MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1. TỔNG QUAN
3
1.1. Phân loại chi Lonicera L. trên thế giới và một số vấn đề khác có liên
quan
3
1.1.1. Một vài quan điểm phân loại chi Lonicera và họ Caprifoliaceae
3
1.1.2. Kết quả nghiên cứu phân loại chi Lonicera ở một số quốc gia và vùng
lãnh thổ
7
1.2. Nghiên cứu phân loại và sự phân bố của các đại diện thuộc chi
Lonicera L. ở Việt Nam
8
1.2.1. Nghiên cứu phân loại
9
1.2.2. Nghiên cứu về phân bố
10
1.3. Vài nét về việc nghiên cứu Kim ngân làm thuốc
10
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
12
2.1. Đối tượng nghiên cứu
12
2.2. Nội dung nghiên cứu
Chương 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
49
4.1. Kết luận
49
4.2. Kiến nghị
50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
51
PHẦN PHỤ LỤC
55
PHỤ LỤC 1 56
PHỤ LỤC 2 58
PHỤ LỤC 3 59
PHỤ LỤC 4 64
HÌNH ẢNH MỘT SỐ LOÀI CHÚNG TÔI THU THẬP ĐƯỢC TRONG QUÁ
TRÌNH ĐI ĐIỀU TRA THỰC ĐỊA
75
Với mục đích:
2
- Xây dựng được khóa phân loại và bản mô tả đặc điểm hình thái của các loài
Kim ngân, thuộc chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae hiện có tại Việt Nam.
- Chỉ ra được một cách khái quát vùng phân bố chủ yếu của các loài Kim
ngân đã biết ở nước ta.
Caprifoliaceae dựa vào những đặc điểm chính như sau:
(.) Ống đài hoa dạng cốc ở phần ngực hoa. Tràng liền, đơn. Gồm có các chi:
Linnaea L., Triosteum L., Ovieda L., Symphoricarpos, Diervilla, Xylosteon,
Caprifolium, Lonicera.
4
(.) Ống đài hoa dạng cốc ở phần ngực hoa. Tràng hoa nhiều, rời gồm các chi
như sau: Loranthus, Lonicera, Viscum, Rhizophora L.
(.) Đài hình mũi mác, tràng liền đơn. Gồm có các chi như sau: Viburnum,
Hortensia, Sambucus.
(.) Đài phức tạp, có vòi nhụy rõ rệt. Tràng hoa nhiều, rời. Gồm có các chi
như sau: Cornus, Hedera.
Từ 1824 đến 1841, Augustin Pyramus de Candolle cho ra series công trình
mang tên “Prodromus systematis naturalis regni vegetabilis”, tác giả mô tả chi
Lonicera có 54 loài, trong đó có 3 loài sau này cũng biết có ở Việt Nam, như
Lonicera macrantha, L. confusa, L. acuminata [19].
Trong cuốn “Annales Musei Botanici Lugduno-Batavi”, năm 1863, tác giả
Rijksherbarium để chi Lonicera thuộc họ Lonicereae. Các loài trong chi Lonicera
được đề cập là 10 loài, trong đó cũng có 3 loài sau này biết có ở Việt Nam là
Lonicera japonica, Lonicera cofusa, L. hypoglauca [41].
Năm 1865, Trong cuốn sách “Annales Musei Botanici”, tác giả F. A. Guil.
Miguel xếp chi Lonicera L. vào họ Lonicereaceae gồm có 10 loài, trong đó có loài
L. japonica Thunb., L. confusa DC., L. hypoglauca Miq. là thấy có ở Việt Nam
[30].
Công trình “The Journal of the Linnean Society, vol XXIII” ra đời năm 1888
của các nhà khoa học thuộc Vườn Thực vật Missouri, mô tả chi Lonicera L. có 34
loài, trong số đó có những loài cũng có ở Việt Nam như Lonicera japonica Thunb. ,
L. bournei Hemsl., L. macrantha (D. Don) Spreng., L. hypolauca Miq., L. confusa
DC. [39].
Ba năm sau, năm 1891, trong cuốn “The Journal of the Linnean Society”,
Family:
1. Caprifoliaceae
2. Valerianaceae
3. Triplostegiaceae
4. Dipsacaceae
5. Morinaceae
Trong họ Caprifoliaceae lại chia ra các phân họ:
+ Diervilleae: gồm các chi Weigela, Diervilla.
+ Lonicereae: gồm các chi Leycesteria, Lonicera
+ Triostomeae: gồm các chi Triosteum
6
+ Linnaeeae: gồm các chi Symphoricapos, Linnaea, Dipelta, Heptacodium,
Kolkwitzia, Abelia, Zabelia [22].
