Xây dựng mô hình quản lý rác thải sinh hoạt cộng đồng tại thị trấn vũ thư, huyện vũ thư, tỉnh thái bình - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
o0o
TRẦN TRUNG KIÊN XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT
CỘNG ĐỒNG TẠI THỊ TRẤN VŨ THƯ, HUYỆN VŨ THƯ
TỈNH THÁI BÌNH

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60.44.03.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIẾM

HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i

LỜI CAM ĐOAN

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô phụ trách sau đại học,
Khoa Môi trường đã tận tình dậy bảo tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Văn Điếm đã dành rất
nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn
tốt nghiệp này.
Nhân đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban quản lý đào tạo sau đại học
Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tạo nhiều điều kiện cho tôi học tập và hoàn
thành tốt khóa học.
Mặc dù tôi đã rất cố gắng hoàn thành bản luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình
và năng lực của mình, tuy nhiên thời gian và năng lực có hạn nên không thể tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy
cô và các bạn.

Hà Nội, ngày 1 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Trung Kiên Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii

2.2.2 Đánh giá hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt (nguồn phát sinh, số lượng,
thành phần RTSH tại khu vực nghiên cứu). 24
2.2.3 Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt, những mặt khó khăn, thách thức của địa phương. 24
2.2.4 Xây dựng mô hình quản lý RTSH dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao
hiệu quả của công tác quản lý chất thải sinh hoạt tại thị trấn Vũ Thư. 24
2.2.5 Đề xuất một số giải pháp thực hiện mô hình tại thị trấn Vũ Thư và các
địa bàn có điều kiện tương tự. 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 24
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 24
2.3.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 25
2.3.4 Phương pháp xây dựng mô hình 25
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội huyện Vũ Thư 27
3.1.1 Vị trí địa lý huyện Vũ Thư 27
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28
3.1.4 Khái quát tình hình và kết quả hoạt động kinh tế - xã hội của huyện
Vũ Thư 31
3.2 Hiện trạng rác thải sinh hoạt ở khu vực thị trấn Vũ Thư 39
3.3 Các mô hình quản lý RTSH hiện nay trên địa bàn huyện Vũ Thư 48
3.3.1 Mô hình do dân tự tổ chức 48
3.3.2 Mô hình do địa phương tổ chức 49
3.3.3 Bài học kinh nghiệm 50
3.4 Xây dựng mô hình quản lý rác thải sinh hoạt trên cơ sở cộng đồng tại
thôn Việt Phong xã Tân Lập, huyện Vũ Thư 51

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

KH&CN Khoa học và công nghệ
MTĐT Môi trường đô thị
NĐ Nghị định
NQ Nghị quyết
OECD Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
PGS.TS Phó Giáo sư, tiến sĩ
QĐ-TTg Quyết định Thủ tướng
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
VSV Vi sinh vật Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii

DANH MỤC BẢNG

1.1 Thành phần và khối lượng chất thải rắn ở Việt Nam năm 2010 5
1.2 Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở một số huyện 7
1.3 Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở một số thị trấn (9) 8
1.4 Thống kê các biện pháp xử lý chất thải rắn ở một số thị trấn 9
1.5 Thống kê các biện pháp xử lý chất thải rắn một số xã 9
1.6 Kết quả đo chỉ số vi sinh vật trong mẫu đất tại 2 bãi rác 13
1.7 Các bước lập kế hoạch môi trường có sự tham gia của CĐ 21
3.1 Tình hình sử dụng đất huyện Vũ Thư năm (2009 - 2013) 28
3.2 Tình hình cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Vũ Thư năm 2013 29
3.3 Khu công nghiệp và cụm công nghiệp huyện Vũ Thư 30
3.4 Khối lượng CTSH phát sinh từ hộ gia đình 40
3.5 Hiện trạng lượng chất thải rắn của thị trấn Vũ Thư và 3 xã 41
3.6 Thành phần CTSH khu vực thị trấn Vũ Thư 41

