Theo dõi tình hình nhiễm một số bệnh sinh sản của đàn lợn nái tại trại Hà Duy Văn phường Lương Châu thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên và phác đồ điều trị - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------------------

HOÀNG THỊ HỒNG

Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH NHIỄM MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN CỦA ĐÀN
LỢN NÁI TẠI TRẠI HÀ DUY VĂN - PHƢỜNG LƢƠNG CHÂU
THỊ XÃ SÔNG CÔNG - TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ
PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Sƣ phạm kỹ thuật nông nghiệp
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------------

HOÀNG THỊ HỒNG
Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH NHIỄM MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN CỦA ĐÀN
LỢN NÁI TẠI TRẠI HÀ DUY VĂN - PHƢỜNG LƢƠNG CHÂU
THỊ XÃ SÔNG CÔNG - TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ

Nguyên, Ban lãnh đạo trại lợn Hà Duy Văn đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em
hoàn thành đề tài tốt nghiệp này. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
cô giáo TS. Hồ Thị Bích Ngọc đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong
suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên em
trong suốt thời gian học tập và rèn luyện. Em xin kính chúc toàn thể các thầy cô
giáo sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt, chúc Ban lãnh đạo trại lợn Hà Duy Văn
cùng các anh chị em công nhân mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công. Chúc các bạn
sinh viên luôn mạnh khỏe, học tập đạt kết quả cao.
Em xin chân thành và trân trọng cảm ơn.
Thái Nguyên, ngày 24 tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Hoàng Thị Hồng


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn nái tại trại trong 3 năm trở lại đây ...................................31
Bảng 4.2. Lịch tiêm phòng của trại ...........................................................................32
Bảng 4.3. Kết quả tiêm phòng, điều trị bệnh và các công tác khác ..........................33
Bảng 4.4. Kết quả theo dõi một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản nuôi
tại trại ..............................................................................................................34
Bảng 4.5. Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản theo lứa đẻ .............................................35
Bảng 4.6. Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản theo tháng ..............................................37
Bảng 4.7. Triệu chứng của một số bệnh sinh sản ở lợn nái ......................................39
Bảng 4.8. Kết quả điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại trại .........41


: Mililit

kg

: Kilogam

Nxb

: Nhà xuất bản

TT

: Thể trọng

VNĐ:

: Việt Nam đồng


v

MỤC LỤC

Trang
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ......................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ......................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT ........................................................ iv

4.1.2. Tình hình thú y tại trại .....................................................................................31
4.2. Tình hình dịch bệnh và kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái sinh sản ......33
4.2.1. Kết quả theo dõi một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản nuôi
tại trại.........................................................................................................................33
4.2.2. Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản của đàn nái nuôi tại trại theo lứa đẻ .............35
4.2.3. Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản của đàn nái nuôi tại trại theo tháng..............37
4.2.4. Triệu chứng của một số bệnh sinh sản ở lợn nái .............................................38
4.2.5. Kết quả điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái nuôi tại trại ..........41
4.2.6. Tỷ lệ lợn nái tái phát các bệnh sinh sản sau khi đã điều trị khỏi ....................42
4.2.7. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị ...............................................................42
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................45
5.1. Kết luận ..............................................................................................................45
5.2. Đề nghị ...............................................................................................................45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tiếng Việt
II. Tiếng Anh
III. Các tài liệu tham khảo từ internet


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và đa dạng hóa các ngành nghề theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, trong quá trình từng bước hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế thế giới, ngành nông nghiệp nước ta cũng phải chuyển mình để phù hợp
với xu thế phát triển mới. Để có thể đạt được những thành tựu vượt bậc, ngành
nông nghiệp cần chú trọng hơn nữa việc phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi



