Năng suất chất xanh và thành phần dinh dưỡng của một số giống cao lương thụ phấn tự do (OPV) làm thức ăn gia súc tại mộc châu sơn la - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ VÂN
NĂNG SUẤT CHẤT XANH VÀ THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG
CỦA MỘT SỐ GIỐNG CAO LƯƠNG THỤ PHẤN TỰ DO (OPV)
LÀM THỨC ĂN GIA SÚC TẠI MỘC CHÂU – SƠN LA
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM VĂN CƯỜNG
HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các
thầy cô giáo, các tập thể, các nhân, gia đình cùng bạn bè, đồng nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Văn Cường đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài cũng như hoàn chỉnh
luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới ủy ban nhân dân xã Đông Sang, ủy ban
nhân dân huyện Mộc Châu đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
này.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo cùng toàn thể
công nhân viên Bộ môn Cây lương thực, đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Để hoàn thành khóa học này, tôi còn nhận được sự động viên, hỗ trợ rất lớn
của gia đình và bạn bè, đã tạo điều kiện về vật chất và tinh thần để tôi học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống cao lương trong thí nghiệm 24
4.1.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống cao lương trong thí nghiệm 24
4.1.2 Động thái ra lá và số lá cuối cùng của các giống cao lương trong thí nghiệm 27
4.1.3 Động thái ra nhánh và số nhánh cuối cùng của các giống cao lương
trong thí nghiệm 30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

4.2 Đặc điểm sinh lý của các giống cao lương trong thí nghiệm 31
4.2.1 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống cao lương qua các lần cắt 31
4.2.2 Chỉ số SPAD của các giống cao lương qua các lần cắt 33
4.3 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của các giống cao lương trong
thí nghiệm 35
4.3.1 Hàm lượng đường trong thân (Brix) 35
4.3.2 Hàm lượng axit HCN trong thân lá 36
4.3.3 Hàm lượng dinh dưỡng (protein tổng số, xơ, lipit tổng số, khoáng tổng số) 38
4.4 Năng suất thu cắt của các giống cao lương trong thí nghiệm 41
4.4.1 Năng suất chất xanh 41
4.4.2 Tốc độ tích lũy chất khô của các giống cao lương trong thí nhiệm 43
4.4.3 Tỷ lệ chất khô/xanh 44
4.4.4 Tỷ lệ khối lượng giữa thân và lá của các giống cao lương thí nghiệm 45
4.5 Tương quan năng suất thực thu và các yếu tố liên quan của các giống cao
lương thí nghiệm 47
4.6 Tình hình sâu bệnh hại của các giống cao lương trong thí nghiệm 51
4.7 Ảnh hưởng của việc trồng cao lương đến các thành dinh dưỡng trong đất 52
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55

TST Tuần sau trồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang
2.1 Các nước sản xuất cao lương chính trên thế giới 6
2.2 Thành phần dinh dưỡng của hạt cao lương và ngô làm thức ăn chăn nuôi 14
3.1 Danh sách giống cao lương tham gia thí nghiệm 19
4.1 Động thái chiều cao cây của các giống cao lương thí nghiệm 24
4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống cao lương 26
4.3 Động thái ra lá trên thân chính của các giống cao lương 27

4.3 Tương quan giữa năng suất chất xanh và số nhánh (lứa cắt 2) 48
4.4 Tương quan giữa năng suất chất xanh và chỉ số diện tích lá (LAI) của các
giống cao lương thí nghiệm 49
4.5 Tương quan giữa năng suất chất xanh và tốc độ tích lũy chất khô của các
giống cao lương thí nghiệm 50
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

1. MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi nước ta đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng sản phẩm,
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về thịt, trứng, sữa. Số lượng đàn trâu bò
tăng từ hơn 7 triệu con (năm 2000) lên 7,7 triệu con (năm 2013) (theo Thống kê Chăn
nuôi Việt Nam). Chăn nuôi phát triển mạnh cũng gặp phải rất nhiều khó khăn đặc biệt
là nguồn thức ăn đáp ứng cho đàn gia súc hiện nay. Diện tích trồng cỏ chưa đáp ứng
được nhu cầu thức ăn thô xanh của gia súc ăn cỏ, diện tích trồng cỏ của cả nước mới
đạt trên 45.000 ha, chỉ đáp ứng được 7,6%. Năm 2011, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 1
triệu tấn đậu tương, tăng 350% so với năm 2010. Trong năm 2012, có hơn 1,6 triệu
tấn ngô được nhập khẩu, tăng hơn 66% so với năm trước, xấp xỉ 1,3 triệu tấn đậu
tương, so với trước đó 1 năm tăng gần 53%. Những điều này ảnh hưởng to lớn đến
các mục đích tăng đàn, tăng sản lượng và chất lượng thịt, sữa, ảnh hưởng tới nhu cầu


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tình hình phát triển chăn nuôi và nhu cầu thức ăn thô ở Việt Nam
Trong những năm gân đây, ngành chăn nuôi Việt Nam đã phát triển đáng kể,
kể từ năm 1990 đến nay ngành chăn nuôi có hướng phát triển tương đối ổn định với
tốc độ tăng trưởng bình quân đạt đến 5,27% năm. Chăn nuôi gia cầm có tốc độ tăng
trưởng nhanh nhất 15 năm qua. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm tăng rõ rệt,
từ 3,5% năm trong các giai đoạn 1990 – 1995 lên đến 6,7% năm trong giai đoạn
1996 – 2000 và trong các năm còn lại đã tăng lên tới 9,1% năm, chăn nuôi lấy thịt là
hình thức phổ biến nhất ở nước ta. Tổng sản lượng thịt tính đến tháng 10/2013 đạt
trên 4,4 triệu tấn các loại, trong đó thịt lợn chiếm tới 74,47%, hơn 8 % thịt trâu bò
và trên 17,2 % thịt gia cầm sản xuất ở các nông hộ được tiêu thụ trên thị trường nội

Cả nước có khoảng 35.681 ha đất cỏ chăn nuôi tự nhiên, nhưng sản lượng rất
thấp, chỉ đạt 20 tấn cỏ/ha/năm. Mặc dù diện tích cỏ trồng thâm canh đã tăng rất
mạnh với tốc độ tăng bình quân 48% năm, từ chỗ chỉ có 4,68 nghìn ha vào năm
2001, đến nay cả nước đã có khoảng 200 nghìn ha đồng cỏ trồng thâm canh. Tuy
nhiên, sản lượng này chỉ đáp ứng được gần 10% nhu cầu thức ăn thô xanh của các
loại gia súc ăn cỏ. Trong khi đó, những giống cỏ nhập nội chủ yếu là cỏ họ hoà
thảo, hàm lượng đạm rất thấp, nên năng suất trong chăn nuôi bò sữa thấp, chất
lượng sữa không cao. Nhóm cỏ họ đậu có chất lượng tốt hơn, thế nhưng Việt Nam
lại không có thế mạnh trong việc trồng cây họ đậu. Chẳng hạn với cây đậu tương,
năng suất ở nước ta chỉ đạt 1 tấn/ha, phải nghiên cứu mãi các giải pháp tăng năng
suất mới đưa được lên 1,4 - 1,7 tấn/ha hiện nay. Trong khi đó ở các nước châu Mỹ,
năng suất trồng đậu tương trung bình là 4,5-5 tấn/ha.
Việc tìm kiếm thêm các nguồn nguyên liệu làm thức ăn gia súc để giảm sự
phụ thuộc, phong phú thêm về dinh dưỡng, dễ cân đối hơn khi phối hợp khẩu phần,
giải quyết nhu cầu thức ăn thô xanh hiện là một thách thức lớn. Cây trồng chọn để
làm thức ăn gia súc phải đảm bảo các yêu cầu sau (chỉ thị của Thủ tướng chính phủ
số 390-TTg, ngày 31 tháng 12 năm 1979):
- Cây phải có khả năng tái sinh qua mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch;
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc lá noi khi thu
hoạch ít bị ảnh hưởng tới;
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

