LỜI CẢM ƠN
Với mong muốn được học hỏi kinh nghiệm và kiến thức khoa học trong
nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị tốt cho bệnh nhân, Tôi đã theo học tại Học viện Y
Dược học cổ truyền Việt Nam đến nay đã 4 năm, với vốn kiến thức đã được tích lũy
qua sự truyền thụ của thầy cô giáo, tôi lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là:
“Nhận xét tác dụng của điện châm phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhi
viêm não Nhật bản sau giai đoạn cấp”. Tôi xin trân trọng cảm ơn:
- Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, các Thầy cô giáo của Học viện Y Dược Học
Cổ Truyền Việt Nam, đã dạy dỗ và truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt 4 năm
qua .
- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS- TS Nguyễn Bá Quang - Viện phó, Trưởng
khoa châm cứu Học viện Y-Dược học cổ truyền Việt Nam đã tận tình giúp đỡ và
hướng dẫn tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này.
- Tôi xin trân thành cảm ơn các bác sĩ và điều dưỡng Khoa nhi, Phòng kế
hoạch tổng hợp Bệnh viện châm cứu Trung ương đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi trong quá trình lấy cỡ mẫu bệnh nhi.
- Khóa luận tốt nghiệp này là thành quả trong suốt thời gian nghiên cứu và
cũng là hành trang để tôi tiếp tục học tập nhiều hơn trong quá trình nghiên cứu và
áp dụng vào việc chẩn đoán - điều trị cho bệnh nhân sau này. Trong thời gian học
tập và trình bày khóa luận, Tôi chưa phát huy và thể hiện được nhiều như mong
muốn, song tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình, đóng góp chân thành từ các
Thầy cô giáo, các đồng nghiệp… để tôi hoàn thiện mình hơn.
- Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những tình cảm, sự cổ vũ của gia đình và bạn bè
thân thiết của tôi trong suốt quá trình học tập để tôi hoàn thành khóa luận này.
Nguyễn Thị Kim Thanh.
- 1 -
BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết thường Chữ viết tắt
1. Enzym – Linked imnunosorbent assay ELISA
2. Thử nghiệm miễn dịch Enzym phát hiện kháng thể IgM MAC-ELISA
Phụ lục .......................................................................................................................44
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ
TT DANH MỤC GHI CHÚ
1 Tỷ lệ mắc bệnh di chứng sau VNNB cấp theo lứa tuổi và giới
2 Tỷ lệ bệnh nhi đến điều tri theo thời gian mắc bệnh
3 Các triệu chứng thần kinh thường gặp
3
4 Phân loại thể bệnh YHCT trước điều trị
5 Phân loại thể bệnh của YHCT theo thời gian mắc bệnh
7 Điểm Orgogozo trung bình
8
So sánh điểm Orgogozo trước và sau điề trị ở các bệnh nhi theo
thời gian mắc bệnh
9 So sánh điểm Orgogozo trước và sau điều trị theo nhóm tuổi
10 So sánh điểm Orgogozo trước và sau điều trị theo thể YHCT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Trang
Sơ đồ 1.1. Chu kì truyền VNNB…………………………………………………7
Hình 2.1.Máy điện châm M7 do Bệnh viện Châm cứu TW sản xuất……………21
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm não Nhật bản (VNNB) là một bệnh nhiễm virus cấp tính ở hệ thống thần
kinh Trung ương và là một trong những bệnh nặng nhất thuộc nhóm viêm não tiên
phát. Bệnh này thường xảy ra ở nhiều nước khu vực Đông Á Thái Bình Dương trong
đó có Việt Nam.
4
Bệnh có tính chất địa phương, thường gặp ở trẻ em là lứa tuổi quan trọng nhất
đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Bệnh gây nên do virut VNNB, thuộc nhóm
Arbo virut typ B, lây truyền từ nguồn bệnh đến người qua muỗi đốt. Virut VNNB sau
khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phát triển và gây tổn thương nặng nề ở hệ thống thần
kinh Trung ương. Ở giai đoạn viêm não cấp, tỷ lệ tử vong của người bệnh khá cao và
- Năm 1994, Viện Vệ sinh dịch tễ đã chế tạo thành công vacxin chống VNNB ở
Việt Nam [37].