3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái
Trong cơ quan sinh sản, bộ phận sinh dục của lợn cái được chia thành bộ
phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và bộ phận sinh dục bên trong
(buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) .
 Bộ phận sinh dục ngoài.
Bộ phận sinh dục ngoài: là phần có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được,
bao gồm: âm hộ, âm vật, tiền đình.
 Âm hộ (vulva):
Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn. Bên ngoài có 2 môi đính
với nhau ở mép trên và mép dưới. Trên hai môi của mỗi âm hộ có sắc tố đen, tuyến
mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính.
 Âm vật (Clitoris):
- Nằm ở phía dưới hai mép của âm hộ. Âm vật có cấu tạo như dương vật
nhưng thu nhỏ lại và là tạng cương của đường sinh dục cái, được dính vào phần trên
khớp bán động ngồi, bị bao xung quanh bởi cơ ngồi hổng.
- Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm
giác, lớp thể hổng và tổ chức liên kết bao bọc gọi là mạc âm vật.
 Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis):
- Tiền đình là giới hạn giữa âm đạo và âm môn. Trong tiền đình có màng
trinh, phía trước màng trinh là âm môn, phía sau màng trinh là âm đạo.
- Màng trinh là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phía sau
thông với âm hộ. Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm mạc
gấp lại thành một nếp.

Estrogen, Progesterone, Oxytocin, Relaxin và Inhibin. Các hocmon này tham gia
vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái. Estrogen cần thiết cho sự phát triển
của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú. Progesterone do thể vàng tiết ra giúp
duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai,


5

ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú. Oxytoxin
được tiết chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên nhưng cũng dược tiết bởi thể vàng ở
buồng trứng khi thú gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng
làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa. Ở lợn, Relaxin do thể vàng tiết ra để gây
dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi
gần sinh. Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên,
do đó ức chế sự phát triển nang noãn theo chu kỳ.
- Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác
nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong
là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt
buồng trứng.
- Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: noãn nang nguyên thuỷ, noãn nang
bậc một, noãn nang bậc hai, noãn nang bậc ba.
- Buồng trứng của lợn hình chùm dâu, có màu hồng vân, kích thước noãn bào
thành thục 0,8 -1,2 cm.
 Ống dẫn trứng (Oviductus):
- Ống dẫn trứng còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo buồng trứng. Đường
kính ống dẫn trứng 0,2 - 0,4 mm, được chia làm hai đoạn là ống dẫn trứng phía
buồng trứng, ống dẫn trứng phía sừng tử cung.
- Cấu tạo Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo.
Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp
xúc với buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần rộng. Phần rộng chiếm

tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và và các tế bào bong ra từ biểu
mô âm đạo.
2.1.2. Sinh lý sinh sản của lợn nái
 Sinh lý sinh dục của lợn nái
Sinh lý sinh dục của lợn nái được biểu hiện ở các chỉ tiêu: Tuổi động dục lần
đầu, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu, chu kì động dục, tuổi đẻ lứa đầu,
thời gian động dục trở lại...
* Tuổi động dục lần đầu: tính từ lúc sơ sinh cho đến lợn nái hậu bị lần đầu
tiên động dục, mỗi giống có tuổi động dục đầu tiên khác nhau. Tuổi động dục đầu
tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 - 25kg.


7

Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có
1/2 máu nội) động dục lần đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg.
Lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tuổi động dục là từ 6 đến 7 tháng khi
lợn có khối lượng 65 - 80kg (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2003) [6].
Theo Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo, (2004) [14] cho biết: Tùy theo giống,
điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau.
Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày
tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn
từ 7 - 8 tháng tuổi.
Ở lợn Ỉ, lợn Móng Cái lúc 3 tháng tuổi đã có con có biểu hiện động dục, lúc
bấy giờ thể trọng của chúng chỉ bằng 1/4 so với lợn trưởng thành. Tuổi động dục
lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ. Lợn nái hậu bị được sinh vào mùa thu sẽ động dục
sớm hơn so với lợn nái hậu bị sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn
Duy Hoan, 1998) [1].
Theo Lê Xuân Thọ và Lê Xuân Cương (1979) [21], đối với lợn nái hậu bị
và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm huyết thanh ngựa chửa có thể gây