- Cần có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm
bảo lấy được dinh dưỡng và nước;
- Có độ ngon miệng cao, gia súc thích ăn, ăn được nhiều;
- Tốn ít công chăm sóc;


Đồ thị 2.1. Tình hình sản xuất cao lương hạt trên thế giới
(Nguồn ICRRISAT, 2011)
Theo thống kê của ICRRISAT cho thấy tổng diện tích trồng cao lương trên
thế giới tăng từ 45 triệu ha trong năm 1970 lên 51 triệu ha trong năm 1980. Sau đó,
đã có biến động trong khu vực từ 4 đến 10 triệu ha và 40 triệu ha vào năm 2009.
Sản lượng ngũ cốc đã tăng từ 1.200 kg/ha trong những năm 1970 đến 1.400 kg/ha
trong năm 2009.
Bảng 2.1. Các nước sản xuất cao lương chính trên thế giới
(Ước tính năm 2013)
Nước Sản lượng (1000 tấn) Nước Sản lượng (1000 tấn)

Hoa Kì 10,6 Trung Quốc 2,3
Mexico 7,1 Brazil 2,1
Nigeria 6,5 Úc 2,0
Ấn Độ 5,8 Bukina Faso 1,8
Argentina 4,6 Mali 1,2
Sudan 3,8 Mameroom 1,2
Ethiopia 3,7 Niger 1,0
Nguồn: Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Theo FAO (2009), cao lương trên thế giới được thống kê từ năm 1961 –
2008 thì diện tích trồng thay đổi đáng kể (khoảng 44 triệu ha). Tuy nhiên năng suất
hạt tăng không nhiều, đạt cao nhất là 95 triệu tấn/ha (2005).
Mục đích sử dụng cao lương dần thay đổi. Trước năm 1970 thì hạt được
dùng làm lương thực cho con người. Từ năm 1970 – 2000, cao lương chủ yếu sử

gì đất nước và nguồn lực để phát triển thực phẩm, cũng như để giảm tiêu thụ nhiên
liệu hóa thạch có sẵn. Với những cải tiến, lúa miến có thể trở thành “hạt toàn cầu
của tương lai” vì nó là hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực và đó là cơ hội thị
trường như một nguồn tài nguyên năng lượng.
Hướng nghiên cứu trong tương lai bao gồm việc tạo ra năng suất tốt hơn
trong môi trường khó khăn và đầu vào thấp, phát triển các kỹ thuật quản lý sản xuất,
cải thiện dinh dưỡng như tăng khả năng tiêu hóa và chất lượng protein, và sản xuất
ethanol. Nghiên cứu ngành công nghiệp tư nhân đã tập trung vào chất lượng hạt để
đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại, bao gồm các loại thực phẩm ăn nhẹ, sản xuất
alchol và thực phẩm không đường. Bệnh hại thường không phải là một vấn đề với
lúa miến trừ khi có lượng mưa cao và độ ẩm, nhưng sâu bệnh gây ra thiệt hại đáng
kể. Các loài gây hại phá hoại nhất là các loài chim, những loài ăn ngũ cốc. Loài gây
hại khác bao gồm rệp ngô, rệp vừng, và sâu ăn lá.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cao lương ở Việt Nam
Ở nước ta, cao lương được trồng ở các khu vực núi cao như Hà Giang, Cao
Bằng, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, khu vực Tây Nguyên… Tùy theo vùng trồng mà
cây cao lương được gọi theo một số tên khác như lúa miến, bobo, cù làng, mì… Cao
lương đã được được đồng bào các dân tộc vùng núi dùng làm thức ăn chăn nuôi từ
lâu đời.
Tuy nhiên, cây cao lương chỉ phát triển khi nước ta du nhập những giống
mới từ năm 1962. Nước ta đã nhập nội 210 mẫu giống cao lương từ ICRISTAT,
Pacific Seed, Philippin bao gồm cả dòng lai và dòng thuần, một số giống địa
phương cũng được thu thập. Mẫu giống đã được tiến hành đánh giá, thử nghiệm tại
nhiều vùng (An Giang, Hà Nội, Thái Nguyên …) và đã cho kết quả khả quan.
Việc nghiên cứu sử dụng cây cao lương theo mục đích làm thức ăn xanh còn
rất hạn chế, đặc biệt là thức ăn xanh vụ đông. Trước đây, Lê Hòa Bình và cộng sự
(1992) đã theo dõi trên ruộng thí nghiệm 36 giống cao lương nhập từ Liên Xô cho
thấy có sự biến động lớn về tốc độ sinh trưởng, năng suất chất xanh giữa các giống.
Kết quả trồng cao lương tại Nông trường Ba Vì cho thấy có những giống cho năng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v

