nghiên cứu ảnh hưởng của nước thải chăn nuôi đến vi sinh vật nước - Pdf 10

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
Chương 1:
GIỚI THIỆU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Con người hiện nay là sinh vật đứng đầu trong các giới . Con người khai thác
tài nguyên , sản xuất thực phẩm , gầy dựng cuộc sống để phục vụ cho nhu cầu của
mình . Bên cạnh việc gây tác hại không nhỏ cho môi trường thì hiện nay chúng ta
cũng đang ra sức hồi phục lại phần nào thiệt hại . Nhưng thời gian qua việc gây ô
nhiễm đã ảnh hưởng không ít như : làm biến đổi nguồn nước gây nên dịch ung thư ở
một số làng nhỏ , ô nhiễm nguồn biển khiến số lượng cá giảm nặng nề gây thiệt hại
cho cư dân miền biển ,… Và trong số đó , mới nhất được phát hiện gần đây thì chính
là việc vi sinh vật bị biến thể cấu trúc gen trong một con kênh bị ô nhiễm . Ngày
nay , tuy con người đang làm chủ vi sinh vật , sử dụng chúng để xử lý nguồn nước
thải nhưng mặc khác chúng ta cũng không thể lường trứơc được hậu quả một khi có
sự thay đổi xảy ra.
Nhưng nhờ vào sự thay đổi đó mà ta có thể kiểm tra đánh giá được mức độ ô
nhiễm của môi trường , mà chủ yếu là môi trường nước .
Bên cạnh đó, phải kể đến chăn nuôi, vốn là một ngành rất quen thuộc, bởi vì
đã có từ rất lâu trên thế giới. Ban đầu chỉ ở quy mô gia đình nhằm đảm bảo nguồn
thực phẩm động vật hoặc sức kéo cho hộ hay nhóm gia đình nhỏ. Nhưng hiện nay
ngành chăn nuôi đã phát triển ở mức độ sản xuất hàng hoá với quy mô ngày càng lớn
nhằm cung cấp một số lượng lớn thực phẩm động vật cho nhu cầu sử dụng ngày
càng cao của con người. Các tiến bộ khoa học liên tục được áp dụng nhằm tạo ra
năng suất và chất lượng cao hơn. Tuy nhiên từ quá trình chăn nuôi tập trung cao độ
này đã nảy sinh một vấn đề thu hút sự quan tâm của xã hội, đó là ô nhiễm môi
trường. Khó khăn trong việc thu gom, tồn trữ và xử lý các chất thải chăn nuôi là
những vấn đề đầu tiên gắn liền với chăn nuôi tập trung.
SVTH: Dương Huỳnh Anh 1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
Chất thải trong chăn nuôi heo bao gồm phân, nước tiểu, chất độn, thức ăn rơi
vãi và nước làm vệ sinh chuồng trại. Không giống như phân bò hay phân gia cầm

trại.
+ Đưa ra nồng độ xả thải thích hợp vào môi trường.
+ Góp phần thúc đầy cải thiện ô nhiễm môi trường từ hoạt đông sản xuất chăn
nuôi ở trại phát triển theo hướng bền vững nhằm hạn chế được những tác hại đế sức
khoẻ con người, gia súc, gia cầm và hạn chế lan truyền dịch bệnh.
1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu chính trong luận văn là:
+ Điều tra thực địa, lấy mẫu, phân tích trong phòng thí nghiệm.
+ Nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm về quản lý và phòng chống ô nhiễm tại
các trại chăn nuôi trên thế giới.
1.4. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
 Ý nghĩa khoa học: Dựa trên kết quả nghiên cứu, xác định được những biến
đổi xa hơn của vi sinh vật, xác định được những độc chất gây hại cho môi trường và
đời sống con người.
 Ý nghĩa thực tiễn: Do lượng xả thải ngày càng nhiều làm cho môi trường
nước ngày càng ô nhiễm nặng nề hơn, gây ra nhiều tổn thất nặng nề về kinh tế. Do
nhu cầu mỹ quan đô thị và nhu cầu cải thiện nguồn nước.
Dùng đúng phương pháp xử lý vấn đề ô nhiễm, không phải bất cứ phương
pháp nào cũng thích hợp.
SVTH: Dương Huỳnh Anh 3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
Chương 2 :
TỔNG QUAN
2.1. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI
2.1.1. Vai trò:
Các vật nuôi vốn là các động vật hoang được con người thuần dưỡng, chọn
giống, lai tạo, làm cho chúng thích nghi với cuộc sống gần người.
Chăn nuôi là ngành cổ xưa nhất của nhân loại, nó cung cấp cho con người
thực phẩm có dinh dưỡng cao, nguồn đạm động vật như thịt, sữa, các sản phẩm từ
sữa, trứng. Sản phẩm của ngành chăn nuôi còn là nguyên liệu cho công nghiệp sản

