ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ÂU THỊ HIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ RỪNG
TRỒNG ĐẾN TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ TÍNH CHẤT CƠ
HỌC CỦA GỖ KEO LAI ( ACACIA HYBRIDS) 7 TUỔI
TẠI HUYỆN PHÚ LƢƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN THÁI
Thái Nguyên, 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i LỜI CAM ĐOAN
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Học viên
Âu Thị Hiền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tổng quan về gỗ Keo lai 3
1.2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.2.1. Trên thế giới 5
1.2.2. Ở Việt Nam 7
1.3. Cơ sở lý thuyết phân tích kết quả nghiên cứu 9
1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng gỗ 9
1.3.2. Cơ sở đánh giá chất lượng của gỗ 15
Chƣơng 2 : ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ, XÃ HỘI 19
2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, xã hội huyện Phú Lương 19
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 19
2.1.2. Điều kiện dân sinh, kinh tế xã hội 21
Chƣơng 3 : NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 23
KẾT LUẬN 52
1. Kết luận 52
2. Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ BIỂU 58 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Ký hiệu
Ý nghĩa
Đơn vị
TN
Thái Nguyên
KLTT
Khối lượng thể tích
g/cm
3
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
Mpa
nd
Độ bền nén dọc thớ
Mpa
ut
Độ bền uốn tĩnh
Mpa
k
Khối lượng thể tích cơ bản
g/cm
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1. Một số thiết bị, dụng cụ sử dụng trong thí nghiệm của đề tài
Hình 3.1. Mẫu kiểm tra tính hút nước tối đa, tỷ lệ dãn nở và khối lượng thể
tích gỗ 32
Hình 3.2 Biểu đồ so sánh tính hút nước của gỗ ở 3 mật độ khác nhau 33
Hình 3.3. Biểu đồ so sánh khối lượng thể tích của gỗ ở 3 mật độ khác nhau 35
Hình 3.4. Biểu đồ so sánh tỷ lệ dãn nở của gỗ ở 3 mật độ khác nhau 37
Hình 3.5. Biểu đồ so sánh độ bền nén dọc thớ của gỗ ở 3 mật độ khác nhau 39
Hình 3.6. Mẫu thí nghiệm kiểm tra độ bền kéo dọc thớ gỗ 39
Hình 3.7Biểu đồ so sánh độ bền kéo dọc thớ của gỗ ở 3 mật độ khác nhau 41
Hình 3.8. Mẫu thí nghiệm kiểm tra độ bền uốn tĩnh của gỗ 41
Hình 3.8. Biểu đồ so sánh độ bền uốn tĩnh của gỗ ở 3 mật độ khác nhau 43
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
2
cung cấp nguyên liệu cho ngành Chế biến lâm sản và các ngành khác… vừa
là yêu cầu cấp bách khoa học, vừa là yêu cầu của thực tiễn sản xuất.
Cho tới nay chưa có đề tài đi sâu nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của
mật độ rừng trồng Keo lai đến chất lượng gỗ như tính chất vật lý, cơ học
của gỗ). Do đó việc trồng và sử dụng gỗ Keo lai chưa đạt hiệu quả cao
trong lĩnh vực sản xuất chế biến cụ thể như đồ mộc, đồ gia dụng, ván
nhân tạo và trang trí nội thất Để đáp ứng được các yêu cầu trên cần
phải nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của mật độ rừng trồng đến chất
lượng gỗ, đồng thời giúp cho các nhà lâm sinh có mật độ trồng hợp lý và
nhà gia công chế biến gỗ có hướng sử dụng, tận dụng đạt hiệu quả cao
các sản phẩm từ gỗ Keo lai, tránh gây lãng phí gỗ. Chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ rừng trồng đến
tính chất vật lý và tính chất cơ học của gỗ Keo lai ( Acacia hybrids) 7
tuổi tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên” là cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
-Phân tích được về lý thuyết một số nhân tố của gỗ ảnh hưởng đến
chất lượng gỗ (tính chất vật lý, cơ học của gỗ).