2. Đặc điểm của VNNB theo y học hiện đại:
2.1 Định nghĩa và phân loại VNNB:
* Định nghĩa: là bệnh nhiễm virus cấp tính của hệ thần kinh trung ương do VNNB
gây nên, lây truyền từ muỗi và là một trong những bệnh nặng nhất thuộc nhóm viêm
não tiên phát, có tỷ lệ tử vong cao và để lại nhiều di chứng.
* Phân loại:
- Theo bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ X của tổ chức Y tế thế
giới(ICD.X,1992) VNNB, mang mã số A.83.0 thuộc nhóm các bệnh viêm não do
muỗi truyền.
Trong bảng phân loại của Ủy ban quốc tế về phân loại virus(I.C.T.Y,1991), virus
VNNB được xếp vào nhóm B của các virus Arbor thuộc họ Flaviridae dòng Flavi [1],
[23],[65],[69].
2.2 Dịch tễ học:
2.2.1. Dich tễ học:
- VNNB đã lan tràn trên một lãnh thổ khá rộng của nhiều nước thuộc Đông Nam Á
và Tây Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam[64]. Những nơi thường có VNNB
được thông báo là Ấn Độ, Nepan, Malaysia, Philipin, Nhật Bản, Việt Nam…[5],[20],
[64],[66].
- Bệnh VNNB thường gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng người lớn thường ít gặp hơn là trẻ
em, bệnh không liên quan đến giới tính [1],[36],[68].
- Mùa viêm não ở miền Bắc có đỉnh cao vào tháng 5,6,7 thường xảy ra hàng năm,
Miền Nam chưa thấy xảy ra thành dịch [21],[61].
- Về ổ chứa virus: theo cổ điển coi loại chim hoang dã đặc biệt là diệc (Heron).
Ngoài ra tỷ lệ kháng thể dương tính cao đối với virus VNNB đã được chứng minh
ở lợn ,ngựa ,các loài chim và hiếm gặp hơn ở trâu ,bò ,dê ,cừu ,chó ,khỉ .nhóm
6
súc vật nhiễm bệnh cao thì chim có thể coi là ổ chứa virus tiên phát thể thông qua
véc tơ truyền bệnh và truyền sang ổ thứ phát là vật nuôi trong nhà (chủ yếu là lợn)
bệnh nhi thường thấy sốt cao quá 40°C có thể kèm theo các rối loạn thần kinh thực
vật trầm trọng, bao gồm: rối loạn hô hấp, tăng tiết đờm dãi, động kinh liên tục, nôn ra
chất màu nâu và đột ngột ngừng thở, ngừng tim rồi tử vong. Tử vong ngày thứ 3 đến
ngày thứ 8 của giai đoạn cấp.
* Giai đoạn lui bệnh:
- Ở những bệnh nhi còn sống sót, bệnh cảnh lâm sàng chuyển từ giai đoạn toàn
phát sang giai đoạn bán cấp và kéo dài (giai đoạn lui bệnh và hồi phục). Tiến triển
của bệnh liên quan rất nhiều đến điều trị, co giật thường ngừng sau 24-48 giờ. Rối
loạn ý thức giảm dần trong 3-5 ngày. Nhiệt độ dần trở về bình thường từ tuần thứ 2
trở đi. Các rối loạn khác cũng thoái giảm sau 10-14 ngày [19],[20],[26]. Đối với
trường hợp phục hồi hoàn toàn nhiệt độ trở về bình thường, ý thức tỉnh táo trở lại,
chức năng thần kinh tâm trí dần phục hồi.
- Các di chứng sớm: Liệt cứng, liệt thần kinh sọ não, hội chứng ngoại tháp, nói
khó-thất ngôn, động kinh.
- Di chứng muộn (khoảng trên 1 tháng): Là những triệu chứng không thể tự hồi
phục được.
2.3. Đặc điểm cận lâm sàng.