Trong “Flowering Plants”, Năm 2009, tái bản lần thứ II có sửa chữa, của
Tác giả A. Takhtajan vẫn theo quan điểm của các nhà Thực vật học đi trước, đặc
biệt là việc ra đời hệ thống phân loại của A.L. de Jussieu năm 1789 [ 23 ]. A.
Takhtajan đặt tên họ Caprifoliaceae trên cơ sở hợp nhất 3 họ Diervillaceae Pyck
1998; Linnaeaceae Backlund 1998 và Loniceraceae Vest 1818 với tổng số gồm 275-
300 loài của 12 chi [23,24,25]. Mặc dù vậy, Ông có đôi chút thay đổi trong quan
điểm của mình về hệ thống phân loại họ Caprifoliaceae, khi vẫn chia họ này ra
thành các phân họ, tuy nhiên các chi thuộc mỗi phân họ có sự thay đổi. Cụ thể như
sau:
+ Diervilleae: Weigela, Diervilla
+ Lonicereae: Leycesteria, Lonicera, Heptacodium, Symphoricarpos
+Triostomeae: Triosteum
+ Linnaeeae: Linnaea, Dipelta, Kolkwitzia, Abelia, Zabelia.
Sự thay đổi đó là ông xếp chi Heptacodium và Symphoricarpos từ phân họ
Linnaeeae sang phân họ Lonicereae. Trong đó tiêu chí để phân ra chi Lonicera là
1.1.2. Kết quả nghiên cứu phân loại chi Lonicera ở một số quốc gia và vùng lãnh
thổ
Theo một số tài liệu đã công bố, chi Lonicera L. trên thế giới có khoảng hơn
200 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực ôn đới và vùng núi cao của Bắc bán cầu.
Trong Flora of China, vol. 19 mô tả chi Lonicera L. có khoảng 180 loài, phân
bố ở Nam Phi, Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ. Ở Trung Quốc có 57 loài, trong đó có 23
loài là đặc hữu của quốc gia này [46].
Trong Thực vật chí Pakistan có đề cập chi Lonicera L. có 20 loài, trong đó
có 18 loài là loài bản địa của Pakistan, còn 2 loài là do du nhập về trồng . Trong số
các loài có mặt ở Pakistan thì có tới 14 loài có hình vẽ kèm theo, tuy nhiên cũng
chưa có khóa phân loại cho các loài và chưa mô tả về khu vực phân bố [42].
8
Trong Thực vật chí Missouri đề cập chi Lonicera L. có 11 loài, tuy nhiên
không có bản mô tả về khóa phân loại và khu vực phân bố [33].
Trong Thực vật chí Taiwan, chi Lonicera L. có 7 loài, có khóa phân loại và
hình vẽ mô tả nhưng chưa nói rõ khu vực phân bố [43].
Trong thực vật chí Trung Quốc, khóa phân loại cho các loài thuộc chi
Lonicera, trong đó có 7 loài cũng có ở Việt Nam là Lonicera calcarata, L.
acuminata, L. japonica, L. macrantha, L. hildebrandiana, L. bournei, L.
hypoglauca. Khóa phân loại này dựa trên các đặc điểm đặc trưng của các loài và
khá dễ dàng thực hiện. Chính vì vậy, khóa phân loại này được áp dụng để phân loại
cho các loài hiện có ở Việt Nam.
Như trên đã đề cập, mặc dù có vài quan điểm khác nhau trong việc xếp đặt vị
trí của chi, song về cơ bản các tác giả khi nghiên cứu phân loại chi Lonicera đều
thống nhất mô tả đặc điểm chung của chi Lonicera, họ Caprifoliaceae như sau:
Cây bụi đứng hay bụi trườn, đôi khi là dạng leo; rụng lá hoặc thường xanh.
Cành rỗng với lõi màu trắng hoặc nâu; có chồi ngủ mùa đông, với 1 hoặc vài cặp lá
vảy. Lá mọc đối, hiếm khi mọc vòng, nguyên, hiếm khi xẻ răng cưa, lá kèm ở giữa
cuống lá vắng hoặc hiếm khi phát triển tốt. Cụm hoa dạng chùy, mọc ở nách lá hoặc
về phân loại chi Lonicera L. ở nước ta [6]. Đến năm 2005, trong bộ “Danh lục các
loài thực vật Việt Nam” tập II các Tác giả đã tổng hợp được ở nước ta có cả thảy 9
loài Kim ngân thuộc cho Lonicera L.
