A: lời nói đầu
Vi phạm pháp luật hành chính cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều
là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến những quan hệ xã hội
được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, đấu trang phòng chống các vi phạm pháp luật
hành chính nói chung và các vi phạm pháp luật hành chính nói riêng luôn là một
nhiệm vụ trọng yếu của nhà nước ta.
Hơn thế, trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang trong quá trình đổi
mới với việc xây dựng nền kinh tế hang hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường. Thì áp dụng đúng pháp luật nói chung và đúng pháp luật về xử phạt
hành chính nói riêng sẽ góp phần tích cực vào quá trình đổi mới đất nước, bảo
vệ trật tự, an ninh xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước,
đảm bảo cho quá trình đồi mới đất nước được thành công.
Trước sự đóng góp to lớn như thế của việc áp dụng pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính. Chúng ta không thể bỏ qua câu hỏi: vậy pháp luật về xử
pháp vi phạm hành chính đã được áp dụng như thế nào? Đã để lại những ưu
nhược điểm nào? Có phù hợp với thực tế cuộc sống không? phải trả lời đượ c
câu đó ta mới đưa ra được những giải pháp hữu hiệu để ngày càng hoàn thiện hệ
thống pháp luật nói chung và hệ thống về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng.
Do khả năng nhận thức cũng như kiến thức về thực tế còn hạn chế nhóm
chúng em xin góp một bài viết nhỏ về thực trạng áp dụng pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính. Bài viết chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Mong
quý thầy cô và các bạn thông cảm và giúp đỡ nhóm em ở bài viết sau tốt hơn.
B: nội dung
I Quy định của pháp luật
1. vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý
hoặc vô ý, vi phạm các quy định cuả pháp luật về quản lý nhà nước mà không là
tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử phạt hành chính( Giáo trình luật
hành chính Việt Nam- Đại học Luật Hà Nội)
2. xử phạt vi phạm hành chính
a. khái niệm
đối với mỗi vi phạm hành chính tổ chức vi phạm phải chịu một trong
các hình thức xử phạt hành chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền
- cảnh cáo:
được quy định tại điều 13 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm
2002: “ cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nhỏ, lần đầu,
có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người
chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết
định bằng văn bản”
VD: Theo khoản 1 Điều 28 của Nghị định 152/2005/NĐ-CP quy định: “
Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe máy,
xe máy điện và các loại xe tương tự mô tô hoặc điều khiển xe mô tô, xe máy kéo
và các loại xe tương tự ô tô”.
Vi phạm hành chính bị xử phạt cảnh cáo là những vi phạm hành chính
nhỏ, chưa gây thiệt hại vật chất, mức độ xâm hại đối với trật tự quản lý nhà nước
không lớn hoặc vi phạm hành chính lần đầu, do sơ suất hoặc tác động khách
quan hoặc thuộc trường hợp có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điều 8 pháp
lệnh xứ lý vi phạm hành chính năm 2002.
- Phạt tiền
là hình thức xử phạt chính được quy định tại điều 14 pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002. nhìn chung, các tổ chức, cá nhân vi phạm hành
chính nếu không thuộc trường hợp bị xử phạt cảnh cáo thì bị xử phạt bằng hình
thức phạt tiền. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định mức
phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính là từ 5000 đồng đến 500000000
đồng.
- Trục xuất
trục xuất là buộc người có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam phải
rời khỏi lãnh thổ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Trục xuất vừa là hình thức phạt chính, vừa là hình thức phạt bổ sung
+ Trục xuất là hình thức phạt chính khi được áp dụng độc lập hoặc áp
dụng với hình phạt bổ sung: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành
trên cơ sở nguyên tắc xác định thẩm quyền được quy định tại điều 42
của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì thẩm quyền xử phạt
của những người được quy định tại các điều từ điều 28 đến điều 41 của pháp
lệnh là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính.
5. thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và một số vấn đề có liên quan.
a. thủ tục ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
- Thủ tục đơn giản( Điều 54 của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
năm 2002).
II Thực trạng áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính
1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính
a. Cảnh cáo
Được quy định tại điều 13 của pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 2002, là một trong 2 hình thức xử phạt chính trong xử phạt vi phạm
hành chính. So với hình thức phạt tiền, cảnh cáo là hình thức xử phạt nhẹ hơn,
mang ý nghĩa giáo dục hơn trừng phạt.
VD: Trần Văn Long lần đầu tiên điều khiển xe máy vào nội thành.
Long đi trên đoạn đường bắt buộc phải giảm tốc độ nhưng Long lại không chú
ý. Cảnh sát giao thông đã phạt cảnh cáo Long theo điểm b khoản 1 Điều 12 của
Nghị định số 152/2005/NĐ-CP.
Một điểm rất đáng chú ý là hình thức cảnh cáo được áp dụng đối với mọi
vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
thực hiện. Đây là một quy định rất mới của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
năm 2002 so với pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995. Điểm mới này
xuất pháp từ chính sách sử lý hình sự đối với người chưa thành niên quy định tại
điều 69 của Bộ Luật Hình Sự. Đối với người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới
16 tuổi tuyệt đại đa số các em đi làm chưa có thu nhập hơn nữa ở tuổi này các
em chưa hoàn thiện về mặt nhận thức và tâm lý.