tựu chăn nuôi hiện đại.
Đàn bò của thế giới vào đầu thế kỉ XXI có trên 1,3 tỉ con, với sản lượng thịt
gần 50 triệu tấn/năm. Nước có đàn bò đông nhất là Ấn Độ, nhưng bò ở nước này
được nuôi dưỡng kém, sức sinh sản thấp. Những nước sản xuất nhiều thịt bò và sữa
bò nhất là Hoa Kì, Bra-xin, các nước EU, Trung Quốc, Ác-hen-ti-na.
 Chăn nuôi trâu
Trâu là vật nuôi của miền nhiệt đới nóng ẩm. Hiện nay, người ta nuôi trâu chủ
yếu để lấy sức kéo, phân bón, da và sữa. Đàn trâu của thế giới hiện có trên 160 triệu
con. Khu vực nuôi nhiều trâu nhất là Nam Á, Đông Nam Á.
 Chăn nuôi lợn
Lợn là vật nuôi quan trọng thứ hai sau bò, dùng để lấy thịt, mỡ, da. Sản lượng
thịt lợn hiện nay vượt sản lượng thịt trâu, bò. Đối với các nước đang phát triển, nuôi
lợn còn tận dụng được nguồn phân bón ruộng.
Thức ăn cho lợn cần nhiều tinh bột. Ngoài ra, lợn có thể được nuôi bằng thức
ăn thừa của người và phế, phụ phẩm của các nhà máy chế biến thực phẩm. Vì vậy,
SVTH: Dương Huỳnh Anh 5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
lợn thường nuôi tập trung ở các vùng trồng cây lương thực thâm canh, các vùng
ngoại thành.
Đàn lợn của thế giới hiện nay có trên 900 triệu con, trong đó gần ½ thuộc về
Trung Quốc.
2.1.3.2. Chăn nuôi gia cầm
Chăn nuôi gia cầm có mặt ở tất cả các quốc gia trên thế giới, để cung cấp thịt,
trứng cho bữa ăn hàng ngày của con người và là nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến thực phẩm. Trong các loại gia cầm thì gà là vật nuôi quan trọng hơn cả.
Số lượng gia cầm của thế giới tăng nhanh, hiện có trên 15 tỉ con. Trung Quốc,
Hoa Kì, các nước EU, Bra-xin, Liên bang Nga, Mê-hi-cô là những nước có ngành
chăn nuôi gia cầm phát triển.
2.2. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO NGÀNH CHĂN NUÔI:
2.2.1. Nguồn phát thải ô nhiễm:

Carbonates g/kg 0.23 – 2.11
Các axit béo mạch ngắn g/kg 3.83 – 4.47
Theo nghiên cứu của TS.Trương Thanh Cảnh(1997, 1998) thì N
tổng
trong phân
heo 70 – 100 kg chiếm từ 7.99 – 9.32 g/kg. Đây là nguồn dinh dưỡng có giá trị, cây
trồng dễ hấp thu và góp phần cải tạo đất nếu sử dụng hợp lý. Ngoài ra, trong phân
heo cũng như phân gia súc còn chứa rất nhiều virus, ấu trùng, trứng giun sán… có
hại cho sức khoẻ của con người và gia súc. Các loại này có thể tồn tại vài ngày đến
vài tháng trong phân, trong nước thải và trong đất.
 Xác gia súc:
Chúng có đặt tính phân huỷ sinh học, bốc mùi hôi thối lan nhanh trong không
khí và cũng như tác nhân truyền bệnh cho người và vật nuôi. Thông thường heo chết
sau 2 ngày là sinh mùi rất khó chịu, nếu không xử lý kịp thời để lâu sẽ gây tác hại rất
nghiêm trọng cho môi trường. Do đó, chuồng trại nơi có vật nuôi chết cần phải vệ
SVTH: Dương Huỳnh Anh 7
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
sinh và khử trùng. Một số hộ chăn nuôi gia đình xử lý đối với những con heo bị chết
đều không đúng theo tiêu chuẩn, họ thường xử lý bằng cách khi thấy heo có dấu hiệu
bị bệnh sắp chết thì đem bán với giá cực rẻ. Điều này có hại cho sức khoẻ con người
khi dùng phải heo bệnh chưa qua kiểm dịch.
 Vật dụng chăn nuôi, bệnh phẩm thú y:
Các vật dụng, chăn nuôi hay thú y bị loại bỏ như bao bì, kim tiêm, thuốc thú
y, … cũng là một nguồn quan trọng dễ gây ô nhiễm môi trường.
 Thức ăn thừa, các chất thải khác:
Trong những trường hợp chăn nuôi dùng ổ lót như rơm rạ, vải, … sau một
thời gian sử dụng phải bỏ đi vì những chất thải này có thể mang theo phân, nước tiểu
và vi sinh vật gây bệnh. Thức ăn thừa từ chăn nuôi cũng góp phần gây ô nhiễm môi
trường vì hầu hết đều là chất hữu cơ dễ phân huỷ như cám , ngũ cốc, tôm, … và
trong tự nhiên những chất này bị phân huỷ sinh ra mùi khó chịu ảnh hưởng đến môi

heo mà mức độ ô nhiễm của nước thải khác nhau.
Bảng 2.4: Tính chất nước thải chăn nuôi heo
(Nguồn: Trương Thanh Cảnh & cộng tác viên, 1997, 1998)
Chỉ tiêu Đơn vị Giá trị
Độ màu Pt - Co 350 – 870
Độ đục mg/l 420 – 550
BOD
5
mg/l 3500 – 8900
COD mg/l 5000 – 12000
SS mg/l 680 – 1200
P
t
mg/l 36 – 72
N
t
mg/l 220 – 460
Dầu mỡ mg/l 5 – 58
pH mg/l 6.1 – 7.9
Nước thải chăn nuôi không chứa các chất độc hại như nước thải công
nghiệp(acid, kiềm, kim loại nặng, chất oxy hoá, …) nhưng chứa rất nhiều loại ấu
trùng, vi trùng, trứng giun sán có trong phân.
2.2.2.3. Khí thải
Các khí thải ra trong chuồng nuôi, tại các bãi, hầm chứa chất thải như NH
3
,
H
2
S, CH
4

Alcohol
Aldehydes
H2O, CO2 và CH4
Hydrocacbon mạch ngắn (CH4)
Lipit
Acid
béo
Alcohol
H2O, CO2 và
CH4
Aldehydes, Ketones
Và Ketones
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
Khí thải chăn nuôi không được xứ lý hay xử lý không triệt để và được thải
vào các ao, hồ, sông, rạch, … sẽ làm ô nhiễm môi trường nước. Bởi vì chất thải chăn
nuôi chứa nhiều chất hữu cơ, khi thải vào môi trường nước, các vi sinh vật hiếu khí
phải sử dụng oxy hoà tan để phân huỷ các chất này, làm giảm lượng oxy hoà tan
trong nước, dẫn đến suy giảm chất lượng nước. Mặt khác chất thải chăn nuôi chứa
nhiều chất dinh dưỡng nên chúng gây ra hiện tượng phú dưỡng hoá gây ảnh hưởng
đến đời sống của thuỷ sinh vật trong môi trường tiếp nhận. Bên cạnh đó, nước là môi
trường thích hợp cho các loài sinh vật gây bệnh tồn tại trong phân phát triển. Không
những thế chất thải sẽ thấm xuống đất, đi vào nước ngầm làm ô nhiễm môi trường
nước ngầm, nhất là các giếng mạch nông gần chuồng gia súc hay hố chứa chất thải
mà không có hệ thống thoát nước an toàn.
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu ô nhiễm của chất thải tính cho 1000 kg trọng lượng của lợn
(Nguồng Trương Thanh Cảnh, 2006)
Chỉ tiêu Khối lượng (kg)
Tổng lượng phân 84
Tổng lượng nước tiểu 39
TS 11

