BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN HƯNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ ÁN ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐẾN NĂM 2020
TẠI HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN MẬU DŨNG
động thương binh và xã hội huyện Yên Phong, phòng tài nguyên môi trường,
trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình huyên Yên Phong đã tận tình giúp đỡ,
cung cấp tài liệu, tạo điều kiện, đóng góp nhiều ý kiến cho nội dung nghiên cứu
của đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp, trao đổi của các bạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn được
hoàn thiện và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Văn Hưng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục viết tắt vii
1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 46
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Khái quát đề án đào tạo nghề và kết quả công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn huyện Yên phong 47
4.1.1 Khái quát đề án 47
4.1.2 Kết quả thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa
bàn huyện Yên Phong 51
4.2 Đánh giá tình hình thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn
ở huyện Yên phong 56
4.2.1 Đánh giá hoạt động tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm cho lao
động nông thôn 56
4.2.2 Đánh giá công tác điều tra khảo sát, dự báo nhu cầu dạy nghề - việc
làm. 60
4.2.3 Đánh giá hoạt động thí điểm mô hình dạy nghề 62
4.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề đối với các cơ sở dạy
nghề 62
4.2.5 Đánh giá hoạt động phát triển chương trình, giáo trình 64
4.2.6 Phát triển đội ngũ giáo viên, đội ngũ quản lý 67
4.2.7 Kiểm tra,giám sát tình hình thực hiện chương trình đào tạo nghề cho lao
động nông thôn trên địa bàn huyện 72
4.2.8 Hoạt động hỗ trợ lao động học nghề - việc làm 73
4.3 Đánh giá chung tình hình thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao đông
nông thôn tại huyện Yên phong 76
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
4.3.1 Ưu điểm 76
4.3.2 Tồn tại 77
4.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện đề án đào tạo
nghề cho lao động nông thôn ở huyện Yên Phong. 79
động nông thôn (các lớp sơ cấp) 52
Bảng 4.2 tổng hợp kinh phí thực hiện chương trình đào tạo nghề cho lao
động nông thôn 53
Bảng 4.3 Tổng hợp ý kiến đánh giá của đơn vị sử dụng lao động, người
quản lý về chất lượng lao động đã qua đào tạo 54
Bảng 4.4 Công tác tổ chức hoạt động tuyên truyền 56
Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả hoạt động tuyên truyền tư vấn, giới thiệu việc làm 57
Bảng 4.6 Tổng hợp ý kiến đánh giá về công tác truyên truyền dạy nghề
và tư vấn giới thiệu việc làm 59
Bảng 4.7 tổng hợp ý kiến về sự cần thiết của hoạt động điều tra khảo sát
nhu cầu học nghề - việc làm. 61
Bảng 4.8 tổng hợp ý kiến về sự cần thiết của hoạt động thí điểm mô hình. 62
Bảng 4.9 thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề tại huyện
huyện Yên Phong 63
Bảng 4.10 tổng hợp ý kiến đánh giá tình hình trang thiết bị, cơ sở vật
chất của các đơn vị đào tạo nghề. 64
Bảng 4.11 kết quả thực hiện hoạt động phát triển chương trình, giáo trình. 65
Bảng 4.12 Tổng hợp ý kiến đánh giá về chương trình, giáo trình của cơ
sở đào tạo 66
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
Bảng 4.13 tổng hợp số lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề và cán bộ quản
lý tại cơ sở dạy nghề trên địa bàn huyện 67
Bảng 4.14 tình hình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 69
Bảng 4.15 tổng hợp trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên năm 2013 69
NN Nông nghiệp
TM-DV Thương mại – dịch vụ
LĐ-TB&XH Lao động thương binh và xã hội
TC-KH Tài chính kế hoạch
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
GD-ĐT Giáo dục – Đào tạo
GDNHCSXH Giao dịch ngân hàng chính sách xã hội
THPT Trung học phổ thông
TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên
KH Kế hoạch
TH Thực hiện
ĐVT Đơn vị tính
N Số người
S.Lượng Số lượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinh
tế- xã hội và quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh, cơ cấu kinh tế có sự
chuyển dịch mạnh mẽ. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều hộ nông nghiệp bị mất
đất sản xuất, phải tìm cách chuyển đổi lao động sang lĩnh vực phi nông nghiệp
nên rất cần được đào tạo nghề. Bên cạnh đó, chất lượng lao động ở nông thôn
nước ta còn quá thấp, làm cho thu nhập của người lao động không thể tăng
nhanh; gây ra chênh lệch khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn
đề án, từ đó đề xuất giải pháp để thực hiện có hiệu quả Đề án hơn nữa trong thời
gian tới chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện đề án đào tạo
nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 tại huyện Yên Phong tỉnh Bắc
Ninh” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá tình hình thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông
thôn đến năm 2020 tại huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở đó đề xuất
các giải pháp nhằm thực hiện tốt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn
trong thời gian tới.
1.2.2.Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm:
-Hệ thống hoá các cơ sở lý luận và thực tiễn tình hình đào tạo nghề cho
lao động nông thôn theo đề án.
