Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc địa chất, hoạt động kiến tạo đến nhiệt độ, thành phần hóa học của nước ngầm khu vực la phù thuần mỹ - Pdf 28

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 7
1.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Vị trí địa lý 7
1.1.2 Địa hình 7
1.1.3 Đặc điểm khí hậu 8
1.1.4 Tài nguyên khoáng sản 8
1.1.5 Đặc điểm thủy văn 8
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội và dân cư 9
1.2.1 Đặc điểm hoạt động kinh tế 9
1.2.2 Đặc điểm dân cư và cơ sở hạ tầng 11
CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Lịch sử nghiên cứu 13
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu địa chất 13
2.1.2 Lịch sử nghiên cứu môi trường nước 13
2.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Phương pháp luận 16
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ HOẠT ĐỘNG
KIẾN TẠO 22
3.1 Địa tầng 22
3.2 Các thành tạo magma 29
3.3 Đặc điểm kiến tạo 30
CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM NƯỚC NGẦM 43
4.1 Đặc điểm các tầng chứa nước và cách nước 43
4.1.1 Khu vực La Phù 43
4.1.2 Khu vực Thuần Mỹ 47
4.2 Đặc điểm nhiệt độ nước ngầm 49

Hình 3.4: Đứt gãy nghịch có phương á kinh tuyến tại xã Tứ Mỹ, Tam Nông, Phú Thọ. 33
Hình 3.5: Sơ đồ địa chất vùng Thuần Mỹ, Ba Vì, Hà Nội 38
Hình 3.6: Mặt cắt địa chất thủy văn tuyến A – B 39
Hình 3.7: Sơ đồ các đới đứt gãy ở trũng Hòa Bình 42
Hình 4.1: Bản đồ địa chất thủy văn mỏ nước khoáng Thanh Thủy – Phú Thọ 46
Hình 4.2: Bản đồ điểm nghiên cứu địa nhiệt mỏ nước khoáng Thanh Thủy 50
Hình 4.3: Bản đồ đẳng nhiệt mỏ nước khoáng Thanh Thủy – Phú Thọ 51
Hình 4.4: Sơ đồ phân bố các lỗ khoan khai thác nước mỏ nước khoáng Thuần Mỹ 54
Hình 4.5: Mối quan hệ giữa SO
4
2-
và δ
34
S trong sulphat tan trong nước các giếng khoan 72
Hình 4.6: Quan hệ giữa Cl
-
/SO
4
2-
và δ
34
S trong các giếng khoan sâu 74
Hình 4.7: Quan hệ giữa [Ca
2+
]/[SO
4
2-
] trong các mẫu nước giếng và δ
34
S tương ứng

khu vực La Phù - Thuần Mỹ 67
Bảng 4.11: Kết quả phân tích hàm lượng các ion đa lượng tại các lỗ khoan 79
Bảng 4.12: Đánh giá chất lượng nước khoáng vùng La Phù – Thuần Mỹ theo tiêu
chuẩn định danh nước khoáng đối với LK101. 81
Bảng 4.13: Đánh giá chất lượng nước khoáng vùng La Phù – Thuần Mỹ theo tiêu
chuẩn định danh nước khoáng đối với LK58. 82
Bảng 4.14: Đánh giá chất lượng nước khoáng vùng La Phù – Thuần Mỹ theo tiêu
chuẩn định danh nước khoáng đối với LK1. 83
Bảng 4.15: Đánh giá chất lượng nước khoáng vùng La Phù – Thuần Mỹ theo tiêu
chuẩn định danh nước khoáng đối với LK2. 84
Bảng 4.16: Đánh giá chất lượng nước khoáng tại LK101 theo tiêu chuẩn nước
khoáng thiên nhiên đóng chai QCVN 6.1-2010/BYT 86
Bảng 4.17: Đánh giá chất lượng nước khoáng tại LK58 theo tiêu chuẩn nước
khoáng thiên nhiên đóng chai QCVN 6.1-2010/BYT 88
Bảng 4.18: Đánh giá chất lượng nước khoáng tại LK1 theo tiêu chuẩn nước khoáng
thiên nhiên đóng chai QCVN 6.1-2010/BYT 90
Bảng 4.19: Đánh giá chất lượng nước khoáng tại LK2 theo tiêu chuẩn nước khoáng
thiên nhiên đóng chai QCVN 6.1-2010/BYT 92