Nếu như ở pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 quy định hình
thức phạt cảnh cáo ngoài quyết định bằng văn bản ra còn được thể hiện bằng
những hình thức khác do pháp luật quy định trong khác văn bản pháp luật có
- phạt tiền:
phạt tiền là một trong hai hình thức xử phạt chính, được coi là hình
thức phạt chủ yếu trong xử phạt vi phạm hành chính. Trong hai hình thức
xử phạt, phạt tiền được áp dụng phổ biến hơn, với đa số vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Phạt tiền là việc tước bỏ của
cá nhân, tổ chức vi phạm một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước.
Phạt tiền tác động trực tiếp đến vật chất, lợi ích kinh tế của cá nhân, tổ
chức vi phạm, gây cho họ hậu quả bất lợi về tài sản. Vì lý do đó, hình
thức xử phạt này có hiệu quả rất lớn trong việc đấu tranh phòng chống vi
phạm hành chính.
VD: Trần Văn Hải có hành vi khôkng thực hiện những quy định về
đăng kí hộ khẩu khi thay đổi nơi cư trú. Theo quy định của khoản 1 Điều
11 Nghị định của Chính phủ số 150/2005/ND-CP ngày 12 tháng 12 năm
2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự thì bị
phạt tiền từ 60000 đồng đến 100000 đồng.
Mức phạt tiền tối thiểu trong xử phạt vi phạm hành chính là
5000 đồng và mức tối đa là 500 triệu đồng đảm bảo được tính hợp lý, phù
hợp với điều kiện kinh tế ngày càng phát triển. Nếu như quy định mức
phạt cao sẽ không phù hợp với điều kiện kinh tế chung của toàn xã hội,
còn nếu quy định mức tiền phạt thấp sẽ không phát huy được tác dụng
hữu hiệu của việc phạt tiền, khiến cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thái độ “
kinh nhờn” pháp luật. Quy định mức phạt tối đa và mức phạt tối thiểu
trong xử phạt vi phạm hành chính có khoảng cách lớn như vậy là rất hợp
lý vì vi phạm hành chính đa dạng trong mọi lĩnh vực và ở những tính chất
và mức độ khác nhau.
Đối với lĩnh vực chưa được pháp luật dự liệu thì Chính phủ có
thẩm quyền quy đinh mức phạt nhưng tối đa không quá một trăm triệu.
Với quy định như thế này nhằm đảm bảo mọi vi phạm hành chính đều bị
xử lý.
Trong điều kiện kinh tế xã hội pháp triển như hiện nay thì pháp
trục xuất được quy định vừa là hình thức phạt chính vừa là hình thức phạt
bổ sung tạo ra sự linh hoạt trong thực tiễn áp dụng. Người nước ngoài vi phạm
pháp luật Việt Nam có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền đồng thời cũng có thể bị
trực xuất mà không bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.
Song thực tế áp dụng hình thức xử phạt trục xuất lại không đơn giản chút
nào vì đó là một vấn đề phức tạp, nhạy cảm, có thể ảnh hưởng đến quan hệ giữa
các quốc gia, thủ tục trục xuất phải được quy định cụ thể, chặt chẽ. Vì thế, pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định: giao chính phủ quy định cụ thể thủ tục
trục xuất đồng thời thẩm quyền quyết định áp dụng hình thức xử phạt này được
giao cho Bộ trưởng bộ Công An, thống nhất với quy định pháp lệnh nhập cảnh,
xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Chính vì vậy, mà trong
quá trình xử lý vi phạm hành chính phải hạn chế đến mức tối đa hình thức này vì
nó không những phức tạp mà còn liên quan đến vấn đề ngoại giao cuả đất nước.
Và một vấn đề nữa được đặt ra trong quá trình áp dụng hình thức xử phạt
này. Nếu như người có hành vi vi phạm hành chính là người không quốc tịnh thì
biện pháp này sẽ xử lý như thế nào?
b. Các hình thức xử phạt bổ sung
Hình thức xử phạt bổ sung không áp dụng độc lập, chỉ được áp dụng
khi có hình phạt chính nhưng trong thực tế hiện nay thì tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện để sử dụng vi
phạm hành chính…đối với những vi phạm hành chính có tính chất và mức độ
lớn đã có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh với những vi phạm hành
chính đặc biệt trong lĩnh vực như sản xuất, lưu thông, kinh doanh thương
nghiệp…
đặc biệt trong các hình thức bổ sung có hình thức mới được quy định
trong pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 là tước quyền sử dụng
chứng chỉ hành nghề. Ví dụ như: chứng chỉ hành nghề luật sư… Vì hình thức
phạt bổ sung nên nó phải được sử phạt kèm theo hình thức phạt chính. Chính
vì thế nó để lại một số bất cập trong quá trình áp dụng nó vào xử lý vi phạm.
Nếu A tham gia giao thông có hành vi vi phạm mà chỉ bị phạt cảnh cáo mà