-Phân tích và đánh giá tình hình triển khai thực hiện đào tạo nghề
cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh.
-Phân tích yếu tố ảnh hưởng tình hình triển khai thực hiện đề án
đào tạo nghề cho lao động nông thôn
-Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt Đề án đào tạo
nghề có hiệu quả trong thời gian tới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tình thình thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động
nông thông đến năm 2020 với các chủ thể nghiên cứu: Các cơ sở dạy nghề, những
người đã học nghề và chưa học nghề tại điểm nghiên cứu trên địa bàn huyện
Yên Phong. Các cơ sở sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề trên địa bàn
huyện Yên Phong.Một số chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến
a) Khái niệm lao động:
Có nhiều quan điểm khác nhau về lao động:
- Theo C.Mac “ Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con
người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con
người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự
nhiên”.
- Ph.Ăng ghen viết: “ Lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động
đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho
lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng
lớn lao hơn nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống
loài người và như thế đến một mức trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải
nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người”.
Như vậy có thể nói lao động là hoạt động có mục đích của con người,
thông quan hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng
thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Hoạt
động lao động có 3 đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất: Xét về tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý
thức) của con người. Đặc trưng này chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động lao
động của con người và hoạt động có tính năng của con vật. Con vật duy trì sự
tồn tại của mình dựa vào những sản vật có sẵn trong tự nhiên, còn con người
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
dùng sức lao động của bản thân để tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sự tồn
tại và phát triển của mình cũng như của cộng đồng xã hội.
Thứ hai: Xét về mục đích, hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm
thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Đề cập đến điều này là nhằm phân
biệt với những hoạt động có mục đích không nhằm thoả mãn nhu cầu chính
đáng của con người, không nhằm phục vụ cho con người, cho sự tiến bộ của
xã hội. Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động.
+ Lực lượng lao động: Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao
động bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm trong nền
kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
Những người không được tính vào lực lượng lao động là những sinh viên,
người nghỉ hưu, những cha mẹ ở nhà, những người trong tù, những người
không có ý định tìm kiếm việc làm.
b).Khái niệm lao động nông thôn:
Lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở
nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nam từ 15 – 60
tuổi, nữ từ 15 – 55 tuổi).
Ở nước ta hiện nay lao động nông thôn chiếm ¾ lao động của cả nước.
tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng và duyên hải, trong khi đó vùng Núi và
Trung Du đất đai nhiều nhưng dân cư thưa thớt, lao động lại quá ít. Tuy nhiên
nguồn nhân lực này chưa phát huy hết tiềm năng. Nguyên nhân chính do trình
độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động còn thấp kém gây nhiều khó khăn
trong việc thực hiện chủ trương đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào quá
trình lao động sản xuất ở khu vực nông nghiệp – nông thôn. Thực trạng này
cũng đã và đang là những nguyên nhân quan trọng làm cho nhiều vấn đề trong
nông nghiệp, nông thôn chậm được giải quyết. Đó là sự mất cân đối giữa các
ngành nghề sản xuất. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
2.1.1.2. Đào tạo nghề
a) Khái niệm nghề: Ở các nước khác nhau có những khái niệm khác nhau
về nghề.
Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: “Là hoạt động cần thiết cho
xã hội ở một lĩnh vực hoạt động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình
tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động
để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn.
- Cơ sở dạy nghề: Là cơ sở hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến
thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm
được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học, cơ sở dạy
nghề theo Luật dạy nghề quy định bao gồm các trường cao đẳng nghề, trường
trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, các lớp dạy nghề.
c) Phân loại đào tạo nghề:
Đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chung là rất
phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện nay thường áp
dụng một số hình thức chính sau đây:
- Đào tạo nghề chính quy:
Theo quy định của Luật Dạy nghề, đào tạo nghề chính quy được thực
hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại
các cơ sở dạy nghề theo các khoá học tập trung và liên tục.
+Có thể hiểu đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại
các trung tâm dạy nghề, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn,
chủ yếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao.
+Việc đào tạo công nhân kỹ thuật thường chia làm hai giai đoạn: giai
đoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn. Giai đoạn học tập cơ
bản là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80%
nội dung giảng dạy và tương đối ổn định. Còn trong giai đoạn học tập chuyên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
môn, người học được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyện
những kỹ năng, kỹ xảo để nắm vững nghề đã chọn.
+Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Học sinh được học một
cách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạo
điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng; Đào tạo
Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào quá trình
lao động, điều này giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động.
Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là: Việc truyền đạt và
tiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; người dạy không có nghiệp vụ sư
phạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặp
nhiều khó khăn… nên kết quả học tập còn hạn chế; Học viên không chỉ học
những phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt trước cả những thói quen
không tốt của người hướng dẫn. Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợp
với những công việc đòi hỏi trình độ không cao.
+ Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp:
Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết và
thực hành. Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật
phụ trách, còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các
kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn. Hình thức đào tạo này chủ yếu áp
dụng để đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiểu biết rộng về lý
thuyết và độ thành thục cao.