Giá trị lớn nhất
Mean
Giá trị trung bình
Median
Trung vị
Min
Giá trị nhỏ nhất
NK – NN
Nước khoáng – nước nóng
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
KT – TN
Khai thác – thí nghiệm
SD
Độ lệch chuẩn
TB – ĐN
Tây bắc – đông nam 1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước dưới đất nói chung và nước ngầm nói riêng là nguồn tài nguyên thiên

Bình (nay là nguồn Phúc Thọ) thuộc tỉnh Quảng Nam do C. Madrolle thực hiện, có
lấy mẫu phân tích lý – hóa của nước khá tỷ mỉ. Sau đó hơn 3 thập kỷ đầu của thế kỷ
này, người Pháp đã lần lượt công bố nhiều công trình nghiên cứu về địa lý, địa chất
Đông Dương, trong đó có mô tả với mức độ khác nhau về các nguồn NK – NN.
Cũng cần kể đến một công trình nghiên cứu của người Việt Nam đầu tiên là
bác sĩ Lê Khắc Quyền về nguồn nước khoáng Biến Cải (Yên Bái) nhằm mục đích
chữa bệnh được công bố năm 1943.
Sau khi thống nhất đất nước đã xuất hiện hàng loạt công trình quan trọng:
bản đồ nước khoáng miền Tây Bắc Việt Nam do Cao Thế Dũng và Ngô Ngọc Cát
thành lập, bản đồ NK – NN Việt Nam (Cao Thế Dũng làm chủ biên) trong bộ Atlas
quốc gia Việt Nam, bản đồ các nguồn NK Việt Nam (tác giả Đỗ Tiến Hùng,
Trần Hồng Phú) kèm theo bản đồ ĐCTV Việt Nam tỷ lệ 1: 500.000, cùng các báo
cáo tổng kết đề tài nghiên cứu “Nước khoáng miền Bắc Việt Nam” của
Châu Văn Quỳnh, “Nước khoáng CHXHCN Việt Nam” (Cao Thế Dũng chủ biên),
“Đánh giá các nguồn nước khoáng Việt Nam trên quan điểm sử dụng vào mục đích
chữa bệnh” (P. Hoppe chủ biên), “Nghiên cứu chuyển giao công nghệ khai thác và
sử dụng NK Việt Nam phục vụ kinh tế dân sinh” (Ngô Ngọc Cát chủ biên); các luận
án phó tiến sĩ về NK – NN cả Ngô Ngọc Cát, Cao Thế Dũng, Nguyễn Nhân Đức,
Châu Văn Quỳnh.
Khu vực La Phù – Thuần Mỹ nằm trên địa phận hai huyện Thanh Thủy của
tỉnh Phú Thọ và huyện Ba Vì, Hà Nội; với địa hình nằm trải dọc theo hai bên sông
Đà. Trong khi khoan thăm dò người ta đã tình cờ phát hiện nguồn nước khoáng
nóng tại khu vực này. Đó là một món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho
người dân nơi đây. Cũng chính bởi sự phát hiện nguồn nước khoáng nóng và nắm
bắt được nhu cầu thị trường nên trong vài năm gần đây, người dân trong khu vực
này đã khai thác ồ ạt để mở dịch vụ tắm nước khoáng nóng. Do những hành động tự
phát này có thể dẫn đến nguy cơ phá hủy nguồn nước khoáng, nước nóng. Song mặt
khác, việc làm này cũng mở ra cho các cơ quan chức năng thấy được tầm quan
trọng của nguồn tài nguyên quý giá này. Tuy nguồn nước khoáng, nước nóng nơi
3