2.3.1. Dịch não -tuỷ
Xét nghiệm dịch não- tủy rất quan trọng đối với bệnh nhân VNNB.
Theo nhiều tác giả thấy phần lớn quá tăng tế bào não-tủy. Theo Timofeev (1964),
protein-não tủy không tăng quá 1g/l, còn tế bào não tủy tăng 20-400/ml chủ yếu là
lympho bào [56].
8
Theo Lê Đức Hinh và cộng sự, ở trẻ em khoàng 90% trường hợp VNNB đều có
biến đổi thành phần dịch não - tuỷ: mức tăng của Protein từ 0,5 đến 1g/l và tế bào từ
10 đến 100 bạch cầu/ml với ưu thế là lympho, còn lượng glucoza và clorua trong dịch
não - tuỷ không thay đổi [20],[22].
2.3. Xét nghiệm huyết học
Trong máu, bạch cầu tăng cao, chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính, tốc độ máu
lắng thường cũng tăng.
[23].
- Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh VNNB theo Lê Đức Hinh (1987).
Năm 1987, Lê Đức Hinh [20] dựa trên những đặc tính kinh điển của VNNB, những
quy ước quốc tế về chẩn đoán, đã đề xuất tiêu chuẩn chẩn đoán VNNB như sau:
Bảng Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh VNNB
Nhóm
Tiêu
chuẩn
Tiêu chuẩn chính
Tiêu chuẩn
phụ
I
Lâm
sàng và
dịch tễ
1 Hội chứng màng não (cơ năng và thực thể)
2. Hội chứng viêm não cấp tính với bộ ba
triệu chứng:
- Sốt trên 38
0
C
- Co giật liên tiếp và liệt vận động
- Ngủ gà hoặc hôn mê
1. Bệnh nhân ≤
15 tuổi (thường từ
2-7 tuổi)
2. Mắc bệnh
vào mùa hè (tháng
5 - 8)
II
Lâm sàng và chẩn đoán huyết thanh dương tính
2.5. Tin hình nghiên cứu các di chứng về thần kinh và tâm thần VNNB.
VNNB có tỷ lệ tử vong cao, số bệnh nhi sống sót thương mang nhiều di chứng về
thần kinh, tâm thần và thường kết hợp nhiều di chứng trên một bệnh nhi [20],[28],
[30]
Năm 1948, sau vụ dịch viêm não lớn xảy ra ở Tokyo, S.Tatetsu đã nghiên cứu 117
bệnh nhân từ giai đoạn cấp tính tiếp cho tới 1 tháng đến 4 tháng sau và đã cho những
phân tích sâu sắc về các rối loạn thần kinh và tâm trí. Theo tác giả, đa số các trường
hợp thấy co cứng cơ, vẻ mặt nghèo nàn, nét mặt sững sờ, tăng trương lực cơ, tăng
động kiểu run, múa giật, múa vờn (68%). Rối loạn ý thức, bản thân tỏ ra có quan hệ
chặt chẽ với những triệu chứng tăng động. Liệt vận động, tăng phản xạ gân xương,
dấu hiệu Babinski là triệu chứng hay gặp [79].
Goto A. theo dõi từ 3 đến 10 năm (1953-1962) các bệnh nhân VNNB cho thấy các
rối loạn thần kinh và tâm thần trong giai đoạn cấp và bán cấp rất đa dạng, thuyên
giảm dần dần và chậm chạp. Thường có di chứng trở thành vĩnh viễn sau ba năm
[66].
Matsunaga và cộng sự [73] thống kê 324 trường hợp VNNB tại Nhật bản thấy
31% phục hồi hoàn toàn, 48% để lại di chứng, 17% tử vong, không theo dõi được
4%.Các di chứng về vận động nổi bật nhất là liệt nửa người, liệt tứ chi ở các mức độ
khác nhau.
Theo Lê Đức Hinh [20] tỷ lệ di chứng VNNB là 50%. Trần Trọng Hải và cộng sự
[13] thấy 81,49% có biểu hiện rối loạn vận động, 74,08% có giảm trí tuệ trong đó có
24, 69% không đủ khả năng giao tiếp, 1,23% mù và điếc.
