Sơn.
Thanh Chương có diện tích tự nhiên 186.204 ha; dân số 307.377 người, đứng
thứ 7 về diện tích huyện, thứ 11 về dân số. Mật độ dân số trung bình 297 người
trên km
2
(tương đôi cao so với các huyện miền núi). Huyện được chia thành 39
xã, một thị trấn và một Trại CT số 6. Thanh Chương cách thành phố Vinh 70km
về phía Đông Nam và cách quốc lộ 1A khoảng 65 km về phía Đông.
Thanh Chương là huyện trung du miên núi của tỉnh, có tiềm lực để phát triển
thành vùng chăn nuôi lớn; có diện tích đất lâm nghiệp lớn, và nhất là nhiều công
trình trọng điểm khác so với các huyện miền núi khác. Đây là nhân tố quan trọng
cho phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp đặc biệt là chăn nuôi gia súc và đẩy
nhanh tiến trình phát triển tổng đàn gia súc của tỉnh.
1.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình huyện Thanh Chương có xu hướng nghiêng dần từ Bắc và Tây
Nam ra phía Đông Đông Bắc. Phía Tây hình thành dãy đồi núi hình cánh
cung chạy từ Đông Bắc xuống Tây Nam bao lấy cả một vùng trung du ở phía
Đông Đông Nam.
Dựa vào phân bố địa hình, Thanh Chương được chia làm hai vùng: vùng trung
du và vùng đồi núi phía tây.
+ Vùng trung du gồm 28 xã; độ cao bình quân so với mặt nước biển là:
+3,6 đến + 4,5m.
+ Vùng Đồi núi phía tây gồm 11 xã; là các xã phía Tây, Tây Bắc giáp với

nhân gây lũ lụt hàng năm.
Bão và áp thấp nhiệt đới trung bình mỗi năm 2 đến 3 cơn đổ bộ vào địa bàn
huyện. Bão kéo theo mưa to, thường xảy ra lũ quét gây nhiều thiệt hại cho sản
xuất và đời sống.
Trong nhiều yếu tố của khí hậu thời tiết có ảnh hưởng đến sản xuất và sử dụng
đất thì hạn và rét là ảnh hưởng lớn nhất, thứ đến là lũ lụt và gió bão.
Bảng 1.1. Diễn biến thời tiết thuỷ văn huyện Thanh Chương 2005 – 2009
Stt Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
1
Nhiệt độ trung binh các
tháng trong năm (
0
C)
24,6 25 25,3 26,4 25,4
2 Số giờ nắng/năm 1.529 1.889 1.892 20.012 20.001
3 Số ngày mưa/Năm 189 152 145 151 150
4 Lượng mưa mml /Năm 3.490,9 2.698,3 3.247,3 2.449,3 1.895,2
5
Độ ẩm tương đối
trung bình
86,91 86,56 86 85,4 88,4
[Theo nguồn 1]
2

1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Trong thời kỳ 2001 - 2005, định hướng kinh tế phát triển của huyện với cơ cấu
Công nghiệp, Nông nghiệp, Dịch vụ. Huyện chủ trương phát triển Nông nghiệp
toàn diện và xây dựng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tăng
nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là Nông nghiệp, Lâm nghiệp; từng
bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp,thực

12 Thanh Thịnh 2.528 2.851
13 Thanh An 1.772 2.664
14 Thanh Chi 1.713 2.517
15 Thanh Khê 2.093 2.592
16 Thanh Thủy 2.576 2.470
17 Võ Liệt 2.333 4.820
18 Thanh Long 1.268 2.315
19 Thanh Hà 2.218 2.752
20 Thanh Tùng 2.053 2.753
21 Thanh Giang 1.123 965
22 Thanh Mai 3.147 2.335
23 Thanh Xuân 3.037 4.760
24 Thanh Lâm 2.789 2.973
25 Thanh Hưng 1.270 2.735
26 Thanh Văn 1.404 3.548
27 Thanh Phong 2.121 3.343
28 Thanh Tường 702 1.997
29 Thanh Đồng 1.083 2.208
30 Thị Trấn 408 1.708
31 Đồng Văn 1.901 3.797
32 Thanh Ngọc 2.834 3.543
33 Ngọc Sơn 2.824 3.084
34 Xuân Tường 2.209 3.393
35 Thanh Dương 1.726 3.104
36 Thanh Lương 1.849 2.362
37 Thanh Yên 1.636 3.045
38 Thanh Khai 1.118 2.370
39 Thanh Sơn 977 1.062
40 Ngọc Lâm 1.264 602
41 Trại CT số 6 168 510