-Phân tích được sự ảnh hưởng của mật độ rừng trồng đến chất lượng
gỗ (tính chất vật lý, cơ học của gỗ).
-Đánh giá được chất lượng gỗ Keo lai tương ứng với từng cấp mật
độ rừng trồng.
3. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài là cơ sở để giúp cho các nhà trồng rừng lựa chọn được mật
độ trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng để
phát triển mở rộng quy mô góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ nguyên
liệu làm bột giấy, ván sàn, trụ mỏ cho xã hội và người sử dụng gỗ lựa
chọn nguyên liệu trong quá trình sản xuất, chế biến gỗ sao cho phù hợp
và hiệu quả với từng loại hình sản phẩm.
C, tối thích từ 24 - 28
0
C, giới hạn 40
0
C.
- Đất đai: chủ yếu trồng trên các loại đất ferali, tầng dày tối thiểu 75 cm,
tối ưu: 4 - 50 cm. Đất phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất phèn lên luống không
bị ngập nước đều có thể trồng được.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
- Do keo lai giâm hom chủ yếu là rễ bàng nên độ dầy tầng đất đối với
rừng trồng nguyên liệu trong 5 - 7 năm tiến hành khai thác không nhất thiết
phải có độ dày tầng đất ≥ 40 - 50 cm. Nhưng trong điều kiện cụ thể, Keo giâm
hom không được trồng trên các loại đất sau đây:
+ Đất trơ sỏi đá, tầng đất mỏng, độ sâu < 20 cm.
+ Đất cát trắng, đất cát di động.
+ Đất nhiễm mặn, thường xuyên ngập úng.
+ Đất bị đá ong hóa hay glây hóa.
1.1.2. Đặc điểm nhận biết
Keo lai (Acacia Hybrid), thuộc họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae), bộ Đậu
(Leguminosae), tên thường gọi là Keo lai do lai tự nhiên từ Keo tai tượng
(Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), cây có thể cao từ
25 – 30m, đường kính có thể đến 60 – 80cm. Cây ưa sáng, mọc nhanh, có khả
năng cải tạo đất, chống xói mòn, cải tạo môi trường sinh thái, góp phần hạn
chế lũ lụt. Gỗ thẳng, màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt, gỗ có tác
dụng nhiều mặt như kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy kích thước lớn sử
dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu.
1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng
Keo lai là một trong những loài cây mọc nhanh nhất trong số các loài cây
còn được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea
(Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987, Griffin, 1988) ở một số nơi khác tại
Sabah (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở
Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar, 1992). Giống lai tự
nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát hiện ở cả rừng tự
nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội so với bố mẹ, sinh
trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân dưới cành lớn (Lê
Đình Khả, 2006) [13].
Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình
nghiên cứu của Rufelds (1988) [36]; Gan.E và Sim Boom Liang (1991)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
[30] các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn
Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm. Ở cây con lá giả đầu tiên của
Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo tai tượng thường xuất hiện
ở lá thứ 8-9 còn ở Keo lai thường xuất hiện ở lá thứ 5-6. Bên cạnh đó là sự
phát hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các
bộ phận sinh sản (Bowen, 1981) [27].
Theo nghiên cứu của Rufeld (1987) [34] thì không tìm thấy một sự sai
khác nào đáng kể của Keo lai so với các loài bố mẹ. Các tính trạng của
chúng đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế
lai thật sự. Tác giả đã chỉ ra rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều
của thân, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá
hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và chiều cao dưới
cành lại kém hơn Keo tai tượng. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của
Pinso Cyril và Robert Nasi, (1991) [35] thì trong nhiều trường hợp cây Keo
lai có xuất xứ ở Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng. Về
ưu thế lai thì có thể có nhưng không bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả
2 yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng
1680 cây/ha; 1330 cây/ha; 1075 cây/ha và 750 cây/ha), sau 9 năm trồng
cũng thu được kết quả tương tự, nhưng ở các công thức trồng mật độ
thấp như (750 cây/ha - 1075 cây/ha) có đường kính trung bình đạt từ
20,1-20,9 cm. Số cây đạt đường kính ngang ngực > 10 cm chiếm từ 84%
- 86%. Ở công thức mật độ cao đường kính chỉ đạt từ 16,6 - 17,8 cm và
số cây có đường kính ngang ngực từ 71 - 76%.
Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ
đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì vậy cần phải căn cứ vào
mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp.
1.2.2. Ở Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình nghiên cứu
Cây Keo lá tràm và Keo tai tượng được nhập vào nước ta từ những năm
1960 nhưng mãi đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước, giống Keo lai mới
được phát hiện và tập trung nghiên cứu từ các khâu chọn tạo giống cho đến
trồng rừng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Ở Việt Nam cây Keo lai tự nhiên được Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn và
các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTT) phát hiện
đầu tiên tại Ba Vì (Hà Tây cũ) và vùng Đông Nam Bộ vào năm 1992. Tiếp
theo đó từ năm 1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đã tiến hành
nghiên cứu về cải thiện giống cây Keo lai, đồng thời đưa vào khảo nghiệm
một số giống Keo lai có năng suất cao tại Ba Vì (Hà Tây cũ) được ký hiệu là
BV ; Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh cũng chọn lọc một số dòng
được ký hiệu là KL.
Lê Đình Khả và các cộng sự (1995, 1997, 2006) [12, 13, 14] khi nghiên
cứu về các đặc trưng hình thái và ưu thế lai của Keo lai đã kết luận Keo lai có
tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ. Keo
lai có ưu thế lai về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá tràm, điều tra
yêu cầu và mục đích sử dụng thì mật độ cần phải thích hợp. Vì vậy, có thể nói
mật độ là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng trong trồng rừng.
Theo kết quả nghiên cứu của một số công trình cho thấy, giai đoạn cây 5
tuổi tỷ lệ sống của rừng trồng ở một số mật độ 1330 cây/ha và 1660 cây/ha so
với tỷ lệ sống tại tuổi 3 là không khác nhau. Nhưng ở mật độ 2000 cây/ha thì
tỷ lệ sống ở tuổi 5 và tuổi 3 là khác nhau nhiều (ở tuổi 3 là 90,74% và ở tuổi 5
là 87,04%).
Sự ảnh hưởng của các mật độ này đến chất lượng gỗ Keo lai như thế
nào và sử dụng gỗ ở cấp mật độ đó như thế nào, cho đến nay chưa có công
trình nào khẳng định chắc chắn. Chính vì vậy, để có cơ sở khoa học khẳng
định mật độ có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng gỗ Keo lai, chúng
tôi thấy việc nghiên cứu của chúng tôi là cần thiết.
1.3. Cơ sở lý thuyết phân tích kết quả nghiên cứu
1.3.1. Các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng gỗ
*Ảnh hưởng của điều kiện sinh trưởng
Khái niệm điều kiện sinh trưởng là sự tham gia tổng hợp của các nhân
tố sau đây : khu vực địa lý, độ cao so với mặt biển, nhiệt độ, lượng mưa,
loại rừng, đất, [10]
Ánh sáng là nguồn năng lượng không thể thiếu được của cây xanh, nhờ
có ánh sáng cây xanh mới tổng hợp được các chất hữu cơ, vì điều kiện ánh
sáng khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng phát triển của cây trồng.