Giai đoạn di chứng thỉnh thoảng còn sốt trở lại, sốt thường không có chu kỳ.
Những trường hợp sốt trở lại hay gặp ở những trẻ giai đoạn cấp nặng, thể trạng suy
kiệt nhiều và thường có bội nhiễm.
11
Tóm lại những biểu hiện di chứng nổi bật của bệnh VNNB theo Lê Đức Hinh
[20] là:
- Chậm phát triển tâm lý và vận động ở trẻ em.
năng từ cán bộ phục hồi chức năng cho các thành viên của cộng đồng, gia đình và
bản thân người bệnh.
* Kỹ thuật phục hồi chức năng:
- Phục hồi vận động: phục hồi sớm, toàn diện, khuyến khích tập các vận động thông
thường, tập theo các giai đoạn, theo sự phát triển của mọi lứa tuổi. Khuyến khích trẻ học
các động tác liên quan đến đời sống hàng ngày, tập các tư thế nằm, ngồi quỳ, đứng
thẳng. Chống biến dạng các khớp. Đối với các cháu bị co cứng nhiều, cần chống co cứng
bằng cách làm mềm cơ bi co cứng khuyến khích trẻ vận động giúp cho cơ thể tránh được
những tư thế co cứng và chống biến dạng. Đối với thể mềm nhẽo nên khuyến khích các
vận động làm tăng cường sức hoạt động của cơ.
+ Dụng cụ trợ giúp vận động như: ghế, bàn tập đứng, xe lăn, ván trượt, khung đi,
nạng...
+ Dụng cụ chỉnh hình gồm: nẹp, máng để chống co rút, giầy chỉnh hình về chiều
cao và nắn bàn chân bị khèo.
+ Dụng cụ tập luyện: thang thường, thang dây, ròng rọc, bao cát để kéo giãn cơ,
xe đạp, nẹp máng gỗ.
2.6.3. Chăm sóc và dinh dưỡng:
Chỉ có tác dụng điều trị hỗ trợ, nhưng cũng rất cần thiết, giúp cho điều trị phục
hồi chức năng đạt được kết quả tốt hơn.
- Nâng cao thể trạng: chế độ ăn giàu chất dinh dưỡng và năng lượng, đủ muối
khoáng và vitamin. Ăn từ lỏng tới đặc dần, nếu cần có thể nuôi dinh dưỡng qua ống
thông mũi - dạ dày.
- Chống loét: Với những trẻ em rối loạn vận động nhiều phải nằm tại chỗ cần vệ
sinh hàng ngày, thay đổi tư thế nằm ...
3. ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THEO Y HỌC CỔ
TRUYỀN
3.1. Đặc điểm VNNB theo y học cổ truyền:
3.1.1. Hệ thống các bệnh ôn nhiệt
Từ đời xưa truyền lại, cách điều trị các bệnh ôn nhiệt đã được danh y đời Thanh
thế kỷ XVIII, XIX như Diệp Thiên Sỹ, Ngô Cúc Thông, Vương Mạnh Anh ... dựa
Triệu chứng: sốt cao 40-41
0
C, hôn mê, gây cứng, co giật.
- Lưỡi đỏ sẫm, khô.
- Mạch: tế, sác
* Thời kỳ( giai đoạn có biến chứng nặng)
14
Triệu chứng: Sốt cao li bì, hôn mê, nói sảng, co giật, nhãn cầu đảo ngược, có nốt
ban đỏ hoặc nôn ra máu, nhịp thở rối loạn.
- Lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng khô.
- Mạch: tế, sác.
Trên lâm sàng, bệnh thường qua phần vệ rất nhanh rồi chuyển sang phần khí, vì
vậy một số tác giả hay chia thể vệ khí là một, rồi mới đến phần doanh và huyết[52].
Khi ôn bệnh đã tác động vào phần doanh, phần huyết thì bệnh rất khó chữa, di chứng
rất nặng nề.