Mạng lưới thú y trên địa bàn huyện luôn được củng cố để đáp ứng nhu cầu
chăn nuôi của địa phương. Tất cả các xã trên địa bàn huyện đều có ban thú y, với
trên 120 thú y viên có đăng ký thường xuyên hành nghề dịch vụ thú y, đội ngũ
này thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn, khoa học kỹ thuật thông qua
5

nhiều kênh thông tin và nguồn tài liệu khác nhau để áp dụng vào thực tế sản
xuất. Tuy nhiên phần lớn thú y cơ sở mới có trình độ sơ cấp, trung cấp còn đại
học thì rất ít nên còn rất hạn chế trong quá trình hành nghề.
1.3.4.2. Công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm
Công tác tiêm phòng được huyện chỉ đạo chặt chẽ. Kết quả tiêm phòng nhìn
chung đạt tỷ lệ khá, năm sau cao hơn năm trước và ổn định qua các năm.
Công tác tiêm phòng định kỳ một năm 2 đợt, đợt 1: tháng 3, 4. Đợt 2: tháng 7,
8 hàng năm.
1.3.4.3. Công tác kiểm dịch giết mổ
Công tác kiểm soát giết mổ được đảm bảo bởi đội ngũ thú y viên,hầu hết các
gia súc, gia cầm đều được kiểm dịch của cán bộ thú y trước khi đến tay người
tiêu dùng.
1.3.4.4. Tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
Thanh Chương cũng là điểm giao lưu buôn bán Động vật và các sản phẩm
động vật với nhiều nơi trong và ngoài tỉnh. Chính vì vậy cơ quan thú y huyện
đặc biệt quan tâm tới công tác kiểm dịch. Năm năm qua, công tác này được
Trạm Thú Y Huyện Thanh Chương làm khá tốt chính vì vậy mà hạn chế khá
nhiều sự lây lan dịch bệnh do vận chuyển gia súc trong vùng. [Theo nguồn 4].
1.4. Nhận xét đánh giá
1.4.1. Thuận lợi
+ Toàn huyện Thanh Chương có diện tích địa hình đồi núi phức tạp nhưng
lại có nhiêu đồng cỏ tự nhiên thuận lơi cho việc chăn nuôi nên chăn nuôi là một
thế mạnh của huyện. Ngoài ra trồng trọt cũng phát triển tương đối nhanh so với
các huyện trong tỉnh Nghệ An. Trồng trọt có khả năng canh tác nhiều loại cây

+ Hình thức chăn nuôi: Chủ yếu chăn nuôi theo nông hộ nhỏ lẻ, vốn đầu tư
ban đầu chưa cao, việc nhận thức áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi còn
nhiều khó khăn và hạn chế, chính vì vậy mà nguy cơ xảy ra dịch bệnh trên đàn
gia súc là rất lớn.
+ Sự quan tâm của các ngành chức năng: Huyện Thanh Chương là một huyện
miền núi xa trung tâm của tỉnh Nghệ An về sản xuất nông nghiệp. Nên chưa
được sự quan tâm đúng mức của chinh quyền, chưa có dự án nào thực sự lớn để
tận dung hết tiềm năng của huyện. Gặp nhiều khó khăn về vốn, có ít nghiên cứu
có chất lượng để đưa vào thực tiễn giúp cho người dân nâng cao năng suất trong
trồng trọt và chăn nuôi.
7