- Nghiên cứu đặc điểm phá hủy kiến tạo.
4

- Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc địa chất, phá hủy kiến tạo với nhiệt
độ và thành phần hóa học của nước khoáng, nước nóng.
5. Cơ sở dữ liệu
- Các tài liệu về địa chất, kiến tạo đã công bố liên quan đến khu vực
nghiên cứu.
- Các tài liệu địa chất thủy văn, nước khoáng nóng khu vực nghiên cứu.
- Các kết quả do học viên thu thập tại thực địa: về cấu trúc địa chất và lấy
mẫu nước phân tích.
- Nguồn số liệu sử dụng trong luận văn được lấy từ:
+ Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học, nhiệt độ của nước ngầm khu
vực Thanh Thủy (Phú Thọ) trong báo cáo :” Báo cáo kết quả thăm dò nước khoáng
Thanh Thuỷ – Phú” do KS Lê Tứ Hải làm chủ biên, xuất bản năm 2001.
+ Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học, nhiệt độ nước ngầm khu vực
Thuần Mỹ (Ba Vì, Hà Nội) trong báo cáo: “Thăm dò nguồn nước khoáng Thuần
Mỹ thuộc xã Thuần Mỹ huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây” do GS.TS Đặng Hữu Ơn làm chủ
biên, xuất bản tháng 12 năm 2010.
+ Kết quả phân tích tỷ số đồn vị
34
S/
32
S (δ
34
S) của nước khoáng khu vực
Thuần Mỹ, Ba Vì, Hà Nội trong báo cáo: ”Nghiên cứu quy trình phân tích tỷ số
đồng vị
34
S/

nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành về nội dung và kết quả
nghiên cứu.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần làm rõ mối quan hệ giữa cấu trúc địa chất,
hoạt động kiến tạo đến nhiệt độ và thành phần hóa học của nước khoáng, nước nóng
khu vực nghiên cứu.
- Ý nghĩa thực tiễn: Xác định những đặc tính của nước nóng, nước khoáng
góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn dài 107 trang đánh máy phông chữ Times New Roman, trong đó có
17 hình vẽ, 20 biểu bảng, tham khảo 37 nguồn tài liệu trong và ngoài nước. Bố cục
gồm phần mở đầu, kết luận và 4 chương.
Luận văn được hoàn thành tại khoa Địa Chất- Trường Đại học Khoa học Tự
nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS
6

Chu Văn Ngợi, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy hướng dẫn đã tận tình chỉ dẫn
và giúp đỡ học viên trong quá trình thực hiện luận văn. Đồng thời tác giả xin cám
ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, cùng các đồng nghiệp
trong khoa Địa Chất- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, sự hỗ trợ về mặt số liệu,
tài liệu của Liên hiệp khoa học sản xuất Địa chất – Nước khoáng, Công ty Cổ phần
tập đoàn Xây dựng và Du lịch Bình Minh, Viện khoa học kĩ thuật hạt nhân Nhân
dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Trường Đại học khoa học Tự
nhiên, phòng Sau đại học, Khoa Địa chất cùng các cơ quan chuyên môn và các đồng
nghiệp, bạn bè đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn.
7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1 Điều kiện tự nhiên

Với địa hình trải dọc theo hai bờ sông Đà là những cánh đồng phù sa màu mỡ
thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Khu vực ở vào vị trí thuận lợi có hệ
thống đường thủy, đường bộ là cửa ngõ nối liền các tỉnh phía tây bắc với thủ đô
Hà Nội và là đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội với các tỉnh phía tây bắc của
tổ quốc.
8

1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Vùng nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, hội tụ cả 4 mùa trong
năm, nhiệt độ trung bình từ 22 – 24
o
C, vào mùa nóng có thể lên tới 31 – 33
o
C, còn
vào mùa lạnh có thể giảm xuống 13 – 17
o
C. Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng
nhất và tháng lạnh nhất tới 13
o
C. Tổng nhiệt độ trong năm khoảng 8400 – 8500
o
C.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc và tháng 10 với tháng mưa lớn nhất là
tháng 8 đạt khoảng 339,6 mm. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 với tháng
mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15 mm. Độ ẩm trung bình 80%.
1.1.4 Tài nguyên khoáng sản
- Thanh Thủy có than bùn. Than bùn trong trầm tích đầm lầy của hệ tầng
Thái Bình, Vĩnh Phúc. Lớp than có bề dày từ 0,5 – 2,5 m.
- Than nâu ở Phượng Mao, Tu Vũ, Trung Nghĩa. Than phân bố ở độ sâu từ
157,9 – 662 m; thấu kính than có bề dày 0,2 – 5,0 m.