Môi trường không khí ở khu vực chuồng trại và xung quanh cơ sở chăn nuôi
luôn có mùi rất đặc trưng và đây sẽ là một tác nhân ô nhiễm rất khó chịu nếu không
có biện pháp quản lý đúng cách. Các khí gây mùi chủ yếu từ quá trình phân huỷ yếm
khí chất thải chăn nuôi như NH
3
, H
2
S, các hợp chất của Mêcartan, … trong thành
phần khí thải ra từ chăn nuôi còn có chứa một lượng đáng kể CO
2
và CH
4
. Tất cả các
khí này tồn tại trong môi trường không khí của khu vực chăn nuôi tạo nên một mùi
đặc trưng hôi thối rất khó chịu, ở nồng độ cao chúng có thể gây ngạt, kich thích niêm
mạc mắt và mũi, gây choáng váng nhức đầu, gây nổ, …
 Ảnh hưởng của mùi:
Có gần 200 chất tạo mùi trong chất thải. Mùi thối sinh ra trong hoạt động
chăn nuôi heo là sản phẩm của quá trình phân huỷ các chất thải. Mùi phụ thuộc vào
SVTH: Dương Huỳnh Anh 12
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
khẩu phần thức ăn và quá trình lưu trữ hay xử lý nước thải. Tuy nhiên, sự thối rửa
của phân không phải nguồn gốc duy nhất của mùi, thức ăn thừa thối rửa, phụ phẩm
của chế biến thực phẩm dùng cho gia súc ăn cũng gây mùi khó chịu.
Bảng 2.6: Đặc điểm các khí sinh ra khi phân huỷ kị khí
(Nguồn: Trương Thanh Cảnh, 1999)
Loại khí Mùi Đặc điểm Giới hạn tiếp
xúc
Tác hại
NH3 Mùi hăng, xốc

không khí
1000 ppm
Gây nhức đầu,
gây ngạt.
Các chất khí này thường là sản phẩm của quá trình phân huỷ kị khí phân rã
qua phân huỷ bởi vi sinh vật không sử dụng oxy, chúng ảnh hưởng rất mạnh đến
khướu giác của con người. Những người dân sống xung quanh có khả năng mắc các
chứng bệnh về đường hô hấp rất cao.
 Ảnh hưởng của khí NH
3
:
SVTH: Dương Huỳnh Anh 13
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
Trong chăn nuôi heo, lượng nước tiểu sinh ra hằng ngày rất nhiều với thành
phần khí NH
3
là chủ yếu. Chất khí này có nồng độ cao kích thích mạnh lên niêm
mạc, mặt mũi, đường hô hấp dễ dị ứng tăng tiết dịch, gây co thắt khí quản và gây ho.
Nếu nồng độ cao sẽ gây huỷ hoại đường hô hấp. Trong máu, NH
3
bị oxy hoá tạo
thành NO
2
làm hồng cầu trong máu chuyển động hỗn loạn, ức chế chức năng vận
chuyển oxy đến các cơ quan của hồng cầu, trường hợp nặng có thể gây thiếu oxy ở
não dẫn đến nhức đầu, mệt mỏi thậm chí có thể gây tử vong.
Bảng 2.7: Ảnh hưởng của NH
3
lên người và heo
(Nguồn: Barker và cộng tác viên, 1996)

không ngon.
300 ppm trở lên
Ngứa mũi, miệng, tiếp xúc
lâu dẫn đến thở gấp.
SVTH: Dương Huỳnh Anh 14
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
 Ảnh hưởng của H
2
S:
H
2
S là khí không màu, mùi trứng thối, được sinh ra trong quá trình khử các
amin chứa lưu huỳnh torng thời ký ủ phân, lưu trữ và xử lý kị khí chất thải. Cơ quan
khứu giác của người có thể cảm nhận H
2
S ở ngưỡng 0.025 ppm. H
2
S là khí độc, có
thể gây chết khi tiếp xúc với một lượng nhỏ.
H
2
S còn gây rối loạn hoạt động một số men vận chuyển điện tử trong chuỗi hô
hấp mô bào gây rối loạn hô hấp mô bào. H
2
S còn chuyển hoá Hemoglobin làm ức
chế khả năng vận chuyển oxy của Hemoglobin.
Bảng 2.8: Ảnh hưởng của H
2
S đến sức khoẻ con người và gia súc
(Nguồn: Barker và cộng tác viên, 1996)