Bên cạnh các công trình về thực vật học trên đây, trong các công trình về cây
thuốc Việt Nam đều có đề cập tới các loài Kim ngân như: Trong cuốn “Tài nguyên
cây thuốc Việt Nam”, của nhóm Tác giả ở Viện Dược liệu, năm 1993 có ghi rõ ở
Việt Nam có 6 loài Kim ngân [12]. Trong bộ “Selected medicinal plants in Viet
Nam”, volume II, 1999 cũng đề cập 6 loài thuộc chi Lonicera L. nhưng chỉ mô tả 3
loài [ 41 ]. Hay trong cuốn “Cây thuốc và động vật làm thuốc tỉnh Kon Tum”, 2007
cũng nêu tên 2 loài, trong đó lần đầu tiên loài L. hypoglauca được công bố có ở Việt
Nam [11]. Gần đây, trong bộ “Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam” tập II,
2004, các Tác giả tiếp tục đề cập 3 loài làm thuốc (L. bournei Hemsl.; L. daystyla
Rehd.; L. japonica Thunb.) [13].
10
Như vậy, qua các tài liệu trên đây cho thấy, tính đến nay ở Việt Nam đã biết
tới 9 loài của chi Lonicera L., họ Caprifoliaceae.
1.2.2. Nghiên cứu về phân bố:
Theo các tài liệu hiện có ở Việt Nam, các loài thuộc chi Lonicera phân bố ở
khắp Việt Nam. Một số loài phổ biến ở cả đồng bằng, trung du miền núi từ Bắc vào
Nam là Lonicera japonica Thunb. và L. dasystyla Rehd Loài mới chỉ thấy ở Trung
bộ Việt Nam là loài L. acuminata Wall in Roxb., L. annamensis Fukuoka, L.
cambodiana Pierre Loài L. hypoglauca Miq. mới chỉ thấy ở vùng đồi núi của tỉnh
Phú Yên. Loài L. macrantha (D. Don) Spreng. là loài phân bố ở khắp các tỉnh miền
núi từ miền núi phía Bắc tới Lâm Đồng. Loài L. hildebrandiana Coll. & Hemsl.
phân bố ở một số vùng đồi núi cao của tỉnh Lai Châu, Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang
[1,6,11]. Trong các loài thuộc chi Lonicera L., đặc biệt có loài kim ngân rừng
(Lonicera bournei Hemsley) thuộc diện hiếm trên thế giới, cây mới chỉ được phát
hiện ở vùng Sầm Nưa (Lào) và Lai Châu (Việt Nam), độ cao phân bố của cây
khoảng trên 1000m.
cũng là nhóm loài đã trở thành vị thuốc quí được dùng lâu đời trong Y học cổ
truyền. Trong khi đó, theo các tài liệu đã công bố, Việt Nam cũng là quốc gia có
khá nhiều loài thuộc chi Lonicera L. được dùng làm thuốc, nhưng dường như, kể từ
sau nghiên cứu của H. Lecomte, năm 1922-1923 đến nay, không có công trình nào
nghiên cứu về thực vật học chi Lonicera L. được công bố. Chính vì vậy, việc đi sâu
nghiên cứu bổ sung về chi thực vật này là việc làm cần thiết.
12
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các loài thuộc chi Lonicera L. hiện có tại Việt Nam, bao gồm từ các
nguồn:
- Các mẫu tiêu bản hiện có, đang lưu trữ ở các bảo tàng thực vật và Phòng
thực vật ở Hà Nội: Phòng tiêu bản của Viện Dược liệu; Bảo tàng thực vật của
trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Phòng thực vật của Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật và Phòng thực vật của trường Đại học Dược Hà Nội.
- Các mẫu tiêu bản thuộc chi Lonicera L. mới thu thập, trong các đợt điều tra
gần đây: Tỉnh Hà Giang (Quản Bạ, Vị Xuyên, Đồng Văn); Lạng Sơn (Bình Gia,
Lộc Bình, Chi Lăng, Đình Lập, Bắc Sơn, Hữu Lũng); Thái Nguyên (Đại Từ); Ninh
Bình (Tam Điệp); Hà Nội (TT. Trồng và Chế biến cây thuốc Hà Nội, Viện Dược
14
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả về việc giám định và chỉnh lý tên khoa học
3.1.1. Số mẫu thuộc chi Lonicera L. đã được nghiên cứu và thu thập thêm
* Các mẫu nghiên cứu tại các Bảo tàng: Gồm tổng số 363 tiêu bản, cụ thể:
(1) Bảo tàng Dược liệu, Viện Dược liệu: 209 tiêu bản. (2) Bảo tàng Thực vật của
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật: 20 tiêu bản. (3) Bảo tàng Thực vật trường
Đại học khoa học Tự nhiên: 30 tiêu bản. (4) Phòng tiêu bản trường Đại học Dược
Hà Nội: 35 tiêu bản. Các mẫu đã nghiên cứu, phần lớn là không có lý lịch rõ ràng,
chỉ một số ít mẫu có đầy đủ hoa, quả còn lại là các mẫu không có hoa quả và chưa
được giám định tên khoa học (Phụ lục 1 & 2).