Giai đoạn vệ khí là tương đương với thời đầu của giai đoạn toàn phát nhưng chưa
có các triệu chứng não, màng não.
Doanh huyết là giai đoạn có biến chứng mất nước, nhiễm độc thần kinh, rối loạn
điện giải.
* Giai đoạn sau:
Tác nhân gây bệnh (thử ôn) xâm nhập vào cơ thể làm tổn thương đến tạng phủ, khí
huyết, kinh mạch. Bệnh nhân sau khi sốt lui hồi phục dần nhưng do sốt kéo dài lâu ngày
gây hao tổn tân dịch (âm hư) và để lại các di chứng thần kinh, tâm thần [3],[52].
3.1.3. Giai đoạn phục hồi và di chứng
Do nhiệt vào phần huyết kéo dài làm tân dịch hao tổn không nuôi dưỡng được gân
cơ, tinh huyết khô kiệt thủy không nuôi dưỡng được can mộc, âm hư liên cập đến
dương, làm khí âm dương đều hư. Thử thường hiệp thấp, thấp bị thử cô lại thành
đàm, bế tắc tâm khiếu, trở trệ mạch lạc, sinh đần độn khó nói, chân tay co cứng hoặc
tê liệt.
Dựa vào biện chứng theo dinh vệ khí huyết và quy nạp vào bát cương để đánh giá
3.3.1. Đại cương châm cứu [45],[47],[49].
Sách linh khu viết: Mục đích và phạm vi của việc dùng châm là để điều hoà khí
[6]. Điều khí là bản chất chính là điều hoà khí âm dương, trên cơ sở tả cái thực của
khí hữu dư, bổ cái hư của khi bất túc ở những vị trí khác nhau của cơ thể, do những tà
khí khác nhau gây ra. Tả cái thực của khí hữu dư chính là để ngăn chặn và đuổi tà khí
gây bệnh ra khỏi cơ thể (khu tà). Bổ cái hư của khí bất túc nhằm phục hồi và nâng
cao sức chống đỡ của cơ thể (phù chính). Âm dương được điều hoà, khí huyết được
lưu thông thì mọi bệnh tật có thể khỏi và mọi chứng đau sẽ hết. Điều này y học cổ
truyền gọi là “tăng cường chính khí để đuổi tà khí” [49],[50].
Theo quan điểm của y học hiện đại, hiệu quả chính của châm cứu là điều hoà chức
phận của cơ thể, nâng cao sức chống đỡ, tăng cường chức năng hệ miễn dịch và các
khả năng chống viêm, giảm đau, chống co thắt và chống liệt.
16
* Tác dụng của châm cứu nổi bật trong lĩnh vực điều trị rối loạn các chức năng
của y học hiện đại. Phạm vi ứng dụng của châm cứu ngày càng được ứng dụng, trong
hầu hết các bệnh, ở tất cả các chuyên ngành như Nội, Ngoại, Sản, Nhi ... nhưng tác
dụng rõ nhất trong điều trị rối loạn chức năng thần kinh [49],[52].
* Hiện nay châm cứu được dùng nhiều và thu được những kết quả khả quan để
điều trị các bệnh của hệ thần kinh sau [46],[47],[52],[57].
- Viêm hoặc liệt dây thần kinh ngoại biên, đám rối, thần kinh rễ, cổ, ngực, lưng,
cùng như liệt dây thần kinh do lạnh, đau dây thần kinh tam hoa, đau dây thần kinh
liên sườn, đau dây thần kinh hông ...
- Đau đầu, rối loạn thần kinh tuần hoàn não, hội chứng nhức nửa đầu, hội chứng
suy nhược thần kinh ... mất ngủ, đái dầm, thấp khớp.
- Và chữa những bệnh khó như chữa di chứng tai biến mạch máu não, viêm màng
não, viêm màng nhện tuỷ, bại liệt trẻ em ...
- Châm tê để mổ trên 60 loại phẫu thuật.