SVTH: Dương Huỳnh Anh 15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
Khí mêtan là sản phẩm cuối cùng của quá trình phân huỷ kị khí các chất hữu
cơ dễ ph6an huỷ trong chất thải chăn nuôi. CH
4
là khí không màu, không mùi, có thể
cháy. Nếu nồng độ CH
4
chiếm từ 45% không khí thì sẽ gây ngạt thở do thiếu oxy.
Khí mêtan nếu được thu gom(dạng biogas) có thể sử dụng vào mục đích năng lượng.
 Ảnh hưởng của CO
2
:
CO
2
là khí không màu, không mùi, không cháy. Trong không khí nồng độ
CO
2
khoảng 0.3 – 0.4%. Nồng độ CO
2
trong chuồng nuôi phụ thuộc vào nhiệt độ, độ
thông thoáng và số lượng vật nuôi vì nó là sản phẩm của quá trình phân huỷ chất
thải. Khi tiếp xúc với khí CO
2
ở nồng độ thấp gây ù tai, trầm uất; ở nồng độ 20 –
30% có thể còn thêm triệu chứng tim đập yếu và khi lên đến nồng độ 50% có thể dẫn
đến tử vong trong vòng 30 phút tiếp xúc.
2.2.3.3. Ô nhiễm môi trường đất:
Trong chất thải chăn nuôi có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng như nitơ,
photpho. Nếu thải vào đất không hợp lý hoặc sử dụng phân tươi để bón cho cây

Đối với phân gia súc, nếu sử dụng để bón cho cây trồng thì phân cần thu gom
trước khi rửa chuồng và tăm vật nuôi. Nếu sử dụng bể lắng, hầm(túi) biogas để xử lý
chất thải thì hệ thống thu gom phân và nước thải có thể chung, với hệ thống này thì
mương dẫn nên rộng và dốc đủ lớn để dễ dàng chuyển phân xuống hầm xử lý.
2.3.3. Lưu trữ chất thải:
Mục đích của việc lưu trữ là để ổn định thành phần dinh dưỡng trong phân và
giảm lượng vi sinh vật truyền bệnh. Cấu trúc thiết bị lưu trữ và thời gian lưu trữ ảnh
hưởng đến thay đổi thành phần của phân. Tuỳ theo loại phân , quy mô chăn nuôi và
mục đích sử dụng chất thải của từng nơi mà thiết bị lưu trữ cũng như thời gian lưu
trữ khác nhau.
SVTH: Dương Huỳnh Anh 17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
Thông thường nơi lưu trữ phân là hồ chứa và lắng hoặc bãi chứa phân. Cần
lưu ý nơi lưu trữ phân thường nên cách biệt với chuồng trại chăn nuôi và xa nhà ở để
không bị ảnh hưởng đến sức khoẻ của gia súc và phải đậy kín.
2.3.4. Vận chuyển chất thải:
Một số các trường hợp cần phải vận chuyển chất thải từ trại chăn nuôi như khi
chất thải chăn nuôi được sử dụng để bón cho cây trồng hay các mục đích khác hoặc
là tại cơ sở chăn nuôi không có điều kiện xây dựng hệ thống xử lý chất thải, phải vận
chuyển đến nơi khác xử lý. Có hai phương thức vận chuyển chất thải chăn nuôi:
+ Tách riêng phân và nước thải: phân lỏng và nước thải được vận chuyển từ
trong chuồng trại hoặc hồ chứa phân - nước thải đến hệ thống xử lý. Trong trường
hợp xe chuyên chở phân lỏng thì thùng chứa phải bằng vật liệu bền, có nắp đậy kín,
không rò rỉ hoặc chảy tràn trên đường vận chuyển.
+ Tách riêng phân và nước thải: phân rắn cần được vận chuyển từ trong
chuồng trại hoặc bãi chứa phân đén hệ thống xử lý, trường hợp vận chuyển đi xa,
phải có xe và thùng chứa chuyên dùng. Nước rửa chuồng theo mương và ống dẫn
đến hồ lắng nước thải rồi vào hệ thống xử lý để làm giảm mức độ ô nhiễm môi
trường trước khi xả ra ngoài.
2.3.5. Các phương pháp xử lý:

bức(quạt). Tuy nhiên, phương pháp này chỉ áp dụng cho những chuống trại có cường
độ mùi thấp.
2.3.5.2. Phương pháp xử lý phân gia súc:
 Xử lý sinh học:
• Sản xuất phân bón:
Phương pháp sản xuất phân bón hữu cơ từ phân heo nói riêng và từ phân gia
súc nói chung dựa trên sự phân huỷ các thành phần hữu cơ có trong phân dưới tác
dụng của vi sinh vật có sẵn trong phân. Tuỳ theo chế độ hoạt động của vi sinh vật, ta
có 3 phương pháp ủ sau:
+ Phương pháp ủ nóng: nhiệt độ trong đống phân ủ đạt đến 80 – 90
o
C.
Phương pháp này nhanh chóng, đơn giản nhưng lại mất đi nhiều đạm.
+ Phương pháp ủ nguội: nhiệt độ trong đống phân ủ đạt khoảng 35 – 50
o
C.
Phương pháp này có ưu điểm làm đạm ít mất đi nhưng thời gian ủ dài.
+ Phương pháp ủ hỗn hợp: khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp
trên. Tiến hành ủ nóng trước nguội sau, phân tươi được đổ đống, không nén, để phân
SVTH: Dương Huỳnh Anh 19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
huỷ cho đến khi nhiệt độ trong đống phân đạt khoảng 50 – 60
o
C, sau đó nén chặt
đống phân lại ủ nguội.
Tuỳ vào quy mô, diện tích đất sẵn có mà công việc ủ phân thực hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau. Ở quy mô gia đình, ta có thể thực hiện ủ phân ngay trong
vườn nhà. Để tăng hiệu quả của quá trình ủ bằng các nguyên liệu như rơm rạ, tro
bếp, đất, cây xanh, …Ở quy mô công nghiệp, khi xử lý lượng lớn phân ta còn thu
được một lượng lớn sản phẩm khí sinh học đáng kể sinh ra từ quá trình phân huỷ kị

Bảng 2.9: Hiệu quả xử lý phân của hệ thống Biogas.
(Nguồn: Nguyễn Thị Hoa Lý, 1994)
Chỉ tiêu Trước khi xử lý Sau khi xử lý
pH 7.4 7.9 – 8.0
COD (mg/L) 32000 5800 – 6600
BOD (mg/L) 10600 3400 – 3900
E.coli (MPN/ml) 15,76.10
7
12.10
4
– 15,56.10
3
Coliform (MPN/ml) 18,97.10
10
12,3.10
3
– 25,74.10
5
Streptococcus (MPN/ml) 54,5.10
6
0.31.10
2
– 2,7.10
2
Trứng kí sinh trùng
(trứng /g)
2750 105 - 175

+ Thức ăn cho cá: phân và nước thải chăn nuôi sau khi qua xử lý ở bể biogas
vẫn có thể sử dụng cho cá ăn. Hệ thống biogas còn góp phần giải quyết vấn đề mùi