PHẦN 2
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1. Đặt vấn đề
Trên thế giới, chăn nuôi lợn là ngành kinh tế lớn, nhất là các nước nông
nghiệp, thịt lợn chiếm 40% tổng lượng các loại thịt (trong đó, thịt bò chiếm 31%,
thịt cừu 6%, thịt gia cầm 23%. Chăn nuôi lợn là ngành đã có từ rất lâu đời, đó là
ngành nghề truyền thống của hàng triệu nông dân. Ngoài sản phẩm chính là cung
cấp thịt, ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón hữu cơ cho
ngành trồng trọt, góp phần làm tăng năng suất cây trồng.
Ở Việt Nam hiện nay chăn nuôi lợn có vị trí rất quan trọng trong ngành nông
nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng. Lợn đã cung cấp cho cả nước
một khối lượng lớn về thực phẩm, còn cho xuất khẩu và cung cấp phân bón cho
cây trồng.
Những năm trở lại đây nhờ việc áp dụng những tiến bộ mới về khoa học kỹ
thuật và thự hiên một số chính sách mới về phát triển đàn lợn lên số lượng ở
nước ta đã tăng nhanh. Tuy nhiên còn nhiều tác nhân làm hạn chế đến việc phát
triển chăn nuôi lợn, các yếu tố như tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, trình độ dân
trí còn thấp, các cơ sở nghiên cứu còn hạn chế, đội ngũ cán bộ thú y chưa đáp

bản… đã mở ra cho ngành Công nghệ sinh học nói chung và ngành Chăn nuôi
nói riêng những bước phát triển mới, hứa hẹn nhiều trong tương lai.
2.2.2. Cấu tạo và chức năng sinh dục cái
Cơ quan sinh dục cái được chia làm hai bộ phận chính sau:
2.2.2.1. Bộ phận bên trong
- Buồng trứng:
Hầu hết buồng trứng của loài động vật có vú là đối nhau qua cột sống, nằm
trong xoang chậu gắn liền với dây chằng rộng của tử cung và cùng nằm cao cùng
với độ cao u xoang chậu, chức năng của buồng trứng là sản xuất ra tế bào sinh
dục cái (trứng), sản xuất ra một số kích dục tố (hormon) để tham gia vào việc
điều hoà chức năng sinh sản của gia súc cái.
- Ống dẫn trứng (Fallop): phần đầu nó loa như cái phễu hay còn gọi là loa
kèn, kích thước rất nhỏ. Chức năng của ống dẫn trứng là nơi để tế bào sinh dục
9

đực (tinh trùng) và tế bào sinh dục cái (trứng) gặp nhau, ống dẫn trứng có khả
năng co bóp dưới ảnh hưởng của hormon Oxytocin nhằm giúp cho tinh trùng
thuận lợi hơn trong việc thụ tinh.
- Tử cung: gồm 3 bộ phận.
+ Sừng tử cung: có kích thước khác nhau tuỳ từng loài, chức năng của nó là
nơi làm tổ và cư trú của bào thai trong quá trình mang thai.
+ Thân tử cung: có kích thước khác nhau tùy theo loài, chức năng của nó là
nơi lam tổ và cư trú của thai trong quá trình mang thai.
+ Cổ tử cung: có kích thước khác nhau tuỳ theo loài, cổ tử cung là nơi ngăn
cánh giữa bên ngoài và bên trong tử cung. Bình thường và khi gia súc mang thai,
cổ tử cung luôn đóng kín để tránh sự xâm nhập của vi khuẩn cung như tác nhân
bên ngoài tác động tới thân và sừng tử cung để bảo vệ thai nhi. Cổ tử cung chỉ
mở khi gia súc động dục và trong quá trình đẻ. Vì vậy, thông qua việc khám phá
sự đóng mở của cổ tử cung người ta có thể chẩn đoán được con vật ở giai đoạn
nào của quá trinh mang thai.

ống dẫn, bao tuyến bắt đầu hình thành và phát triển mô tuyến thay dần mô liên
kết, mô mỡ chiếm ưu thế. Hoạt động tiết sữa xuất hiện vào cuối thời kỳ có chửa,
sữa được hình thành gọi là sữa non. Sự phát dục của tuyến vú hoàn tất khi kết
thúc giai đoạn chửa, ngay sau khi đẻ gia súc bắt đầu tiết sữa để nuôi con non.
[Theo nguồn 6].
2.2.3. Cơ chế thần kinh thể dịch trong điều hoà chu kỳ sinh sản.
Khi gia súc đến tuổi thành thục về tính về sinh dục chịu ảnh hưởng của hai
yếu tối: nhân tố nội tại và nhân tố ngoại cảnh.
2.2.3.1. Nhân tố nội tại
Khi gia súc cái đến tuổi thành thục về tính, buồng trứng đã có nang trứng
phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể con vật đã có sẵn một hàm
lượng hoormon Oestrogen đã tác động lên trong khi vỏ đại não ảnh hưởng đến
Hyphothalamus.
2.2.3.2. Nhân tố ngoại cảnh
Nhiệt độ, ánh sáng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc biệt là Sterol tự nhiên
từ thức ăn chúng xâm nhập vào cơ thể hoặc do ảnh hưởng từ con đực thông qua
giác quan như thính giác, thị giác, xúc giác… Các kích tố này truyền thông đến
11