không cho phối giống vì bộ máy sinh dục chưa phục hồi và trứng rụng chưa đều.
Sau cai sữa 3 - 5 ngày (lúc lợn con 45 - 50 ngày tuổi) lợn nái động dục trở lại. Cho
phối giống lúc này dễ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao (Hội chăn
nuôi Việt Nam, 2002) [8].
Theo Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, (2004) [12] cũng cho biết: Lợn nái sau
khi đẻ có hiện tượng động dục trở lại sau 3 - 4 ngày thấy nhiều ở giống lợn nội.
Nhưng lúc này bộ máy sinh dục của lợn mẹ chưa phục hồi, trứng chín chưa đều, vì
thế không nên cho lấy đực. Thường sau khi cai sữa lợn con, sớm từ 28 - 35 ngày
tuổi hoặc muộn hơn (50 - 55 ngày tuổi) khoảng 3 - 5 ngày thì lợn mẹ động dục trở
lại, cho thấy lấy đực dễ đậu thai và trứng chín nhiều sẽ có nhiều con.
- Đặc điểm động dục của lợn nái: Hội Chăn nuôi Việt Nam, (2002) [8] cho
rằng ở lợn nái khi động dục có thể chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu)
Giai đoạn chịu đực (phối giống)
Giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)


9

+ Ở giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không
cho con khác nhảy lên lưng. Sự rụng trứng thể hiện sau khi có hiện tượng trên đối
với lợn ngoại và lợn lai là 35 - 45h, với lợn nội là 25 - 30h.
+ Ở giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng
gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực
đến gần và cho đực nhảy. Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ
thụ thai, lợn nội có thời thời gian ngắn hơn 28 - 30h.
+ Ở giai đoạn sau chịu đực: Lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở,
đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng.
- Thời điểm phối giống thích hợp: Trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3h,
còn có giá trị thụ thai. Tinh trùng sống trong âm đạo lợn nái 30 - 48h. Thời điểm

phản xạ, do những kích thích vào bầu vú gây nên. Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương
đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau. Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá
trình tiết sữa, khi lợn con thúc vú mẹ những kích thích này truyền lên vỏ não, vào
vùng Hypothalamus, từ kích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố Oxytocin tiết vào
máu, kích tố này đi vào tuyến bào kích thích lợn nái thải sữa. Do tác động của
Oxytocin trong máu khác nhau cho nên các tuyến vú khác nhau có sản lượng sữa
khác nhau. Nhưng vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn những vú ở phần sau. Lượng
sữa của lợn nái tăng co dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó
giảm dần (Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo, 2004) [14].
Vì vậy để đảm bảo tính đồng đều của ổ lợn ta nên cố định những con nhỏ
hơn bú vú trước, cần tách riêng lợn con đẻ trước chờ đến khi đẻ xong mới cho cả
đàn vào bú, nhưng nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu, chậm nhất là 2h sau đẻ,
để lợn con có đủ kháng thể trong năm tuần đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn
mẹ có chứa  globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng.
- Khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức ăn,
giống lợn và số lượng lợn con. Lượng sữa mẹ tiết ra nhiều nhất vào tuần thứ 2 - 3.
Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa của lợn mẹ khác nhau.
 Năng suất sinh sản của lợn
Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/năm. Tuy nhiên,
điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất sinh sản
của lợn.


11

Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu: Số con sơ
sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ lệ nuôi sống, số lứa
đẻ/năm...
2.1.3. Căn bệnh
 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn nái.

tử cung.
 Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe
- Lợn đẻ lứa đầu cơ quan sinh dục, đặc biệt là tử cung có sự co giãn lớn nhất
lần đầu tiên, nên dễ gây xây xát cơ quan sinh dục gây viêm tử cung. Trong những
lứa đẻ đầu, lợn nái thường bị rách âm đạo nên bị viêm nhẹ, lợn nái mới đẻ lứa đầu
xoang chậu còn hẹp và ở những con nái đẻ khó, phải can thiệp bằng tay thì gần như
100% số con bị viêm tử cung gây sốt nóng, làm giảm sữa nuôi con. Đối với nái đẻ
nhiều lứa tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản cao, do niêm mạc tử cung đã trở lên thô ráp
hơn, khả năng đàn hồi kém hơn, sức đề kháng của nái giảm, phải can thiệp nhiều
trong quá trình sinh sản.
- Lợn nái già sức khỏe kém, kế phát một số bệnh nên sức rặn đẻ yếu, thời
gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ đưa đến viêm tử cung.
 Kích dục tố
Oxytocin có tác dụng kích thích co bóp tử cung tống sản dịch, nhau ra khỏi
đường sinh dục làm giảm tỷ lệ viêm tử cung. Nếu dùng Oxytocin để kích dục đẻ
không đúng liều lượng hoặc không đúng thời điểm cũng gây nên hiện tượng rối
loạn sinh sản trên lợn nái sau khi sinh.
 Nhiễm trùng sau khi sinh
- Khi gia súc đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc
dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát
triển gây viêm.
- Thời gian đẻ lâu là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ quan
sinh dục của lợn nái gây viêm nhiễm.
- Vệ sinh chuồng trại cho lợn nái sau khi sinh không đảm bảo là môi trường
tốt cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển dẫn đến mắc các bệnh sinh sản ở lợn nái.
- Hiện tượng sót nhau, sảy thai hoặc thai chết do các bệnh truyền nhiễm, nếu
không can thiệp kịp thời, đúng kỹ thuật cũng sẽ gây ra bệnh viêm tử cung.