Điều kiện ánh sáng của nơi trồng rừng khác nhau chủ yếu do vĩ độ địa lý và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
địa hình thay đổi. Ở miền núi trong phạm vi một vùng, độ cao so với mặt
nước biển, hướng dốc khác nhau, dẫn đến điều kiện ánh sáng khác nhau [10]
Nhiệt độ là điều kiện tất yếu để cây rừng tiến hành các quá trình sinh lý,
nhiệt độ cao thấp, thời gian dài ngắn quyết định thời kỳ sinh trưởng và tình
hình phát triển thực vật, vì vậy có ảnh hưởng quyết định đến sản lượng và
trình nghiên cứu đó cũng chưa được hoàn thiện. Tuy vậy, đa số những công
trình nghiên cứu về loài gỗ lá kim (Thông), các loài gỗ lá rộng (mạch xếp
vòng như Sồi, mạch phân tán ; Thuỷ thanh cương, Sơn dương) đưa đến kết
luận sau đây : Ở đất tốt gỗ được hình thành có chất lượng tốt, song một số
công trình nghiên cứu khác cho biết ; gỗ Thông sinh trưởng ở điều kiện trung
bình có tính chất gỗ cao nhất (điều kiện đất tốt và xấu đều gây nên làm giảm
chất lượng gỗ, song xu thế điều kiện đất tốt giảm ít hơn so với đất xấu), còn
đối với gỗ sồi ở đất khô thì tính chất của gỗ tốt hơn.
Điều đó cho thấy, với từng loại gỗ khác nhau trong cùng một điều kiện
sinh trưởng sẽ cho chất lượng gỗ là khác nhau. Cùng một loại gỗ, được trồng
tại khu vực có điều kiện sinh trưởng khác nhau sẽ cho ta chất lượng gỗ khác
nhau. Cây có điều kiện sinh trưởng tốt sẽ phát triển nhanh hơn cây có điều
kiện sinh trưởng không tốt, do đó cây sinh trưởng tốt sẽ có chất lượng gỗ
thường kém hơn.
Trong đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của
mật độ đến chất lượng rừng trồng. Do vậy, chúng tôi tiến hành khống chế
yếu tố về điều kiện sinh trưởng. Việc khống chế sinh trưởng bằng cách
cây thí nghiệm được lấy ở nơi có cùng điều kiện sinh trưởng về ánh sáng,
độ ẩm, đất đai
* Ảnh hưởng của mật độ rừng trồng
Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật
lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng, ảnh hưởng đến
chất lượng gỗ. Khi mật độ khác nhau, kích thước về đường kính, chiều cao
của gỗ là khác nhau. Theo tài liệu số [22] gỗ là vật liệu dị hướng, có sự biến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
đổi về tính chất (cơ học, vật lý) trong cùng một thân cây ; biến đổi theo chiều
cao của gỗ, biến đổi theo đường kính của gỗ. Do vậy với đường kính gỗ khác
nhau, chiều cao khác nhau của gỗ sẽ làm cho gỗ có sự khác nhau về chất
tích không thay đổi.
+ Ảnh hưởng đến tỷ lệ co dãn của gỗ [22]
Cấu tạo gỗ là một nhân tố lớn ảnh hưởng đến tỷ lệ co dãn của gỗ, cấu tạo
gỗ là nhân tố gây ra sự chênh lệch về co dãn giữa chiều dọc thớ và ngang thớ,
gây sự chênh lệch giữa chiều tiếp tuyến và xuyên tâm. Từ đó gây nên hiện
tượng gỗ bị cong vênh, nứt nẻ.
- Cấu trúc vách tế bào trong thân cây đại đa số các tế bào xếp theo chiều
dọc thân cây. Trong mỗi tế bào, vách thứ sinh chiếm phần chủ yếu. Cách sắp
xếp các mixen trong vách thứ sinh đặc biệt là lớp giữa của vách thứ sinh, các
mixen xếp song song với trục dọc của thế bào. Mặt khác bản chất của quá
trình co dãn là sự thay đổi về khoảng cách giữa các mixen. Từ đó dẫn đến co
dãn theo chiều ngang thớ lớn hơn nhiều so với chiều dọc thớ gỗ.