nước không dâng cao quá do lượng nước được tích lại trong hồ và mùa cạn cũng
bớt gay gắt hơn vì xả nước chống hạn.
Hệ thống các sông ngòi và ao hồ khá nhiều. Mật độ mạng sông suối đạt giá
trị khoảng 0,5 – 1,0 km/km
2
. Vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông
Đà. Thực chất, sông Đà cũng là một phụ lưu của sông Hồng. Sông Đà đổ vào sông
Hồng tại xã Phong Vân huyện Ba Vì, tiếp giáp với huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội và dân cư
1.2.1 Đặc điểm hoạt động kinh tế
Đây là vùng thuần nông nghiệp. Ở đây đã hình thành các vùng sản xuất
chuyên canh như: trồng lúa, cây ăn quả, chè, ngô, trồng rừng nguyên liệu; chăn nuôi
bò, lợn, cá, gia cầm. Đặc biệt ngành chăn nuôi đang dần chuyển sang bán công
nghiệp.
 Về sản xuất nông nghiệp
Thuần Mỹ - một xã thuộc huyện Ba Vì có 505,83 ha đất nông nghiệp và đất
phi nông nghiệp là 717,61 ha. Cho đến năm 2011, xã đã hoàn thành quy hoạch ổn
định diện tích đất trồng lúa 150 ha/năm, vùng sản xuất rau an toàn với tổng diện tích
5ha, phát triển vùng thâm canh trồng dâu nuôi tằm 40 ha, chuyển đổi 10ha đất lúa
kém hiệu quả ở các thôn sang mô hình nuôi trồng thủy sản kết hợp với khai thác du
lịch sinh thái. Hiện nay, chính quyền địa phương đang tập trung hỗ trợ, giúp dân
dồn điền đổi thửa phát triển nền sản xuất hàng hóa hóa trên quy mô lớn, tạo điều
kiện đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch và đặc biệt là đầu tư cho phát triển kinh tế
hộ gia đình.
Cũng như vậy, huyện Thanh Thủy cũng có truyền thống sản xuất nông
nghiệp với 53,8% dân số sống bằng nghề nông. Diện tích đất dành cho nông nghiệp
phần lớn nằm trải dài theo sông Đà là điều kiện thuận lợi để cho nền nông nghiệp
10

hai bên bờ sông có điều kiện phát triển. Chăn nuôi đã trở thành thế mạnh của Thanh