trung khu cảm giác của vỏ đại não. Vỏ đại não tiếp thu yếu tố ngoại cảnh từ nội
tại truyền đến vùng dưới đồi (Hyphothalamus). Hypothalamus tiết ra GnRH
(Ganadotropin Realising Hoormon) gồm hai thành phần FRH và LRH; ngoài ra
Hypothalamus còn tiết ra PRH (Prolactin Realising Hoormon), FRH kích thích
thuỳ trước tuyến yên tiết ra FSH (Follculin Stimalin Hoormon), FSH theo máu
tuần hoàn kích thích buồng trứng phát triển và làm trứng rụng.
Trứng chín tiết ra noãn bào tố Oestrogen , sau đó Oestrogen theo máu tuần
hoàn khắp cơ thể, tác động đến trung khu đại não làm hưng phấn sinh dục (thực
hiện các triệu chứng động dục bên ngoài), tác độnh đến đường sinh dục, làm
biến đổi bộ máy sinh dục.
LRH kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết ra FSH, FSH chỉ có tác động làm

Giai đoạn này kéo dài 3 ngày, ở giai đoạn này mọi hoạt động sinh dục rất
mãnh liệt. Âm đạo chảy dịch nhầy trong suốt và keo (độ dính cao), âm hộ đỏ tái
(màu mận chín). Vùng thắt âm đạo và âm hộ mở ra hoàn toàn, sừng tử cung tăng
về thể tích, cơ tử cung tăng cường co bóp, các mạch máu trong niêm mạc tử
cung giãn nở hơn. Các tuyến tăng tiết pH dịch nhờn âm đạo hơi thấp 6,7 so với
7,0 lúc bình thường. Nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 - 0,5
o
C. Dịch nhầy âm đạo có
nồng độ Ca
++
, K
+
, Na
+
cao làm cho độ dẫn điện tăng, điện trở âm đạo giảm xuống
thấp, thấp nhất khi lợn chịu đực và rụng trứng.
Buồng trứng có nhiều thay đổi trên bề mặt có nhiều nang trứng nổi rõ nhưng
chưa đạt tới mức độ chín hoàn toàn. Ở nái tơ thường 8 - 14 cái, ở lợn nái cơ bản
12 - 20 cái có khi hơn. Ở lúc 0h chịu đực các bao noãn to, màng bao noãn mỏng
nhưng trứng vẫn chưa rụng do vậy không nên phối vào lúc 0 giờ chịu đực. Trứng
chỉ võ sau 30 - 32 giờ kể từ lúc 0 giờ. Trứng rụng các thể vàng được hình thành
từ các nang trứng bị vỡ.
2.2.4.3.
Giai đon sau đng dc.
Giai đoạn này kéo dài khoảng 3 - 4 ngày các dấu hiệu của hoạt động sinh dục
giảm dần. Có thể lợn cái vẫn tìm đực nhưng không cho giao phối. Âm hộ teo lại
tái nhạt. Vùng thắt âm hộ - âm đạo co bóp. Niêm mạc tiền đình âm đạo màu
trắng hơi ướt. Dịch âm đạo chứa nhiều bạch cầu và các tế bào biểu mô. Trong
buồng trứng đã có nhiều thể vàng.
2.2.4.4.

