Nghiên cứu ảnh hưởng của di cư lao động nữ xã yên phương huyện yên lạc tỉnh vĩnh phúc đến nông hộ - Pdf 33

LỜIDỤC
CAMVẢ
ĐOAN
Bộ GIÁO
ĐẢO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÒNG NGHIỆP HÀ NỘI


MUC LUC

Lời cam đoan................................................................................................i

Lời cảm ơn..................................................................................................ii

Mục lục.......................................................................................................iii

Danh mục bảng...........................................................................................V

Danh mục biểu đồ, sơ đồ, hộp số..............................................................vii

Danh mục chữ viết tắt..............................................................................viii

PHẦN I: MỞ ĐẦU......................................................................................1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu..................................................1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................3

31

1.3 Đối tuợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu...................................3

iii


3.2 Phương pháp nghiên cứu...................................................................39



chia theo nơi cư trú hiện tại và giới tính...............................................25

Bảng 3.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai của xã............................32

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã.........................................35

Bảng 3.3 Ket quả sản................................................xuất kinh doanh của xã
37

Bảng 3.4 Tình.........................................hình cơ sở vật chất kỹ thuật của xã
38

Bảng 4.1 Tình..............................................hình di cư lao động nữ trong xã
42
V


Bảng 4.16 Mục đích sử dụng tiền gửi về của hộ có lao động nữ di cư.....65

Bảng 4.17 Mức độ ảnh hưởng đến chi tiêu của nông hộ khi có lao động

nữ di cư...................................................................................................68

Bảng 4.18 Đánh giá mức ảnh hưởng của lao động nữ di cư đến đời sống

tinh thần giađình.....................................................................................70

VI


Thời gian didân
cư của lao động nữ..............................................52

Biếu đồ 4: Công việc lao động nữ di cư đảm nhận tại nơi đến............54


PHẦN I: MỜ ĐẦU

1.1 Tính cấp thỉết cùa đề tài nghiên cứu

Lao động việc làm luôn là một trong những vấn đề bức xúc có tính
toàn
cầu, là mối quan tâm lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói
riêng. Đổi với Việt Nam, trong khi nền kinh tế đất nước đang phát triến, thu
nhập quốc dân hàng năm tăng đáng kế, đời sống nhân dân không ngừng được
cải thiện, an ninh chính trị tưong đối ốn định thì tình trạng thất nghiệp, thiếu
việc làm lại diễn ra trong phạm vi rộng và có xu hướng ngày càng gia tăng.
Công cuộc đối mới không chỉ trục tiếp đem lại cho người dân những cơ hội
kinh tế mà còn tác động đến di cư bằng nhiều cách khác nhau, đặc biệt trong
việc thúc đấy các luồng lao động tù’ nông thôn. Di cư ở nước ta thường gắn
với tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn. Trong 15 năm trở lại
đây, cùng với ảnh hưởng lan toả của nền kinh tế thị trường, di dân diễn ra với
quy mô rộng lớn, với điều kiện và hình thái khác trước, trở thành một yếu tố
không thế không xem xét trong việc kiếm tìm lời giải đối với sự nghiệp phát
triển nông thôn và sinh kế bền vững của người nông dân.

Di cư lao động có ý nghĩa rất quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và lao động theo hướng CNH, HĐH, nhất là khu vực nông thôn, tham
gia vào phân công lao động trong nước và thị trường lao động thế giới.




1.2 Mục tiêu nghiên cứu

ĩ. 2.1 Mục tiêu chung

Thông qua việc tìm hiểu và phản ánh đúng ảnh huởng của di cu lao
động nữ xã Yên Phuơng - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc đến nông hộ từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và khắc phục
những ảnh hưởng tiêu cực của vấn đề di cư lao động nữ.
ĩ.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đe tài góp phần hệ thống lại cơ sở lý luận và thực tiễn về di cư lao

động, di cư lao động nữ và ảnh hưởng của di cư lao động.

- Tìm hiểu thực trạng di cư lao động nữ xã Yên Phương- huyện Yên

Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc

- Ánh hưởng của di cư lao động xã Yên Phương - huyện Yên Lạc -

tỉnh
Vĩnh Phúc đến nông hộ.

- Đe xuất các giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và

hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của lao động nữ di cư đến nông hộ.

1,.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu


- Lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động

đang
tham gia lao động và những người chưa tham gia lao động nhưng có nhu cầu

4


- Chất lưọng lao động:

Chất lượng lao động chính là sức lao động của bản thân người lao
động. Chất lượng lao động được đánh giá dựa trên 2 tiêu chí:

+ Sức khoẻ

+ Trình độ người lao động

Lao động có chất lượng cao là lao động có sức khoẻ tốt và có trình độ
cao.

Lao động có trình độ là người lao động có trình độ văn hoá, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao với công việc. Trình độ có thể chia thành 2 loại:

Trình độ khoa học: Là những kiến thức thu được từ học hỏi giáo dục và
đào tạo chính quy.