Ưu điểm nổi bật của các lớp cạnh doanh nghiệp là: Dạy lý thuyết tương
đối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động ở các
phân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề; Bộ máy đào tạo gọn, chi
phí đào tạo không lớn. Tuy nhiên, hình thức đào tạo này chỉ áp dụng được ở
những doanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùng
ngành có tính chất giống nhau.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
+ Đào tạo nghề kết hợp tại trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp:
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp
được áp dụng khá rộng rãi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam
trong những năm gần đây và còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có thể hiểu
“đào tạo nghề kết hợp tại trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp là hình thức
Trong tài liệu hướng dẫn ban hành và quản lý văn bản của doanh nghiệp
do nhà xuất bản thống kê phát hành năm 2002 định nghĩa như sau: “ Đề án, kế
hoạch, chương trình công tác (sau đây gọi tạm chung là loại văn bản) là loại
văn bản trình bày những kế hoạch dự kiến về một nhiệm vụ công tác được cơ
quan, tổ chức giao trong một thời gian nhất định”.
2.1.2 Khái quát chung về đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn
2.1.2.1Mục tiêu của đề án đào tạo nghề:
Trong Luật dạy nghề Số 76/2006/QH11 ban hành ngày 29 tháng 11 năm
2006 cũng xác định: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp
trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ
đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công
nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp
có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Theo quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 mục tiêu của đề án
đào tạo nghề cho lao động nông thôn là: Bình quân hàng năm đào tạo nghề
cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100.000
lượt cán bộ, công chức xã. Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề,
nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn. Xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
2.1.2.2.Đối tượng của đề án:
Lao động nông thôn trong độ tuổi lao động, trong đó ưu tiên cho các
đối tượng là người hưởng chính sách ưu đãi: Người có công với cách mạng,
hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân
tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác. Cán bộ chuyên trách
đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, chính quyền và công chức chuyên môn xã,
nhu cầu dạy nghề cho người lao động kết hợp quán triệt, hướng dẫn xây dựng
Đề án cho tất cả các địa phương trong cả nước. Đồng thời thiết kế phần mềm
nhập tin cho các địa phương, xây dựng hệ thống biểu mẫu đầu ra và mô hình
dự báo nhu cầu dạy nghề cho người lao động.
c)Triển khai thí điểm các mô hình dạy nghề
Dạy nghề theo các mô hình thí điểm cho lao động nông thôn gồm 4
nhóm: Lao động làm nông nghiệp; nhóm lao động trong các làng nghề ở vùng
đồng bằng; nhóm nông dân chuyển nghề sang công nghiệp, dịch vụ và nhóm
đánh bắt xa bờ ở các tỉnh duyên hải miền Trung.
Triển khai thí điểm mô hình trong công tác đào tạo nghề là việc tổ chức
dạy nghề thực hiện theo cơ chế cộng đồng trách nhiệm giữa các bên có liên
quan: Cơ quan quản lý nhà nước cấp kinh phí đào tạo từ nguồn kinh phí đào
tạo nghề cho người lao động được phân bổ, doanh nghiệp nhận học sinh vào
thực tập, tham gia xây dựng chương trình và đánh giá kết quả đào tạo, tiếp
nhận lao động sau khi đào tạo vào làm vào làm việc, cơ sở dạy nghề tổ chức
đào tạo theo nhu cầu sử dụng. Nói cách khác dạy nghề phải gắn với phát triển
làng nghề mới; kết hợp vùng nguyên liệu, tổ chức việc làm và bao tiêu sản
phẩm, duy trì, phát triển làng nghề truyền thống, phối hợp với các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và một số trường đào tạo về lĩnh vực công
nghiệp, dịch vụ để triển khai đặt hàng dạy nghề cho người lao động chuyển
sang làm công nghiệp, dịch vụ hoặc làm việc trong các KCN - KCX và các
doanh nghiệp của địa phương.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
d) Phát triển chương trình, giáo trình đào tạo nghề.
Hoạt động phát triển chương trình, giáo trình bao gồm:
+ Huy động các giáo viên có trình độ, các nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật,
kỹ sư, người lao động có tay nghề tham gia xây dựng chương trình, giáo trình
biệt ưu tiên các đối tượng chính sách và người bị thu hồi đất có khó khăn về
kinh tế.
+Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người
có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người
bị thu hồi đất canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề mức tối đa 3 triệu
đồng/người/khóa học, hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực
học/người; hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa
không quá 200.000 đồng/người/khoá học đối với người học nghề xa nơi cư
trú từ 15 km trở lên;
+Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu
nhập của hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề mức tối đa 2,5 triệu
đồng/người/khóa học.
+Lao động nông thôn khác được hỗ trợ chi phí học nghề mức tối đa 02
triệu đồng/người/khóa học.
- Đối với trung cấp nghề, cao đẳng nghề:
+Lao động nông thôn học nghề được vay để học theo quy định hiện
hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn làm việc ổn
định ở nông thôn sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối
với khoản vay để học nghề;
+Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng
chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo và hộ có thu nhập
tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo học các khóa học trình độ trung cấp
nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân
tộc thiểu số nội trú;