hàm lượng đường cao vào dòng Bố, mẹ của giống siêu cao lương này bằng lai quay
lui (back cross), dùng phương pháp đánh dấu phân tử, và sử dụng hạt ưu thế lai F1
để gieo trồng. Siêu cao lương trồng một lần, thời vụ ở khu vực phía bắc là vào vụ
xuân, từ tháng 2 đến tháng 4 và cho thu hoạch 3 lần trong năm, với khối lượng chất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

xanh lên tới trên 400 tấn chất xanh/ha, sản lượng etanol đạt trên 17000 lít/ha; Siêu
cao lương có hàm lượng đường cao, hàm lượng chất khô trên 40%. So với sắn, mía,
sản xuất Etanol từ siêu cao lương cao gấp 2-2,5 lần. Siêu cao lương có chiều cao từ
5-6m, khả năng tái sinh nhanh, thích ứng rộng và có thể gieo trồng trên nhiều loại
đất, khả năng chịu hạn tốt, chống đổ khá, đổ ngã khi tốc độ gió đạt trên 17m/s, tuy
nhiên siêu cao lương có khả năng hồi phục sau 3-4 ngày bị đổ nghiêng (giai đoạn
cây cao 3-4 m). Những vấn đề cần lưu ý với siêu cao lương là: đòi hỏi thâm canh
cao, tốn chi phí phân bón, pH đất không được thấp hơn 5, tốt nhất là pH = 6-8, song
nó cũng không bị ảnh hưởng trên đất kiềm pH >8,5, ngay cả khi pH = 9, chú ý sâu
đục thân, bệnh đốm lá lớn và đốm lá nhỏ, rệp
Nhìn chung, các nghiên cứu về cao lương của thế giới tương đối đa dạng, sâu
rộng. Tuy nhiên các nghiên cứu cao lương ở Việt Nam là chưa nhiều. Nước ta nói
riêng và thế giới nói chung đều bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho
lương mưa ở một số nơi giảm đi và khả năng tưới không đáp ứng nhu cầu của các
cây truyền thống và dẫn tới đất bị bỏ hoang không thể canh tác được; cũng chịu ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu nhưng lại theo hướng ngược lại là do băng tan,
nước biển dâng cao làm cho diện tích đất có thể trồng trọt nhiễm mặn, giảm diện
tích gieo trồng. Nước ta có đường bờ biển kéo dài 3260 km, diện tích gieo trồng ven
biển ngày càng giảm mạnh do nhiễm mặn, cát lấn. Do vậy việc tìm ra cây trồng mới
tham gia cơ cấu cây trồng để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn không xa là hết sức
quan trọng với nông nghiệp Việt Nam.