Tri thức ngầm (Tri thức truyền thống): Là những kiến thức thu được từ
kinh nghiệm thay vì được học hỏi qua giáo dục chính quy.
*

di

dân tự do đến Đắc Lắk và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội,
2002), di cư là sự di chuyển vĩnh viễn tương đối của một người trong một
khoảng
cách đáng kể. Định nghĩa này về di cư còn thiếu cụ thế vì nghĩa “vĩnh viễn
tương
đối” là bao nhiêu? khoảng cách đáng kể là bao xa? chưa được xác định rõ.

6


định và đặc trưng bởi sự thay đối nơi cư trú thường xuyên”. Sự thay đối nơi
cư trú được thế hiện ở hai đặc điếm sau:

+ Nơi xuất cư (hay nơi đi) là nơi người di cư chuyến đi.

+ Nơi nhập cư (hay nơi đến) là nơi người di cư chuyển đến.

Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc đã loại ra những người đang sổng lang thang,
dân du mục và di dân theo kiểu con lắc (đi về hàng ngày).

Di cư là sự di chuyến của người dân theo lãnh thô với chuân mực
không
gian và thời gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú (Tống Việt
Cường,
1997). Hiểu di cư theo định nghĩa này dựa trên các đặc điểm chủ yếu sau: Một
là, con người di chuyển khỏi một địa dư nào đó với một khoảng cách nhất
định.
Nơi đi và nơi đến phải được xác định, CÓ thể là một vùng lãnh thổ hay một

những người di cư là do chuyển công tác đến nơi xa nơi ở cũ, thanh
niên

tìm

cơ hội việc làm mới và tách gia đình,...Những người này thường
không

trở

về

quê hương - nơi cư trú.

-

Di cư tạm thòi: là sự thay đối nơi ở gốc là không lâu dài và khả năng
quay
lại là chắc chắn, thường là sự di chuyển làm việc theo mùa vụ.

-

Di cư chuyển tiếp: là kiểu di cư mà không thay đổi nơi làm việc.

Theo khoảng cách cho phép phân thành các loại di cư gần hay xa, giữa
nơi đến và nơi đi. Di cư giữa các nước gọi là di cư quốc tế, giữa các vùng, các

8



ra hai quan điểm cơ bản:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng hộ là những người có chung một cơ sở

kinh tế, có cùng huyết thống hoặc không cùng huyết thống.

- Quan điểm thứ hai cho rằng hộ là những người có cùng huyết thống

và có chung một cơ sở kinh tế.

Hai quan điếm trên có những khía cạnh giống nhau ở chỗ: đều coi nông
hộ là một đơn vị kinh tế, với những chức năng sản xuất và tiêu dùng, tuy
nhiên giữa hai quan điếm đó có sự khác nhau. Quan điếm thứ nhất cho rằng
hộ là những người không nhất thiết có cùng huyết thống, quan điểm thứ hai
cho rằng hộ phải là những người có cùng huyết thống.

Từ sự nghiên cứu lý luận về kinh tế hộ chúng tôi nhận thấy không thế
xem xét hộ chỉ từ khía cạnh huyết thống, tính huyết thống chỉ ra một nguyên
tắc tố chức có liên quan đến cá nhân của một nhóm, song vấn đề cơ bản đế
xác định hộ không phải tính huyết thống mà là cơ sở kinh tế, chính cơ sở kinh
tế là tiêu chí xác định hộ. Khi đề cập tới vấn đề này Traianốp đã viết: “Khái
niệm hộ, đặc biệt là trong đời sổng nông thôn không phải bao giờ cũng tương
đương với khái niệm sinh học làm chỗ dựa cho nó mà nội dung còn có thêm
cả một loạt những điều phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống gia đình”.
Như vậy khi xác định hộ phải căn cứ vào:

- Hộ là những thành viên có cùng chung một cơ sở kinh tế, cùng một

10


2.1.3

Lý do của dỉ cư lao động

Theo lý thuyết di cư của Hariss - Todaro

Hariss và Todaro xem xét một quyết định của người dân di cư trên cơ
sở so sánh thu nhập kỳ vọng với thu nhập thực tế mà họ nhận được và xác
suất tìm được việc làm tại mức thu nhập kỳ vọng này.

Lý thuyết di cư nông thôn - thành thị của Todaro: Lý thuyết của Todaro
nghiên cứu dòng người lao động di chuyến tù' nông thôn ra thành thị trong các
nước đang phát triển vào thập kỉ 60-70.

Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông chỉ ra giữa nông thôn
và thành thị luôn có những chênh lệch về tiền lương. Chính sự khác biệt này
đóng vai trò thúc đẩy sự di cư. Để có thể tham gia vào thị trường lao động ở
đô thị, người lao động chấp nhận tất cả các công việc có thế làm được dù là
nặng nhọc, ngắn hạn, không ổn định. Những người di cư tiềm năng sẽ tính
toán và tiếp tục di cư khi mà tiền lương của họ mong đợi ở thành thị vượt qua
thu nhập cơ bản của nông nghiệp. Todaro đã chỉ ra được qui mô, mức độ của
làn sóng di cư phụ thuộc vào những mong đợi cá nhân về lợi ích mà sự mong
đợi này được đo bằng sự khác nhau về thu nhập thực tế giữa thành thị và nông
thôn (Lai Yew Hah và Tan Siew, 1985).