Nhưng chủ yếu là protein, ure, muối, đường, kích tố nhau, sinh tố, Oxytocin…
Tác dụng của nước ối là giữ cho nhau ở trạng thái cân bằng tránh sự
chèn ép của các cơ quan phụ tạng của mẹ và giúp cho thai nhi tránh được tác
nhân cơ học tác động từ bên ngoài,ngoài ra còn làm cho các tổ chức xung quanh
không dính vào thai nhi. Khi gia súc để túi màng ối vỡ có tác dụng bôi trơn
14

đường sinh dục để quá trình đẻ được dễ dàng hơn.
+ Màng niệu là màng nằm giữa màng đệm và màng ối, màng niệu từ hốc
bụng của phôi thò ra mà hình thành có thể coi như một bóng đái ngoài cơ thể.
Trong màng niệu có chứa nước niệu, thành phần hoá học của nước niệu là ure và
một số muối.
+ Màng nhung là màng ngoài cùng, trên màng nhung có lông nhung (núm
nhau), lông nhung của các loài gia súc khác nhau thì khác nhau. [Theo nguồn 8]
2.2.5.2. Quá trình hình thành của thai nhi và sự đoán tuổi của thai nhi
+ Khi gia súc đẻ non cần xác định tuổi của thai nhi để tìm ra nguyên nhân, từ
đó đề ra biện pháp phòng trị, giúp ta đoán được tuổi của thai.
+ Các giống khác nhau thì có sự khác rất lớn về kích thước sủa thai nhi, ngay
trong một ổ thai có kích thước to nhỏ khác nhau, trung bình giao động trong
khoảng.
- Tháng thứ nhất: thân dài 1,6 - 1,8cm, các bộ máy trong cơ thể bắt đầu
hình thành.
- Tháng thứ hai: 35 ngày thân dài 5cm, 60 ngày thân đã dài 8cm, ngoại hình
rõ và co thể phân biệt được giới tính của thai nhi.
- Tháng thứ ba: thân dài 14 - 18cm, tại mép, đuôi đã có lông to nhỏ. Trước
khi đẻ thân dài 20 - 25cm, toàn bộ thân bao phủ bở lớp lông dày, xương sọ cứng,
đã có răng cưa và răng nanh.
Công thức tính dài thân: DT = X(X+2); trong dó DT là độ dài thân, x là số
tháng của thai. [Theo nguồn 5].
2.2.5.3. Nội tiết trong thời gian mang thai

buồng trứng kéo về phía trước và hơi thấp xuống. Máu được lưu thông đến tử
cung rất nhiều để tăng cung cấp chất dinh dưỡng và Oxy để nuôi sống bào thai.
- Cổ tử cung: niêm mạc cổ tử cung dày lên, trên niêm mạc có tế bào tiết ra
dịch keo dính gây hiện tượng đóng nút cổ tử cung lại không cho các tác nhân bên
ngoài tác động hoặc xâm nhập vào bào thai. Dịch này có tính axit yếu nên không
chảy vào tử cung mà chảy ra âm đạo, trước khi đẻ, dịch này lỏng và chảy ra
ngoài. [Theo nguồn 7].
2.2.6. Các nguyên nhân và triệu chứng của các bệnh sản khoa
2.2.6.1.Bệnh sẩy thai
16

2.2.6.1.1.Nguyên nhân
+Sẩy thai truyền nhiễm:
- Do vi trùng.
Nguyên phát: Do vi trùng Brucella, phẩy khuẩn vibrio foetus.
Thứ phát: Do bệnh lở mồm long móng, đóng dấu, dịch tả và xoắn trùng.
- Sẩy thai do kí sinh trùng.
Nguyên phát: Roi trùng trichomonois foctus (thường kí sinh ở đường sinh
dục bò)
Thứ phát: ký sinh trùng đường máu: Biên trùng, tiên mao trùng, sán lá gan…
+ Sẩy thai không truyền nhiễm:
- Sẩy thai do ngoại thương:
Thành bụng bị kích thích mạnh.
Làm việc quá nặng nhọc.
Khám thai kỹ thuật kém.
Khi có thai vẫn cho đực nhảy hoặc thụ tinh nhân tạo.
Khi điều trị làm con vật quá đau đớn.
- Sẩy thai do triệu chứng: Có thai nhưng con vật bị bệnh đường sinh
dục, viêm mãn tĩnh, khối u tử cung, viêm âm đạo, viêm buồng trứng, rối
loạn nội tiết…