- Do tia gỗ dẫn đến co dãn theo chiều tiếp tuyến lớn hơn hai lần so với
chiều xuyên tâm. Các tế bào cấu tạo nên tia gỗ nằm vuông góc với trục dọc
thân cây, cùng chiều với các đường bán kính như vậy với mỗi tia gỗ đại bộ
phận tế bào xếp theo chiều dọc tia gỗ. Trong mỗi tế bào mô mềm đại bộ phận
mixen xếp song song với trục tế bào. Do đó trong mỗi tia gỗ đại bộ phận
mixenxenlulo xếp song song với trục dọc tia gỗ. Vì thế khi co dãn sự thay đổi
theo chiều ngang tia gỗ lớn hơn nhiều so với chiều dọc tia gỗ. Chiều ngang tia
gỗ là chiều tiếp tuyến của cây, chiều dọc tia gỗ là chiều xuyên tâm của cây.
+ Ảnh hưởng đến sức hút nước của gỗ [22]
Gỗ hút nước nhanh hay chậm, nhiều hay ít phụ thuộc nhiều vào cấu
tạo gỗ. Gỗ có độ rỗng lớn thì khả năng hút nước nhanh, nhiều và ngược lại.
Ngoài ra gỗ hút nước còn phụ thuộc vào vị trí chiều thớ hình dạng và kích
thước của mẫu gỗ. Khối lượng thể tích càng lớn gỗ hút nước càng chậm, gỗ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
lõi thường hút nước chậm hơn gỗ giác. Mặt xuyên tâm và tiếp tuyến của gỗ
hút nước rất chậm.
+ Tổ chức cơ học ở gỗ lá kim là do quản bào gỗ muộn đảm nhận, ở gỗ
lá rộng là do sợi gỗ đảm nhận. Nói chung đây là những tế bào vách dày có
kích thước bé nên có ruột rỗng rất nhỏ, có loại ruột hoàn toàn bị bịt kín,
cho nên nếu tổ chức cơ học mà phát triển thì tính chất cơ lý của gỗ sẽ tăng
lên đáng kể.
- Tỷ lệ xenlulô và linhin
Xenlulô là thành phần chủ yếu của gỗ chiếm trung bình 50% thể tích gỗ,
là thành phần chủ yếu sản sinh ra nội lực của gỗ. Nội lực xenlulô tạo ra đều là
những ứng lực lớn nhất (kéo dọc, nén dọc, uốn tĩnh).
Linhin là thành phần thứ 2 cấu trúc nên vách tế bào, linhin có cấu trúc vô
định hình nên ứng lực nào do linhin tạo ra nội lực đều là những lực nhỏ nhất
như ép ngang, trượt dọc, trượt ngang, tách
Trong cấu trúc vách tế bào, linhin là một chất bám trên sườn xenlulô do
đó linhin tạo ra độ nhẵn của gỗ hay gỗ nào, ở vị trí nào trong cây nếu hàm
lượng linhin cao thì gỗ đó sức chịu ép cao.
1.3.2. Cơ sở đánh giá chất lƣợng của gỗ
1.3.2.1. Tính chất hút nước của gỗ
Sức hút nước của gỗ là năng lực hút lấy nước vào gỗ khi ngâm gỗ trong
nước. Tính chất hút nước của gỗ được thể hiện ở độ hút nước. Độ hút nước,
thời gian hút nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khối lượng thể tích, vị
trí, chiều thớ, kích thước, nhiệt độ nước và độ ẩm ban đầu , trong đó yếu tố
ảnh hưởng nhiều nhất là khối lượng thể tích. Khối lượng thể tích càng lớn thì
khả năng hút nước càng chậm, gỗ lõi hút nước chậm hơn gỗ giác. Mặt cắt
xuyên tâm và mặt cắt tiếp tuyến của gỗ hút nước rất chậm. Diện tích mặt cắt
ngang càng lớn thì tố độ hút nước càng nhanh, ở nhiệt độ cao gỗ hút nước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
nhanh nhưng không nhiều. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sức hút
nước của gỗ là vấn đề có ý nghĩa thực tế trong kỹ thuật ngâm tẩm gỗ bằng hoá