Cặn trên lọc
Hệ thống xử lý
nước thải
Phần bay hơi
Nước thải đã xử lý
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
lắng sơ bộ trước khi đưa nước thải vào các công trình xử lý tiếp theo, nhằm giảm
nồng độ chất ô nhiễm.
Ngoài ra để tách phần rắn và phần nước trong phân heo có thể sử dụng
phương pháp ly tâm hay lọc. Sau khi tách chất lỏng và rắn riêng, nước được đưa vào
hệ thống xử lý. chất rắn dùng để ủ phân bón. Tuy nhiên. phương pháp này áp dụng
đối với cơ sở chăn nuôi qui mô lớn. trang trại hay các hộ có điêù kiện xây hệ thống
xử lý.
 Phương pháp hóa lý:
Do trong nước thải chứa 1 chất có kích thước nhỏ, không thể tách bằng
phương pháp cơ học. Vì vậy mà để tách những chất này ra khỏi nguồn nước có thể
dùng các chất keo tụ như: phèn sắt, phèn nhôm. chất trợ keo tụ. Phương pháp với
mục đích sử dụng các chất keo tụ để tăng tính lắng của các hạt lơ lửng và hạt keo
trong nước thải.
 Phương pháp hóa học:
Nguyên tắc của phương pháp này là khử trùng hoặc ôxy hóa các chất độc hại
có trong nước thải bằng các chất hóa học, trong đó có vi sinh vật truyền bệnh.
 Phương pháp sinh học:
Do nước thải chăn nuôi có tỉ lệ hàm lượng BOD/COD cao, chứa nhiều cặn
hữu cơ dễ phân hủy, tỷ lệ BOD:N:P thích hợp cho các vi sinh vật, nên phương pháp
xử lý nước thải chăn nuôi tốt nhất là xử lý sinh học. Bằng cách sử dụng vi sinh vật 1
các hiệu quả, ta hoàn toàn có thể xử lý nước thải chăn nuôi đạt yêu cầu thải ra môi
trường, đồng thời có thể thu lợi kinh tế từ hệ thỗng xử lý nước thải này.
Bản chất của phương pháp sinh học xử lý chất thải chăn nuôi là sử dụng khả
năng sống và hoạt động của vi sinh vật để phân hủy chất hữu cơ. Các vi sinh vật sử

Phân bón
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS Trần Thị Mai Phương
2.4. TỔNG QUAN VỀ VI SINH VẬT TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
2.4.1. Môi trường nước:
Tất cả những nơi có chứa nước trên bề mặt hay dưới lòng đất đều được coi là
môi trường nước. Ví dụ như ao, hồ, sông, biển, nước ngầm Những địa điểm chứa
nước đó còn gọi là các thuỷ vực. Trong các thuỷ vực khác nhau, tính chất hoá học và
vật lý rất khác nhau. Bởi vậy môi trường sống ở từng thuỷ vực đều có đặc trưng
riêng biệt và sự phân bố của vi sinh vật phụ thuộc vào những đặc trưng riêng biệt đó.
Nước ngầm có trong những lớp đất nằm dưới mặt đất do các nguồn nước khác
thấm vào. Nước ngầm có hàm lượng muối khoáng khác nhau tuỳ từng vùng, có vùng
chứa nhiều CaCO
3
gọi là nước cứng, có vùng chứa ít CaCO
3
gọi là nước mềm. Nói
chung nước ngầm rất nghèo chất dinh dưỡng do đã được lọc qua các tầng đất.
Nước bề mặt bao gồm suối, sông, hồ, biển. Suối được tạo thành ở những nơi
nước ngầm chảy ra bề mặt đất hoặc từ khe của các núi đá. Tuỳ theo vùng địa lý nước
suối có thể rất khác nhau về nhiệt độ và thành phần hoá học. Có những suối nước
nóng chảy ra từ các vùng núi lửa hoặc từ độ sâu lớn. Có những suối có thành phần
chất khoáng điển hình có tác dụng chữa bệnh. Tuỳ theo thành phần và hàm lượng
chất khoáng mà người ta phân biệt suối mặn, suối chua, suối sắt, suối lưu huỳnh
Sông có lượng nước nhiều hơn suối. Tính chất lý học và hóa học của sông cũng khác
nhau tuỳ thuộc vào vùng địa lý. Sông ở vùng đồng bằng thường giàu chất dinh
dưỡng hơn vùng núi nhưng lại bị ô nhiễm hơn do chất thải công nghiệp và sinh hoạt.
Hồ là những vùng trũng ngập đầy nước trong đất liền. Tính chất lý học và hoá
học của các loại hồ cũng rất khác nhau. Hồ ở các vùng núi đá có nguồn nước ngầm
chảy ra và hồ ở vùng đồng bằng khác nhau rất lớn về nhiệt độ cũng như thành phần
chất dinh dưỡng. Ngay ở trong một hồ cũng có sự phân tầng, ở mỗi tầng lại có một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status