3.1 Bản đồ hành chính huyện Vũ Thư 27
3.2 Bãi rác lộ thiên của thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình 44
3.3 Lò đốt rác thải của thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình 44
3.4 Bãi rác ven đê xã Tự Tân, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình 45
3.5 Xe cải tiến thu gom rác của thị trấn Vũ Thư 46
3.6 Bản đồ thôn Việt Phong, xã Tân Lập 51
3.7 Sơ đồ mô hình quản lý chất thải sinh hoạt 56
3.8 Bản đồ quy hoạch tuyến thu gom chất thải sinh hoạt thôn Việt Phong 58
3.9 Sơ đồ thu gom chất thải rắn 59
3.10 Xe thu gom chất thải sinh hoạt thôn Việt Phong 65
3.11 Tờ rơi phân loại chất thải rắn tại hộ gia đình 66
3.12 Bao tải chứa chất thải rắn tại các hộ gia đình 67
3.13 Quy trình sử dụng bao đựng chất thải rắn sinh hoạt 67
3.14 Mặt bằng khu chế biến phân hữu cơ compost tại Việt Phong 69
3.15 Sơ đồ công nghệ sản xuất phân hữu cơ compost 70
3.16 Sơ đồ mặt bằng bãi chôn lấp RTSH thôn Việt Phong 71
3.17 Hội nghị tổng kết mô hình quản lý RTSH thôn Việt Phong 72 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa tại các thành
phố và khu đô thị ở Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ kèm theo những hệ lụy về vấn
đề về môi trường, đặc biệt là vấn đề về rác thải. Ở nông thôn, do đô thị hóa nông
thôn, sự phát triển cơ sở hạ tầng nên nhu cầu sinh hoạt, mức sống ngày càng cao dẫn
đến tải lượng chất thải sinh hoạt ngày càng nhiều, thành phần chất thải phức tạp.

2.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng rác thải sinh hoạt và thử nghiệm mô hình quản lý rác
sinh hoạt cộng đồng để đề xuất giải pháp thực hiện mô hình tại khu vực thị trấn
Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá đầy đủ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực thị trấn Vũ
Thư ảnh hưởng đến rác thải sinh hoạt và việc quản lý rác thải sinh hoạt.
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt của thị trấn,
phát hiện những khó khăn, thách thức trong quản lý rác thải sinh hoạt.
- Xây dựng mô hình quản lý rác thải sinh hoạt trên cơ sở cộng đồng tại thôn
Việt Phong, xã Tân Lập, huyện Vũ Thư.
- Đề xuất được giải pháp thực hiện mô hình quản lý RTSH có hiệu quả và
hợp vệ sinh tại địa phương. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Vấn đề môi trường rác thải
1.1.1. Vấn đề môi trường rác thải trên thế giới
Xã hội của chúng ta đang đô thị hóa một cách nhanh chóng, quản lý chất
thải sinh hoạt sẽ là một thách thức lớn đối với tất cả các đô thị trên thế giới. Cuộc
đấu tranh để đạt được mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và các mục tiêu về nước
sạch và vệ sinh môi trường đang được tiến hành ở hầu hết các đô thị, nơi mà
lượng chất thải rắn phát sinh đang ngày càng lớn. Với tỷ lệ đô thị hóa nhanh
chóng diễn ra trên khắp thế giới, một hệ thống quản lý chất thải rắn chặt chẽ và
hiệu quả là điều cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Đến năm 2015, số dân
đô thị sẽ tăng gấp đôi kể từ năm 1987 khối lượng chất thải rắn sẽ phát sinh nhiều
hơn đồng thời thành phần của chất thải cũng sẽ thay đổi theo.

trong khu vực phải đối mặt. Lượng phát sinh chất thải đô thị một số nước Châu Á
vào khoảng từ 0,2kg đến 1,7 kg/người/ngày.
Theo nguyên tắc thì các nước có thu nhập cao có lượng phát sinh chất thải
rắn đô thị cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây ở các nước đang phát triển cho
thấy, tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo các mức thu nhập khác nhau lại không theo
nguyên tắc này. Theo kết quả nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản
(JICA, 1997), tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị ở Philipin theo các nhóm người có
thu nhập khác nhau là: thu nhập cao: 0,37- 0,55 kg/người/ngày, thu nhập trung
bình: 0,37 - 0,60 kg/người/ngày và thu nhập thấp: 0,62 - 0,90 kg/người/ngày.
Tương tự, các kết quả phân tích tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị theo GDP tính
trên đầu người của các nước thuộc OECD, Hoa Kỳ và Ôxtrâylia được xếp vào
nhóm các nước có tỷ lệ phát sinh cao; nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu được
xếp vào nhóm có tỷ lệ phát sinh trung bình và Thụy Điển, Nhật Bản được xếp vào
nhóm có tỷ lệ phát sinh thấp (UN, 2005).
Có nhiều nguyên nhân để giải thích các trường hợp này. Thứ nhất là, không
thống kê được đầy đủ tổng lượng chất thải được tái chế do các hoạt động của khu
vực tái chế không chính thức hoặc do phương thức tự tiêu huỷ chất thải ở các nước
đang phát triển. Khu vực tái chế không chính thức ở các nước đang phát triển đã góp
phần đáng kể giảm thiểu tổng lượng chất thải phát sinh và thu hồi tài nguyên thông
qua các hoạt động tái chế. Thứ hai là, năng lực thu gom của các nước đang phát triển
còn thấp. Ví dụ, năng lực thu gom chất thải rắn độ thị của Ấn Độ là 72,5%; Malaixia:
70%; Thái Lan: 70-80%; và Philipin: 70% ở đô thị và 40% ở nông thôn (IGES, 2005).
Ngoài ra, tại một số nước có nền kinh tế phát triển, ví dụ như Nhật Bản, mặc dù thành
công trong tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn duy trì được tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô
thị thấp so với nhiều nước có GDP cao. Từ năm 2000, Nhật Bản mới bắt đầu áp dụng
khái niệm mới về xây dựng một “Xã hội tuần hoàn vật chất hợp lý” hay còn gọi là 3R,
nhưng từ những năm 1980, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị của Nhật Bản đã ổn
định ở mức khoảng 1,1 kg/người/ngày (Tokyo, 2005).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