một vài bông nhánh ở các thân nhánh. Bông mọc thẳng đứng so với thân hoặc hơi
cong. Từ trục chính của bông phân ra các nhánh cấp 2 và cấp 3, và trên đó có đính
các chét hoa. Cấu tạo của hoa rất đa dạng khi cây ra hoa, chùm mang hai loại hoa,
một loại có cuống và có cả phần đực lẫn phần cái, loại còn lại không có cuống
thường là hoa đực (Ramph, 2005). Chùm hoa có màu xanh, khi chín chuyển sang
màu kem, vàng, đỏ, tím…
Hạt cao lương có nhiều màu sắc khác nhau, chúng có thể có màu đỏ, nâu
vàng, trắng hoặc kem…Vỏ hạt thường có màu nâu sẫm hoặc nâu đậm. Nội nhũ có
màu trắng hoặc vàng, màu vàng của nội nhũ là màu của sắc tố carotene, có liên
quan đến hàm lượng vitamin A trong hạt. Khối lượng của hạt có thể rất bé (nhỏ hơn
1g/100hạt) đến lớn (5 – 6g/100 hạt). Hình dạng tròn hoặc elip và nhọn, đường kính
4 – 8mm.
Thời gian để hạt phát triển đến chín sinh lý khoảng 30 ngày. Khi chín sinh lý,
trong hạt còn 30% độ ẩm sau đó giảm xuống 10 – 15 % trong vòng 20 – 25 ngày
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

sau, như thế sẽ giúp cho hạt không bị nứt. Hạt đã chín sinh lý là có thể thu hoạch
được, qua thời kỳ này có thể mất đi 10% chất khô. Hạt đưa vào bảo quản phải giảm
độ ẩm dưới 12%.
Khả năng tái sinh của cây rất mạnh, trồng một vụ có thể thu hoạch liên tiếp 2
– 3 lần, có khi tới 4 lần tùy thuộc vào mức độ thâm canh. Cao lương có thể thu
hoạch được vào 60 – 65 ngày sau khi trồng, vụ cắt lần 2 sẽ thu hoạch vào 30 – 45
ngày sau đó. Để cây tái sinh mọc lại nhanh nên chừa lại phần gốc ít nhất 10 – 15 cm
khi thu hoạch.
Trong thân non và chồi tái sinh của cây cao lương có chứa một lượng axit
xyanhydric (HCN). Hàm lượng độc tố này giảm thấp ở cây 30 - 40 ngày tuổi và
thấp nhất lúc cây trỗ bông. Vì vậy khi dùng thân lá cho gia súc ăn thì ta nên chọn

trồng trong mùa tới) với sự suy giảm năng suất ít nhất.
Đặc điểm của giống cao lương lai:
Giống cao lương lai là giống được tạo ra có quá trình thụ phấn kiểm soát
nghiêm ngặt, đồng nhất về di truyền.
- Giống lai có độ đồng đều cao về các đặc điểm sinh học, thời gian trỗ hoa,
dẫn tới thu hoạch thống nhất.
- Giống lai thường đồng nhất về gen, thời gian trỗ bông đồng đều. Khi gặp
điều kiện bất thuận trong giai đoạn trỗ, cây sẽ bị ảnh hưởng lớn và thiệt hại
cho người sản xuất lớn hơn.
- Giống cao lương lai có tiềm năng năng suất cao hơn so với giống OPV.
- Chi phí cho sản xuất hạt giống cao lương lai cao, do đó giá hạt giống cao
lương lai cao hơn giống OPV.
- Không thể tiếp tục để hạt giống tiếp cho vụ sau, nếu tự để giống có thể làm
giảm năng suất 30%.
2.3.2. Thành phần dinh dưỡng và giá trị sử dụng của cây cao lương
Thành phần dinh dưỡng của cây cao lương
Cao lương là một trong 5 loại hạt cốc (ngũ cốc) hàng đầu của thế giới. Hạt
cao lương có giá trị dinh dưỡng như với ngô tuy nhiên hàm lượng protein cao hơn
ngô, song các thành phần dinh dưỡng khác thấp hơn ngô cụ thể như vitamin A
(Carter và cs, 1989).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của hạt cao lương
và ngô làm thức ăn chăn nuôi
Loại cây
ME cho gia
súc nhai lại

chứa tới 52-65% chất khô, trong đó có 8-12% protein thô, 60-75% là xơ. Sử dụng
cao lương làm thức ăn khô thì cần thiết phải bổ sung protein, khoáng và các vitamin,
thông thường tỷ lệ của cao lương luôn nhiều hơn 50% (Undersander, 1990). Với
thành phần dinh dưỡng như trên để tăng tính ngon miệng cho gia súc và tăng hiệu
quả sử dụng thức ăn. NRI (1988) đã khuyến cáo giới hạn sử dụng hạt cao lương và
ngô trong khẩu phần ăn hướng dẫn như sau:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