bơm nước 40-45 vào tử cung hoặc dung dịch NaCl 5 %, lugol 1 % hoặc dùng
huyết thanh ngựa chửa sau đó xoa bóp thẻ vàng.
2.2.6.1.2. Triệu chứng
Sẩy thai hoàn toàn: Toàn bộ thai được tống ra ngoài trước thời kỳ sinh đẻ,
cũng có thể toàn bộ thai hoặc phôi bị tiêu hút, xác khô và nằm lại trong tử cung.
Sẩy thai không hoàn toàn:
Một số thai được đẩy ra ngoài trước lúc đến ngày đẻ còn các thai khác vẫn
phát triển bình thường.
Một số thai bị tiêu hút đươc đẩy ra hoặc nằm lại trong đường sinh dục, một
số thai khác vẫn phát triển bình thường.
2.2.6.2. Bệnh sót nhau
2.2.6.2.1.Nguyên nhân
- Do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân sau:
- Sau khi dẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian có thai nhất là giai đoạn cuối
con vật không được vận động thỏa đáng. Trong thức ăn thiếu các chất khoáng,
nhất là Ca và P. Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo,
chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung
giãn nở quá mức.
- Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác.
18

- Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền
nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu tạo
của nhau.
2.2.6.2.2.Triệu chứng
Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung. Khi mắc
thường là
có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn.
Sót nhau không hoàn toàn:

đạo thấy một ít mủ chảy ra.
Độ 2: Dịch tiết ra đọng lại ở âm đạo vẩn đục có mủ.
Độ 3: Mủ chảy ra nhiều.
Độ 4: Nếu cổ tử cung mổ mủ chảy ra nhiều, nếu cổ tử cung đóng mủ tích. Ở
độ 4 viêm rất nặng trên niêm mạc tử cung và bị hoại tử sau đó ăn sâu xuống lớp
cơ, dẫn đến viêm tử cung hoại tử, viêm tử cung có màng giả.
2.2.6.3.2. Triệu chứng
- Nhiệt độ cơ thể hơi tăng, kém ăn, lượng sữa giảm
- Con vật cong lưng rặn, dịch trong tử cung chảy ra có lợn cợn lẫn mủ.
- Đuôi dính bết niêm dịch đóng thành mảng khô.
- Dùng mỏ vịt kiểm tra thấy cổ tử cung hơi mở có khi có mủ chảy ra.
- Nếu kiểm tra qua trực tràng kích thích tử cung vuốt nhẹ từ sừng tử cung
đến cổ mủ sẽ chảy ra ngoài.
- Dùng dẫn tinh quản hút dịch ra để kiểm tra.
- Kiểm tra thấy thể vàng tồn tại.
2.2.6.4. bệnh bại liệt sau khi đẻ
2.2.6.4.1. Nguyên nhân
Do kỹ thuật đỡ đẻ không tốt nhất là khi đẻ khó làm ảnh hưởng khớp bán
động háng,thần kinh toạ hoặc do chế độ dinh dưỡng.
2.2.6.4.2.Triệu chứng
Nếu nặng con vật bị liệt hai chân sau không đi được, trong trường hợp liệt
do gãy xương con vật đau đớn va có hiện tượng tốt do nhiễm trùng.
2.2.6.5. Bệnh viêm vú
20

2.2.6.5.1.Nguyên nhân
- Khi bú con cắn loét đầu vú.
- Chuồng trại bẩn, con vật kéo lê bầu vú trên sàn chuồng.
- Do ngoại thương kỹ thuật vắt sữa.
- Do vi trùng có thể xâm nhập qua lỗ đầu vú, ống lâm ba hoặc huyết quản.