đời sống người dân Thuần Mỹ được thay đổi. Đến thôn 5 xã Thuần Mỹ mới thấy sự
thay đổi của một làng quê vốn thuần nông này khi người dân biết khai thác của
“trời cho” để làm kinh tế. Con đường làng san sát những biển hiệu mọc lên như
nấm: dịch vụ tắm khoáng nóng kèm cà phê, bia lạnh và ăn uống. Theo thống kê của
xã Thuần Mỹ, ngay từ năm 2000 người dân thôn 5 đã nhanh nhạy khoan giếng mở
dịch vụ tắm khoáng nóng và đến nay phát triển lên 75 hộ gia đình với khoảng 700
phòng tắm. Khách các nơi đổ về nườm nượp, các xã huyện lân cận cũng có và cả
khách nội thành cũng đến với hy vọng chữa được các bệnh ngoài da, đau lưng, …
Bình quân mỗi ngày, xã Thuần Mỹ đón vài trăm khách tới; đặc biệt các ngày nghỉ,
ngày lễ, mùa đông, trước và sau Tết lượng khách tăng đột biến. Giá cả mỗi lần tắm
tương đối hợp lý, từ 10.000 – 25.000 đồng tùy mức độ đầu tư của mỗi nhà chủ;
cuộc sống của người dân khấm khá lên thậm chí có gia đình xây được nhà cao tầng
từ dịch vụ tắm khoáng nóng.
1.2.2 Đặc điểm dân cư và cơ sở hạ tầng
 Dân cư
Là vùng có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa – nơi chuyển tiếp giữa
đồng bằng trung du lên miền núi với những điều kiện tự nhiên thuận lợi nên từ rất
sớm địa bàn huyện Thanh Thủy đã là nơi cư trú của một bộ phận người Việt cổ.
Trải qua các thời kỳ lịch sử với nhiều lần thay đổi, đến nay Thanh Thủy có 16 đơn
vị hành chính, với diện tích tự nhiên 12.382 ha, dân số 72.900 người với 15 dân tộc
anh em cùng sinh sống như: Kinh, Mường, Tày, Hoa, Thái, Sán Chay, Sán Chí,
Mông, Dao, Nùng, Ê Đê, Gia Rai, Ngái, Tà Ôi. Người dân tộc thiểu số là hơn 6000
người, chiếm 6% dân số toàn huyện, trong đó dân tộc Mường chiếm 90% tổng số
dân tộc thiểu số, sống tập trung ở 2 xã Yến Mao và Phượng Mao.
Cùng với Thanh Thủy, vùng đất Thuần Mỹ huyện Ba Vì cũng mang đậm dấu
ấn ngàn năm lịch sử còn lưu lại từ thời Sơn Tinh – Thủy Tinh giao chiến. Với 3 dân
tộc là Kinh – Mường – Dao sinh sống tại các bản làng dân tộc còn lưu giữ được một
số nét văn hóa phi vật thể nổi bật như: Múa Chuông, Tết Nhảy, của người Dao;
cồng chiêng, múa sắc bùa của người Mường.

tiến hành, đáng kể nhất là hai công trình: Bản đồ địa chất Hà Nội, tỷ lệ 1:500.000
(Formaget J, 1929) và bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1:200.000 (Formaget J và
nnk, 1952). Trong đó các thành tạo Đệ tứ được các tác giả mô tả sơ lược. Saurin E
(1937) đã chia trầm tích ra hai phân vị địa tầng là aluvi cổ (tương ứng với trầm tích
Pleistocen) và aluvi trẻ (tương ứng với trầm tích Holocen).
- Từ năm 1954 đến nay đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về địa chất
Kainozoi nói chung và Đệ tứ nói riêng được tiến hành. Các công trình đầu tiên có ý
nghĩa nghiên cứu địa chất là bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ 1:500.000
(Dovjikov.A.E và nnk, 1965). Tiếp đến là công trình nghiên cứu trầm tích Kainozoi
ở đồng bằng sông Hồng (Golovenoc.V.K, Lê Văn Chân, 1967) và hàng loạt tờ bản
đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 như bản đồ địa chất tờ Ninh Bình (Đinh Minh Động và
nnk, 1976).
Các kết quả nghiên cứu về địa chất trong vùng Thuần Mỹ và khu vực thăm
dò còn được trình bày trong các báo cáo tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất như “Báo
cáo tìm kiếm nước dưới đất vùng Ba Vì” của Hoàng Văn Chức (1984), “Báo cáo
thăm dò sơ bộ nước khoáng vùng Ba Vì, Hà Nội” của Lương Văn Chiến (1987). Từ
năm 1987 đến nay, các kết quả nghiên cứu về địa chất chủ yếu là thành phần thạch
học của trầm tích Đệ tứ đã được mô tả trong tài liệu lưu trữ của trung tâm Nước
sạch và Vệ sinh môi trường tỉnh Hà Tây [6].
2.1.2 Lịch sử nghiên cứu môi trường nước
Đối với vùng La Phù, năm 1982 Đoàn địa chất 303 thuộc Liên đoàn địa chất
III tiến hành điều tra địa chất thuỷ văn theo tỷ lệ 1:25.000 vùng Thanh Sơn –
14