Cao lương (%) Ngô (%)
Gia cầm 30 70
Lợn 30 30
Bò sữa 50 70
Bò thịt 70 70
Giá trị sử dụng của cây cao lương
Hiện nay có hàng triệu người ở Ấn Độ, châu Phi, châu Mỹ La Tinh,… dùng
cao lương như là một loại lương thực chính trong bữa ăn hằng ngày, nhưng trên thế
giới cao lương chủ yếu được dùng làm thức ăn cho gia súc dưới dạng lương thực
hoặc làm xirô lúa miến hoặc còn gọi là “mật cao lương” (làm từ các giống có hàm
lượng đường cao như ở mía), cỏ khô, cũng như để sản xuất một vài loại đồ uống
chứa cồn (Dan và Woody, 2001). Ở Trung Quốc người ta đã ước tính giá thành sản
xuất cồn từ cây cao lương chỉ mất có 3.500 NTD/tấn. Cứ 6 tấn cao lương có thể sản
xuất được 1 tấn cồn, phần bã còn lại có thể chiết xuất được 500 kg dầu diesel sinh
học. Người ta chỉ chế biến nhiên

liệu từ thân cây, phần hạt cao lương vẫn có thể
dùng làm thực phẩm (theo báo điện tử www.sinhhocvietnam.com.vn).

2
/ngày
sẽ cho năng suất 27,6 tấn/ha; tại Australia cao lương 83 ngày sau trồng có tốc độ
sinh trưởng trung bình đạt 17g/m
2
/ngày sẽ cho năng suất 14,1 tấn/ha.
Đặc biệt, hiện nay trên thế giới cao lương đang dần trở thành nguồn nguyên
liệu chính sử dụng để sản xuất etanol - một loại nhiên liệu sinh học. Cao lương được
thu hoạch, sau đó thân được ép lấy nước bằng trục xay giống như ép mía. Nước sau
khi ép được lên men để chuyển hóa thành ethanol thô. Ethanol này sau đó được
chưng cất và dehydrat hóa. Tại Mỹ, bã ép còn được sử dụng làm chất đốt sản xuất
điện năng bán cho nhà máy nhiệt điện, hoặc bã thải cũng có thể được sử dụng làm
phân bón.
2.3.3. Một số hạn chế khi sử dụng cao lương
Hàm lượng chất độc Cyanua
Trong thân lá cao lương chứa lượng cyanogenic glucosides có vai trò quan
trọng trong cơ chế bảo vệ cây không bị tấn công bởi các loài ăn thực vật do có vị
đắng và có tính độc. Bản thân hợp chất này không gây độc nhưng khi bị thủy phân
bởi enzym glucosidase trong dạ cỏ hoặc chính trong các mô của thực vật sẽ sinh ra
glucose, aldehyde hoặc ketone và hydrogen cyanide (HCN) – một chất cực độc với
cơ thể, sau đó chất này được hấp thụ vào máu. Nồng độ acid xyanhydic trong máu
sẽ ngăn cản việc lấy oxy của những tế bào trong cơ thể làm cho những tế bào này
chết đi và không bao lâu gia súc sẽ chết do bị liệt bộ phận hô hấp. Các nhánh mọc ra
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17

từ những nách lá của những cây bị tổn thương và những chồi mới mọc ra từ mắt
dóng trên mặt đất chứa hàm lượng axit này nhiều gấp 2 lần những lá đã trưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status