3.3.2. Vai trò sử dụng điện châm và kích thích điện.
Điện châm là tác động vào huyệt (qua kim châm cứu) tức là dùng một máy điện tử
tạo xung điện với tần số và cường độ thích hợp để kích thích và điều hoà sự vận hành
khỏi và đỡ nhiều chiếm 82,5% bệnh nhân đỡ ít 17,5% [50] .
Năm 2001, Nguyễn Thị Tú Anh [1] dùng điện châm cho 116 bệnh nhi do di chứng
VNNB sau giai đoạn cấp, cho kết quả 39,65% (46 trẻ khỏi), đỡ nhiều 46,55%, đỡ ít
13,8%.
Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành :
“Nhận xét một số tác dụng của điện châm phục hồi chức năng vận động
cho bệnh nhi viêm não Nhật bản sau giai đoạn cấp”
Chương II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm các bệnh nhi dưới 16 tuổi có huyết thanh chẩn đoán là VNNB đã được
điều trị qua giai đoạn cấp tại Viện Nhi đến khám và điều trị nội trú tại Khoa Nhi
Bệnh viên Châm cứu Trung ương.
1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhi
Lâm sàng và chẩn đoán huyết thanh dương tính
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhi giai đoạn cấp:
18
- Về lâm sàng: Tất cả bệnh nhi này đã được chẩn đoán là VNNB và điều trị qua
giai đoạn cấp ở Viện Nhi, sau đó được chuyển vào điều trị tại khoa Nhi bệnh viện
Châm cứu Trung ương một cách ngẫu nhiên.
+ Bệnh nhi hết sốt.
+ Bệnh nhi hết hôn mê.
+ Mạch, huyết áp, nhịp thở trong phạm vi bình thường.
Có các rối loạn vận động như:
+ Rối loạn trương lực cơ: tăng hoặc giảm
+ Liệt vận động: liệt một chi, liệt nửa người, liệt hai chân, liệt tứ chi
+ Dấu hiệu ngoại tháp: tăng trương lực cơ kiểu ngoại tháp, run, múa, giật, múa
vờn và các động tác khác ...
- Về chẩn đoán huyết thanh:
Chẩn đoán huyết thanh dương tính với kháng thể kháng virus VNNB IgM.
Blocking 1 chiều Multistep xoay chiều
Tần số
0,5-30Hz
30-1800 xung/phút
2 - 60 Hz
120 - 3600 xung/phút
Cường độ (I) Idx: 0 - 650 mcA Idx:0-3mA
Biên độ xung Udx: 0-70V Udx: 0-200V
Độ rộng sườn xung 20ns 10ns
Điện nguồn 6Volts
Bảng 2.1:
20
Bệnh nhi có rối loạn vận động sau giai
đoạn cấp của VNNB
Nhóm nghiên cứu (được xây dựng theo
mẫu nghiên cứu giống nhau)
Trước
điều trị
Sau
điều trị
Máy điện châm
* Bổ với tần số từ 5 - 50HZ . F = 2HZ
* Tả với tần số từ 5 - 100HZ . F = 5HZ
2.2.2. Phác đồ điều trị và kỹ thuật châm và điện châm:
* Phác đồ điều trị
Mọi phương pháp điều trị của y học cổ truyền đều dựa theo nguyên lý hư thì bổ,
thực thì tả, điều hoà âm dương. Châm cứu có tác dụng cân bằng âm dương, điều hoà
chức năng tạng phủ, thông kinh hoạt lạc tại vùng bị bệnh theo nguyên tắc: “kinh
mạch sở quá, chủ trì sở cập” tức là kinh mạch đi qua vùng nào thì chữa bệnh vùng
đó.
xuống phía dưới
Kỹ thuật châm: Đảm bảo đến đắc khí.
+ Trật biên : dùng kim 12cm, châm nghiêng sâu hướng về huyệt Hoàn khiêu .
22
+ Thừa phù: dùng kim 6cm, châm sâu tới huyệt.
+ Uỷ trung .dùng kim 5cm
+ Thừa sơn: dùng kim 5cm.
+ Giải khê : Dùng kim số 5cm.
+ Khâu khư ,dùng kim 5cm .