Thức ăn, nhựa,
giấy, thủy tinh
6.400.000 6.400.000 12.800.000

Chất thải công
nghiệp nguy hại
Các cơ sở
công nghiệp
Xăng, dầu,
bùn thải, xỉ
thải, các chất
hữu cơ
126.000 2.400 128.400
Các chất thải y tế Bệnh viện
Mô, mẫu máu,
bơm kim tiêm
- - 21.500
Chất thải phi
nông nghiệp
8.266.000 7.172.000 15.459.900

Nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, 2010

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6

1.1.2.2. Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị của Việt Nam
Hiện nay mới chỉ có gần 3/4 rác thải đô thị Việt Nam được thu gom. Các
đô thị có tỉ lệ thu gom chất thải cao là các đô thị đã thực hiện tốt việc xã hội hóa
trong thu gom và vận chuyển RT sinh hoạt. Cả nước hiện có khoảng 150 đơn vị
hoạt động tổng hợp hoặc chuyên ngành trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn ở 93

chỉ ở trong giai đoạn thí điểm và thiếu sự phối hợp, khác biệt về lựa chọn
công nghệ, phương pháp điều hành, chưa được tổng kết đánh giá để nhân rộng
ra nhiều địa phương.
Hiện nay, hầu hết các công ty môi trường đô thị các tỉnh vẫn phụ thuộc rất
nhiều vào các nguồn bao cấp từ ngân sách của Chính phủ, sản xuất, kinh doanh thụ
động, hiệu quả chưa cao, năng lực thu gom, xử lý RT sinh hoạt còn thấp.
Chi phí cho dịch vụ quản lý chất thải rắn còn thấp. Tổng chi phí cho cơ sở
hoạt động quản lý chất thải rắn chủ yếu là chi cho hoạt động thu gom và vận
chuyển chất thải. Chi phí tiêu huỷ chất thải tương đối thấp. Khó khăn chủ yếu đối
với việc đảm bảo tính bền vững của các hoạt động đầu tư chủ yếu vẫn là chi phí
tài chính để vận hành các hệ thống quản lý chất thải.
1.1.2.3. Quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Hiện nay nhà nước mới chủ yếu đầu tư quản lý chất thải rắn đô thị, việc quản
lý chất thải rắn khu vực nông thôn còn thiếu nhiều khâu từ cơ chế, chính sách đến
trang thiết bị, cơ sở hạ tầng. Đã xuất hiện một số mô hình về quản lý chất thải rắn
nông thôn, tuy vậy mới dừng lại ở các mô hình thí điểm từ nghiên cứu đề tài khoa
học, dự án thí điểm hoặc tự phát do dân quá bức xúc mà đứng ra tổ chức. Từ những
lý do trên mà tỷ lệ chất thải rắn được thu gom rất thấp, chất thải rắn khu vực nông
thôn hiện nay chủ yếu là đổ lộ thiên và đốt thủ công.
Kết quả điều tra của dự án từ các huyện cho thấy tỷ lệ thu gom RT sinh
hoạt rất thấp, đặc biệt ở các huyện miền núi như Eakar - Đăc Lắc: 2,7% và vùng
biển như Giao Thủy – Nam Định: 3,64% (Bảng 1.2).
Bảng 1.2. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở một số huyện