13



14

triển gây viêm. Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, bệnh lao... thường gây viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 1999) [22].
- Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, (2004) [12] còn cho biết khi lợn đẻ, cổ tử
cung, mép âm hộ bị rách, bị nhiễm trùng kế phát gây viêm. Chuồng đẻ nền bẩn, dây
rốn lợn con và nhau thai nhiễm trùng rồi co thụt vào gây viêm.
- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát và tạo ra các ổ viêm nhiễm
trong âm đạo tử cung. Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không được
vô trùng đã đưa các vi khuẩn gây viêm nhiễm vào đường sinh dục của lợn nái. Do
lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật, khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn
nái (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1995) [9].
- Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài, (2002) [5] cho biết: Nguyên nhân gây
ra bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) liên
cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella,
dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas fortus) và do nấm Candda
albicans.
- Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh (2007) [16], có thể khẳng định
rằng việc dùng tay móc thai khi lợn đang đẻ nhằm rút ngắn thời gian sổ thai của mẹ
là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi theo mô hình
trang trại hiện nay.
 Triệu chứng:
Bệnh xảy ra ở tất cả các giống lợn và ở các giai đoạn khác nhau nhưng
thường xảy ra ở giai đoạn sau khi sinh từ 1 - 10 ngày.
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [16], khi lợn nái bị viêm các chỉ tiêu lâm
sàng như thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng so với lợn nái bình thường. Lợn bị sốt
theo quy luật lên xuống. Sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C. Con vật ăn kém,
sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái, từ cơ quan sinh dục

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục
của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn
con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển. Lợn nái
chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh
sản ở lợn nái (http:www.pkh-vcn.org, 2007) [29].


16

Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của
cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh
trùng, tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolysin (độc tố làm tiêu tinh
trùng). Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây
bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dạ
con bất lợi như thế cũng dễ bị chết non.
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong
cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc...)
dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương
vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không
bình thường.
 Chẩn đoán:
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: Lợn nái luôn ở tư thế như rặn đái.
Kiểm tra trực tiếp đường sinh dục lợn nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, niêm
dịch từ tử cung âm đạo chảy ra nhiều dịch nhầy lẫn mủ trắng đục mùi hôi khắm...
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đằng Phong (2000) [13] cho biết: Khi kiểm
tra qua trực tràng có thể cảm thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to, thành tử cung
dày, khi sờ vào phản ứng co lại của sừng tử cung yếu.
Nếu trong tử cung có tích nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng.
Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn khó phát hiện có thể chẩn đoán
lúc động hớn qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiều đôi khi có những đám mủ từ

điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm trên bầu vú. Lợn nái ăn
thức ăn nhiều đạm quá sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết, sữa ứ đọng tạo thành
môi trường cho vi trùng sinh sản nhiều (Trương Lăng, 2000) [10].
+ Lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm.
+ Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu
cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng.
Các bệnh viêm vú ở lợn nái thường phát sinh nhiều nhất khi không tuân thủ
các nguyên tắc vệ sinh thú y trong việc nuôi lợn chửa và lợn con cho bú. Đặc biệt là
mùa hè thường có nhưng điều kiện thuận lợi để tích luy các hệ vi khuẩn gây bệnh
trong cơ sở chăn nuôi.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status