Thanh Thuỷ. Kết quả đã phát hiện điểm nước khoáng Tam Thanh tại LK101 gần
thôn Thượng Lộc, xã Bảo Yên, huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phú. Mục tiêu của
công tác điều tra lúc bấy giờ là lập sơ đồ địa chất thuỷ văn trong vùng có ảnh hưởng
đến các khu mỏ khoáng sản rắn thuộc vùng Thanh Sơn, Thanh Thuỷ. Do đó khi
phát hiện nước khoáng, Đoàn địa chất 303 chưa tiến hành nghiên cứu, đánh giá một
cách toàn diện mà mới chỉ lấy mẫu phân tích thành phần hoá học để sơ bộ nhận

tại đây nữa.
Năm 2000, khi nhân dân thôn Thượng Lộc (Bảo Yên, Thanh Thủy,
Phú Thọ) khoan giếng khoan UNICEF để lấy nước sinh hoạt, tình cờ phát hiện ra
nước khoáng nóng cách LK101 khoảng 600 – 700 m. Rất nhanh nắm bắt nhu cầu
thị trường, nhân dân ở đây đã xây dựng các nhà tắm để mở dịch vụ tắm nước nóng
thu tiền. Dịch vụ này như “vết dầu loang”, nhanh chóng mở rộng ra tới hơn 50 lỗ
khoan cùng hàng chục cơ sở dịch vụ tắm nước khoáng.
Việc khai thác không có tổ chức, không theo một quy hoạch nào, không chịu
một sự kiểm soát, giám sát kỹ thuật nào có nguy cơ gây ra những hậu quả xấu cho
mỏ nước khoáng. Tình trạng đó đã khiến cho các cơ quan hữu trách phải vào cuộc.
Do vậy, Liên hiệp KHSX Địa chất – Nước khoáng đã phối hợp với Sở Khoa học –
Công nghệ - Môi trường tỉnh Phú Thọ đã tiến hành kiểm tra và sau đó đã kiến nghị
Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cho tiến hành nghiên cứu đánh giá tiềm năng của tài
nguyên nhằm quy hoạch khai thác đồng thời làm cơ sở đề ra các biện pháp bảo vệ
mỏ nước khoáng. Mọi công việc được tiến hành vào giữa năm 2000 [7].
Liên quan đến vấn đề nước ngầm, đánh giá chất lượng của nước ngầm, năm
2001 sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Phú Thọ đã có báo cáo kết quả nghiên cứu
nước khoáng Thanh Thủy. Năm 2002, Đặng Hữu Ơn đã nghiên cứu các chỉ tiêu
nước khoáng chữa bệnh. Cũng theo hướng đó, năm 2003, Lê Minh Sang đã tiến
hành nghiên cứu một số chỉ tiêu vệ sinh, khoáng hóa và thực trạng sử dụng nước
khoáng nóng ở La Phù. Ngoài ra, năm 2008, Đặng Hữu Ơn đã báo cáo thăm dò
nguồn nước khoáng Thuần Mỹ nhằm đánh giá trữ lượng nước.
Trong những năm gần đây, vấn đề nước khoáng được các cơ quan, các ngành
và các nhà khoa học quan tâm.
Vấn đề giá trị điều dưỡng và chữa bệnh của nước khoáng đang là vấn đề
được giải quyết, cụ thể là phải xác định được vai trò của các nguyên tố trong nước
16

khoáng. Theo hướng này, nghiên cứu sinh Trần Nguyên Hà đã đầu tư nghiên cứu và
phân tích các nguồn nước khoáng, trong đó có hai nguồn nước khoáng La Phù và

b. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Bao gồm các công tác nghiên cứu điều tra khảo sát ngoài thực địa, đo đạc,
thu thập số liệu trên địa bàn khu vực cần nghiên cứu. Tiến hành lấy, bảo quản và
vận chuyển các mẫu về phòng thí nghiệm.
Phương pháp lấy mẫu nước
Các mẫu nước ngầm được lấy chủ yếu từ các giếng khoan (bơm tay) của các
hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu. Vị trí các điểm lấy mẫu được xác định bằng
GPS. Chiều sâu lấy mẫu theo chiều sâu của giếng khai thác, dao động trong khoảng
từ 5m đến 70m. Các hộ gia đình nơi lấy mẫu phân tích nước được ghi lại địa chỉ để
phục vụ cho công tác lấy mẫu bổ sung (nếu cần) hoặc kịp thời thông báo cho các hộ
gia đình nếu các mẫu kiểm tra cho kết quả nước bị ô nhiễm để tiến hành các biện
pháp giảm thiểu và xử lí, đảm bảo chất lượng nguồn nước khi sử dụng. Các thông
tin về điểm lấy mẫu, tọa độ lấy mẫu và kí hiệu mẫu và các nhóm mẫu được ghi vào
sổ ghi chép tại hiện trường. Học viên đã khảo sát và lấy mẫu nước bổ sung tại 18 vị
trí (hình 2.1).
Quy trình lấy mẫu : Đối với các mẫu nguyên khai thì trước khi lấy mẫu cần phải
tiến hành bơm tối thiểu 15 phút để hút bỏ hết phần nước lưu trong ống dẫn, đảm bảo là
nước vừa được đưa lên từ mạch đáy. Sau đó tiến hành đo nhiệt độ của nước bằng cách:
đưa nhiệt kế cầm tay vào sâu trong vòi nước đang chảy ra, giữ cho nhiệt kế luôn ngập
nước và ở sâu bên trong ống khoảng 3-5 phút, rồi rút nhiệt kế ra ghi lại nhiệt độ đo được.
Các thông số môi trường nước khác như pH, độ đục, DO,… cũng được đo trực tiếp tại
thực địa bằng các thiết bị phân tích cầm tay. Các thông số này được ghi chép vào sổ các
kết quả đo ở hiện trường. Mẫu được đựng trong các chai nhựa PET 1000ml và phải súc
chai 3 lần bằng nước mẫu trước khi lấy mẫu. Lấy mẫu nước tràn chai, không có bọt khí
và đậy nắp chặt. Đối với các mẫu phân tích các kim loại nặng (Pb, Hg, Cd, As, Cu, Zn)
thì được axit hóa bằng bằng HNO
3
đặc tới pH < 2. Mẫu được bảo quản theo đúng tiêu
chuẩn Việt Nam (TCVN 5945 - 1995) đối với nước ngầm và sau đó được chuyển về địa
điểm phân tích.

xạ bước sóng nhất định ứng với những tia bức xạ mà nó có thể phát ra trong quá
trình phát xạ. Lúc đó nguyên tử đã nhận năng lượng từ các tia bức xạ và chuyển lên
trạng thái kích thích có năng lượng cao hơn trạng thái cơ bản. Đây là quá trình hấp
thụ năng lượng và tạo ra phổ hấp thụ nguyên tử. Nồng độ nguyên tử trong mẫu tỷ lệ
với phần bức xạ bị hấp thụ.
Một số kỹ thuật mới của phương pháp hấp thụ nguyên tử như kỹ thuật
nguyên tử hóa bằng lò graphit (phép đo không ngọn lửa), kỹ thuật hydrua hóa và kỹ
thuật bay hơi lạnh đã xác định một số nguyên tố vi lượng cỡ hàm lượng nhỏ đến
phần tỷ (ppb) rất thích hợp để xác định các nguyên tố có hàm lượng cỡ phần tỷ
trong mẫu nước như Pb, Cd, Hg, As,…
+ Với các nguyên tố Cu, Pb, Zn, Cd tiến hành xã định bằng phương pháp đo
hấp thụ nguyên tử không nguyên tử - nguyên tử hóa bằng lò graphit.

Trích đoạn Nguồn gốc hình thành thành phần hóa học đặc trưng của nước tầng qp Đánh giá chất lượng nước khoáng theo hàm lượng các ion đa lượng trong Đánh giá khả năng sử dụng ngâm tắm chữa bệnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status