liệu nào ở Việt Nam, chưa có bất cứ dẫn liệu khoa học nào về loài cây này. Dựa vào
các đặc điểm đặc trưng về hình thái hoa, quả, thân, lá, đã giám định được tên khoa
học cho loài này là loài Lonicera calcarata Hemsl. Loài Kim ngân này được đặt tên
Việt Nam là Kim ngân cựa vì đặc điểm đặc trưng là có phần phụ ở phía cuối tràng
hoa phình ra kéo dài ra thành dạng cựa giống như cựa gà.
Như vậy, tổng số loài Kim ngân thuộc chi Lonicera L. đã biết ở Việt Nam
đến nay là 11 loài. Trong đó: (*) 10 loài đã được đề cập bởi các tài liệu về thực vật
và cây thuốc gồm các loài Lonicera acuminata, L. annamensis, L. bournei, L.
cambodiana, L. confusa, L. dasystyla, L. hildebrandiana, L. hypoglauca, L.
japonica, L. macrantha [1,5,6,7,8,36]. Và (*) 1 loài do chúng tôi mới xác định bổ
sung: Kim ngân cựa (Lonicera calcarata Hemsl.) – Đây là đóng góp mới cho chi
Lonicera L., họ Caprifoliaceae nói riêng và cho hệ thực vật Việt Nam nói chung.
3.2. Đặc điểm chung của chi và xây dựng khóa phân loại các loài thuộc chi Kim
ngân (Lonicera L.) hiện có ở Việt Nam
3.2.1. Đăc điểm hình thái nổi bật của chi Lonicera ở Việt Nam:
* Đặc điểm nổi bật của một số bộ phận:
- Thân: Tất cả các loài thuộc chi Lonicera L. ở Việt Nam là cây bụi trườn
hoặc dây leo nhỏ (leo bằng thân quấn). Thân, cành rỗng, vỏ màu nâu đỏ, phần lớn
có lông màu vàng, rậm. Mọc thành các bụi đứng nhỏ như Lonicera macrantha (D.
16
Don) Spreng., Lonicera acuminata Wall in Roxb., L. bournei Hemsl.; mọc thành
bụi rất to như L. calcarata Hemsl, L. hildebrandiana Coll. & Hemsl.; hoặc leo lên
thân các cây khác tạo thành giàn hoặc cũng có thể mọc bò dưới mặt đất như
Lonicera dasystyla Rehd, L. japonica Thunb., L. confusa DC.
- Lá: Hầu hết lá của các loài Kim ngân là lá thường xanh, không bị rụng lá
vào mùa đông. Lá mọc đối, hiếm khi mọc vòng, nguyên, hiếm khi xẻ răng cưa, có
loonghay không lông.
+ Lá một số loài có lông nhiều như Lonicera macrantha (D. Don) Spreng., L.
hypoglauca Miq., L. acuminata Wall in Roxb., L. confusa DC. Một số loài có lông
Loài Lonicera bournei Hemsl.
Lá của loài Lonicera acuminata Wall in Roxb.
18
Loài Lonicera calcarata Hemsl. Loài Lonicera confusa DC.
19
Loài Lonicera dasystyla Rehd. Lá của loài Lonicera hildebrandiana Hemsl. Loài Lonicera hypoglauca Miq.
20
Wall in Roxb.
Lonicera annamensis
Fukuoka
Lonicera bournei
Hemsl.
Lonicera calcarata
Hemsl.
Lonicera confusa DC.
Lonicera dasystyla Rehd.
22 Lonicera hypoglauca
Miq.
Lonicera japonica Thunb.
Lonicera macrantha (D. Don)
Spreng.
Hình 2. Hình ảnh hoa của một số loài Kim ngân
- Quả: quả mọng, màu đỏ, xanh - đen, đen, xanh, hoặc màu trắng đôi khi có
phủ phấn trắng, thỉnh thoảng còn giữ lại lá bắc con cùng với quả. Quả hình quả lê
và hình trứng lớn, đường kính 2,5cm (L. hildebrandiana Coll. & Hemsl.), Quả
mọng màu xanh đen và có phủ phấn trắng, hình trứng, đường kính 6-7mm (L.
accuminata Wall in Roxb.); Quả màu đỏ, hình cầu, đường kính 5mm (L. bournei