biểu hiện động dục, con vật biểu hiện triệu chứng động dục chậm hơn binh
thường.
+ Đối với bệnh vô sinh: nếu khám qua trực tràng kiểm tra không có thể vàng,
con vật không có triệu chứng động dục và thụ tinh không có kết quả. [Theo
nguồn 5].
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Trên đàn lợn nái nuôi tại các hộ gia đình trên địa bàn huyện Thanh Chương
tỉnh Nghệ An
2.3.2. Nội dung nghiên cứu:
Điều tra 6 bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái là bệnh sẩy thai, sót nhau,
viêm tử cung, bại liệt, viêm vú, chậm sinh-vô sinh.
Phân tích tỷ lệ mắc bệnh sinh sản chung ở đàn lợn nái trên địa bàn huyện
Thanh Chương
Phân tích tỷ lệ mắc bệnh sinh sản giữa các vùng sinh thái khác nhau: Đồng
bằng,trung du, miền núi.
Phân tích tỷ lệ mắc bệnh sản khoa giữa cá lứa để khác nhau.
So sánh tỷ lệ mắc bệnh sản khoa giữ các giống lợn khác nhau.
Nêu ra một số biện pháp khắc phục.
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu:
- Chọn địa điểm điều tra: Điều tra tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên địa bàn 3 xã:
Thanh Văn, Thanh Hòa, Ngọc Lâm đặc trưng cho 3 vùng sinh thái tương ứng là:
Đồng bằng, Trung du, Miền núi.
- Lập bảng điều tra thống nhất.
- Tìm đọc tài liệu tham khảo và thu thập khối lượng ở trạm thú y.
- Đi đến các xã điều tra, kết hợp với thú y cơ sở đến từng hộ gia đình nuôi
lợn nái phỏng vấn thu thập các thông tin cần thiết.
22

- Thống kê, phân loại theo các chỉ tiêu đã điều tra.

23

kém dinh dưỡng, lợn nái thiếu Vitamin A, D, E gây chậm phát triển buồng trứng,
chậm động dục, lợn cai sữa không động dục trở lại; chế độ vận động của lợn nái
còn ít …
Bệnh này một phần chủ yếu cũng do phối giống kém, phát hiện động dục và
chọn thời điểm dẫn tinh thích hợp là vấn đề khó khăn với người dân ở đây.
Các nguyên nhân khác như kế phát từ bệnh viêm tử cung làm cho lợn chậm sinh
– vô sinh hay do rối loạn nội tiết do hàm lượng FSH và LH không cân đối (tỷ lệ
cân đối FSH/LH = 1/3) làm cho gia súc động dục nhưng trứng không rụng và thụ
tinh không có kết quả.
• Bệnh sẩy thai chiếm tỷ lệ khá cao 9.46%
Nguyên nhân chủ yếu vẫn là vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng ở thời kỳ mang thai,
vì ở thời kỳ này lợn nái cần một hàm lượng dinh dươngz cao như protid, Vitamin
và khoáng chất. Thiếu dinh dưỡng dẫn tới bào thai phát triển không tốt gây chết
thai,thai tiêu và sẩy thai.
Nguyên nhân nữa là do ngộ độc thức ăn, kế phát từ các bệnh truyền nhiễm, ký
sinh trùng như: Lở mồm long móng, tụ huyết trùng, sán lá gan, trichomonas…và
cũng do tác động cơ học hay dùng thuốc không đúng chỉ định cũng gây sẩy thai.
• Bệnh bại liệt chiếm tỷ lệ 7.57%
Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng qua thực té chúng tôi thấy rằng nguyên
nhân chính vẫn là vấn đề chăn sóc nuôi dưỡng, trong quá trình nuôi dưỡng khẩu
phần ăn cho lợn nái không được cân bằng về dinh dưỡng. Người dân ở đây chủ
yếu dưa vào nguồn phụ phế phẩm từ nông nghiệp làm thức ăn cho lợn nái, mức
đầu tư cho lợn nái còn rất thấp, trong khi đó nhu cầu của lợn nái là rất lớn.
khẩu phần thức ăn không đủ protid, khoáng chất mà lại còn nhiều glucid. Đối
với khoáng chất, nhu cầu lợn nái sinh sản cần nhu cầu cao, đặc biệt là canxi và
photpho. Hai loại khoáng đa lượng này nếu thiếu quá mức thì sẽ làm cho lợn nái
mắc bệnh bại liệt trước và sau khi đẻ chiếm tỷ lệ cao.
nguyên nhân khác như cơ thể lợn mẹ qua nhỏ, lại dẫn tinh quá sớm, hay dẫn tinh

chung tỷ lệ trung bình mắc bệnh sản khoa cao 7.34%. Điều này nó phản ánh
được một phần nào về trình độ chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái của bà con
nông dân huyên Thanh Chương là chưa tốt.
2.4.2.Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái giữa 3 vùng sinh thái khác nhau
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status