Huyện
Tỷ lệ thu
gom RTSH
(%)
Huyện
Tỷ lệ thu

thị trấn và 28,5% số xã đã có tổ thu gom RTSH. Hoạt động của các tổ thu gom
không thường xuyên, số lần thu gom ở cấp xã 0,5-2 lần/tuần, đối với thị trấn
từ 2-6 lần/tuần là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ở địa phương mặc dù đã có
tổ thu gom nhưng tỷ lệ thu gom vẫn rất thấp và tình trạng ứ đọng RT sinh hoạt
trong khu dân cư là phổ biến.
Thiết bị thu gom ở nông thôn do người lao động tự trang bị, thiếu cả về số
lượng và không đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường trong thu gom. Theo
số liệu điều tra nghiên cứu có tới 70% số thị trấn và 100% thiếu phương tiện thu
gom, 30% số xã chưa có phương tiện thu gom, 100% số xã, thị trấn chưa có
phương tiện vận chuyển đúng quy cách (Cục Bảo vệ môi trường, 2006)
Một số biện pháp xử lý RT đang được áp dụng tại một số địa bàn thuộc thị
trấn, xã như: đổ bữa bãi ven đường; các gia đình tự xử lý và đổ thành bãi rác lộ
thiên (Bảng 1.4 và Bảng 1.5).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9

Bảng 1.4. Thống kê các biện pháp xử lý chất thải rắn ở một số thị trấn
Đơn vị: % khối lượng rác
Địa phươngGiải pháp
Hồ
Nho
Quan
Hương
Canh
Vân
Đình
Quất


40 65 60 20 10 30 25
Bãi rác lộ thiên 10 0 0 35 0 70 25

Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường (2006)
1.2. Ảnh hưởng của RTSH đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng
1.2.1 Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường
Tại Việt Nam, hoạt động phân loại rác thải tại nguồn chưa được phát triển
rộng rãi, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế, phần lớn
phương tiện thu gom rác thải không đạt quy chuẩn kỹ thuật và không đảm bảo vệ
sinh môi trường. Các điểm tập kết rác thải (điểm hẹn, trạm trung chuyển) chưa
được đầu tư xây dựng đúng mức, gây mất vệ sinh. Tại nhiều khu vực, hệ thống
vận chuyển chưa đáp ứng nhu cầu vận chuyển rác thải hàng ngày, gây tình trạng
tồn đọng rác thải trong khu dân cư. Nhìn chung, tất cả các giai đoạn quản lý rác
thải từ khâu thu gom, vận chuyển đến khâu xử lý (chôn lấp, đốt) đều gây ô nhiễm
môi trường.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

1.2.1.1. Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường không khí
Rác thải sinh hoạt có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu. Dưới tác động
của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, rác thải hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra
các chất khí (CH4 - 63.8%, CO2 - 33.6%, và một số khí khác). Trong đó, CH4 và
CO2 chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các
bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp. Khối lượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu
ảnh hưởng đáng kể của nhiệt độ không khí và thay đổi theo mùa. Lượng khí phát
thải tăng khi nhiệt độ tăng, lượng khí phát thải trong mùa hè cao hơn mùa đông.
Đối với các bãi chôn lấp, ước tính 30% các chất khí phát sinh trong quá trình
phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà không cần một sự tác động nào.
Khi vận chuyển và lưu giữ rác thải sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các

rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lý trước khi thải ra môi
trường. Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nay đều không được xây dựng
đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rò rỉ từ bãi rác được
thải trực tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng. Sự xuất hiện
của các bãi rác lộ thiên tự phát cũng là một nguồn gây ô nhiễm nguồn nước đáng
kể. Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn, nước rỉ rác có chứa hàm lượng chất ô
nhiễm cao (chất hữu cơ: do trong rác có phân súc vật, các thức ăn thừa ; chất
thải độc hại: từ bao bì đựng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, mỹ phẩm).
Nếu không được thu gom xử lý sẽ thâm nhập vào nguồn nước dưới đất gây ô
nhiễm môi trường nước nghiêm trọng. Dưới đây là một số dẫn chứng minh hoạ
của các địa phương:
- Tỉnh Hà Nam: Ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi đang là một
trong những vấn đề bức xúc của người dân, ở thôn Bạch Xá (xã Hoàng Đông),
thôn Nhì (xã Bạch Thượng) của huyện Duy Tiên. Thôn Bạch Xá: Hiện nay
chất thải rắn sinh hoạt, chăn nuôi và chất thải nguy hại (gia súc, gia cầm chết,
do dịch, ) chưa có giải pháp xử lý hợp vệ sinh. Nước thải chăn nuôi mang
theo chất thải rắn chảy ra các ao hồ của thôn; Tổng diện tích đất ở của thôn là
115.859m
2
, tổng diện tích ao hồ là 29.977m
2
, 100% diện tích ao hồ bị ô nhiễm
không sử dụng được cho mục đích sinh hoạt của người dân như trước đây
(gồm tắm, giặt, ); tổng diện tích ao hồ đang bị phú dưỡng là 8.250 m
2
.
- Tỉnh Nghệ An: Dòng nước bẩn thải ra từ bãi rác và nhà máy xử lý rác
chảy đến hồ Bảy Mẫu (xóm Đông Vinh, xã Hưng Đông, thành phố Vinh). Trước
đây, hồ là nơi giặt giũ, lấy nước tưới cho hoa màu nhưng khi bãi rác và nhà máy
xử lý rác xuất hiện thì nguồn nước bị ô nhiễm; Chuyển sang nuôi cá, cá chết