+ Giáp tích L1-S1: dùng kim dài 8-12cm, châm dọc theo hai cột bên cột sống,
hướng kim xuống phía dưới.
+ Túc tam lý: Dùng kim dài 6cm châm thẳng kim .
+ Dương lăng tuyền : dùng kim dài 10cm .
+ Tam âm giao : dùng kim 6cm châm thẳng kim.
+ Huyết hải : Dùng kim 6cm châm bổ .
+ Hành gian : dùng kim 5cm ngược theo đường kinh đến Thái xung .
+ Địa ngũ hội ; dùng kim 5cm châm sâu xuyên đến Túc lâm khấp.
Chống chỉ định: Ngừng châm khi bệnh nhân sốt cao, viêm phế quản, viêm phổi,
tiêu chảy mất nước,vượng châm.
* Điện châm (kích thích bằng máy) điện châm M7.
- Bổ và tả là hai kỹ thuật kích thích huyệt được sử dụng theo từng huyệt.
- Huyệt cần bổ phải mắc các dây ở máy điện châm bên tân số bổ.
- Huyệt cần tả phải mắc các dây ở máy điện châm bên tần số tả.
Các cặp dây ra sẽ kích thích cho hai huyệt ở cùng đường kinh Dương và đường
kinh Âm với nhau.
Cường độ kích thích tăng dần 2 đến 100µA ở ngưỡng thích hợp mà bệnh nhi chịu
được . Với trẻ không nói được tốt nhất là thử điện dưới cằm trước khi mắc dây cho
bệnh nhi .
- Tả với tần số kích thích: 100-200xung/phút
- Bổ với tần số kích thích: 30-60 xung/phút
- Không đỡ: Phản xạ gân xương không thay đổi so với lúc vào.
* Dấu hiệu bệnh lý (babinski, hoffman) dương tính
- Khỏi: dấu hiệu bệnh lý trở về âm tính (chỉ đánh giá ở trẻ trên 3 tuổi đối với
dấu hiệu babinski)
- Đỡ: dấu hiệu bệnh lý lúc có, lúc không, phải tìm kỹ mới thấy
- Không đỡ: dấu hiệu bệnh lý vẫn dương tính rõ.
* Rối loạn trương lực cơ: từ nặng tới nhẹ thường gặp là giảm hoặc quá tăng, tăng
trương lực cơ
24
- Khỏi: trương lực cơ trở về bình thường, hết rối loạn
- Đỡ: tiến triển theo chiều hướng nhẹ đi, nhưng vẫn chưa trở về bình thường,
như trương lực từ giảm sang tăng, hoặc từ quá tăng sang tăng nhẹ.
- Không đỡ: rối loạn này không thay đổi, hoặc tăng thêm. Như từ tăng sang quá
tăng, từ giảm sang quá giảm.
* Rối loạn ngoại tháp: thường phối hợp nhiều rối loạn trên một bệnh nhi.
- Khỏi: hết hoàn toàn các rối loạn này
- Đỡ: các rối loạn này trở nên kín đáo hơn, số lượng rối loạn mà mỗi bênh nhi
phải mang cũng giảm bớt.
- Không đỡ: các rối loạn này không thuyên giảm, thậm chí còn tăng thêm về mặt
mức độ hoặc số lượng
* Rối loạn cảm giác: thường gặp là tăng cảm giác đau, hoặc giảm cảm giác.
- Khỏi: hết hoàn toàn các rối loạn này
- Đỡ: Các rối loạn này giảm bớt nhưng vẫn còn
- Không đỡ: các rối loạn này không thay đổi, hoặc nặng thêm,
2.3.2. Nhận xét rối loạn vận động:
a) Đánh giá mức độ liệt theo thang điểm Orgogozo:
Theo thang điểm trên đánh giá tình trạng ý thức giao tiếp ngôn ngữ , quay mắt,
quay đầu, vận động mặt, nâng chi trên, vận động bàn tay, trương lực cơ chi trên, nâng
chi dưới, gấp bàn chân, trương lực cơ chi dưới(Cộng 100 điểm)
BẢNG ĐIỂM ORGOGOZO (1985)