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

Bảng 1.6 Kết quả đo chỉ số vi sinh vật trong mẫu đất tại 2 bãi rác
Địa điểm
Số trứng giun trong
mẫu đất
(trứng/100g)
Số coliform trong mẫu đất
(khuẩn lạc/10g)
Giá trị
thấp nhất
Giá trị
cao nhất
Giá trị thấp
nhất
Giá trị cao
nhất
Bãi rác Lạng Sơn 5 15 40 2.000.000
Bãi rác Nam Sơn 8 120 300 20.000.000
Nguồn: Viện Y Học lao động và vệ sinh môi trường, 2009
Nghiên cứu của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường cho thấy các
mẫu đất xét nghiệm tại bãi rác Lạng Sơn và Nam Sơn đều bị ô nhiễm trứng giun
và Coliform (Bảng 1.6). RTSH đặc biệt là chất thải nguy hại, chứa nhiều độc tố
như hóa chất, kim loại nặng, phóng xạ nếu không được xử lý đúng cách, chỉ
chôn lấp như rác thải thông thường thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất
cao. Trong khai thác khoáng sản, quá trình chế biến/làm giàu quặng làm phát
sinh chất thải dưới dạng quặng đuôi, chứa các kim loại và các hợp chất khác ảnh
hưởng đến môi trường. Một vài mỏ hiện vẫn thải quặng đuôi trực tiếp xuống đất,
làm đất bị ảnh hưởng xấu.
1.2.2. Ảnh hưởng của rác thải đến sức khỏe con người

đặc biệt chất thải chăn nuôi đang là một trong những vấn đề bức xúc của người
nông dân.

Hình 1.1. Tỷ lệ bệnh của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

Chú thích :
- Nhóm nghiên cứu : xã Quảng Lạc và xã Hoàng Đồng (Lạng Sơn) chịu
ảnh hưởng của bãi rác
- Nhóm đối chứng : xã Hợp Thịnh và xã Mai Pha ( Lạng Sơn), không chịu
ảnh hưởng của bãi rác
Nguồn (Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường, 2009)
Có những vùng, chất thải chăn nuôi đã gây ô nhiễm cả không khí, nguồn
nước, đất và tác động xấu đến sức khoẻ người dân ở nông thôn. Trong một điều tra
tại tỉnh Thái Nguyên đối với 113 hộ gia đình chăn nuôi từ 20 con lợn trở lên đã
cho thấy gần 50% các hộ có nhà ở gần chuồng lợn từ 5-10m và giếng nước gần
chuồng lợn 5m thì tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc và số trứng giun trung
bình của người chăn nuôi cao gần gấp hai lần tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột
của người không chăn nuôi và có sự tương quan thuận chiều giữa tỷ lệ nhiễm ký
sinh trùng đường ruột với ký sinh trùng trong đất ở các hộ chăn nuôi ( Đại học Y
khoa Thái Nguyên, 2008).
1.2.3. Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đến Kinh tế - Xã hội
1.2.3.1. Chi phí xử lý chất thải rắn ngày càng lớn
Trong 5 năm qua, lượng CTR của cả nước ngày càng gia tăng. Chi phí thu
gom, vận chuyển và xử lý CTR vì thế cũng tăng lên, chưa kể đến chi phí xử lý ô
nhiễm môi trường liên quan đến CTR. Các chuyên gia về kinh tế cho rằng, với
điều kiện kinh tế hiện nay (năm 2011) thì mức phí xử lý rác là 17 – 18 USD/tấn
CTR dựa trên các tính toán cơ bản về tổng vốn đầu tư, chi phí vận hành, chi phí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status