Nhân tố đẩy: nghèo đói, thất nghiệp và thiếu, việc làm, thiếu đất canh
tác
cùng với quá trình đô thị hóa nhanh.

Theo Dương Kim Hồng - Diễn đàn phát triến Việt Nam 2007 thì ở
Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội lý do thúc đấy lao động nữ nhiều nhất là
tìm được việc làm ở nơi ở mới. Điều này cho thấy vấn đề việc làm của những
Bảng 2.1 Phần trăm ngưòi lao động nữ di cư theo lý do di chuyến chia
theo
noi cư trú hiện tại.

So' đồ 1: So’ đồ lực hút, lực đấy và các trỏ’ ngại trong di cư

Trong suy luận đơn giản nhất thì sự di cư có khả năng xảy ra nhiều
nhất ở nơi mà tác động của các yếu tố tiêu cực ở địa điểm đi và các yếu tố tích
cực ở địa điếm đến trong tương lai là lớn hơn những yếu tổ gắn bó con người
với vùng quê của họ hoặc yếu tố ngăn cản họ di chuyến đến nơi khác. Sự cân
bằng tương đối giữa các yếu tố tích cực có thế sẽ tác động mạnh mẽ không
chỉ tới mức độ di cư mà còn tới cả hướng của chuyến động, dòng di cư sẽ
hướng--*--------------------------------tới nơi hấp dẫn hơn. Nó
có khả năng tác động tới thời gian kéo dài của
-«-----------------------9---------------------------------------------------(Dương Kim Hông - Diên đàn phát triên Việt Nam - Tháng 12 năm
những2007)
người di chuyển, khi mà di cư trở lại (hồi cư) có thể xảy ra nhiều hơn
nếu cộng đồng nơi di tiếp tục duy trì sức hấp dẫn đối vơí những người di
2.Ỉ.4 Những ảnh hưởng của việc di cư lao động nữ
chuyển.
* Ảnh hưởng tích cực
- Đối vói nơi xuất cư:
Một yếu tố khác cũng tác động tới khả năng di cư là cái mà Lee gọi là
“những trở ngại ở giữa” đây có thể là những rào chắn đối với di cư (như chi
Di cư là một hệ quả tất yếu từ sự chênh lệch về mức sống, mức thu
phí vận chuyến, khoảng cách về không gian và văn hoá khác nhau giữa các
nhập giữa nơi đi và nơi đến, bên cạnh sự khó khăn về việc làm, sự khan hiếm

giá trị mới trong lối sống mà có thế trước đó chưa tùng tồn tại ở làng quê.
Ngay cả nhận thức và thái độ đối với vấn đề sinh đẻ, kế hoạch hoá gia đình
cũng biến đối nhanh hơn cùng với quá trình di chuyển. Họ còn thấy sự thua
thiệt về trình độ văn hoá của họ cũng như của con em họ so với những nơi họ
đến kiếm sổng.
16


Phần lớn những lao động nữ ra đi là những người rất năng động, nhạy bén,
dũng cảm và có chí tiến thủ mạnh mẽ. Họ không chịu ngồi bó tay trước hoàn
cảnh khó khăn dù cho sự ra đi của họ có thể là phiêu lưu, mạo hiểm. Người
thành phố khi sử dụng lao động này hầu như không phải chi phí tốn kém
nhiều cho việc đầu tư đào tạo. Trong một số trường hợp sự di cư của lao động
nữ cũng góp phần làm cân bằng dân cư giữa nơi đi và nơi đến vì họ không chỉ
nhập cư vào các thành phố lớn mà họ còn đến những vùng nông thôn khác ít
người để làm ăn kinh tế.
* Ảnh hưởng tiêu cực
- Đối vói nơi xuất cư:

Sự ra đi của lao động nữ gây ra sự thiếu hụt, mất mát lao động trẻ khoẻ
ở địa phương. Hơn nữa người ra đi thường có trình độ văn hoá giáo dục tốt
hơn so với người ở lại. Họ làm việc có năng suất, hiệu quả hơn, do vậy việc
xuất cư của họ dù là tạm thời hay theo mùa vụ thì cũng có những ảnh hưởng
đáng kể tới địa phương. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà
nước ta thực hiện chủ trương CNH-HĐH đất nước, đưa nền nông nghiệp Việt
Nam tiến lên một bước mới. Vậy ai sẽ là người tiếp nhận việc chuyến giao
khoa học kỹ thuật tiên tiến này trong khi phần lớn những người di cư là trẻ
tuối và có trình độ?

Một vấn đề khác không kém phần quan trọng là trong các gia đình có

quyết được nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp nhưng lại tạo nên một mật
đô dân số đông đúc tại đô thi kéo theo những tệ nạn xã hội: như tai nạn giao
thông, giá thuê nhà cao lên gây lên những kiện tụng tranh chấp đất đai, vấn đề
sức khẻo, nhu cầu sống, quyền lợi của chính lao động di cư không được đảm
bảo tại các thành phố lớn.
18


nhiều lao động nữ trong các công ty may mặc vẫn chưa hay không thể lập
được gia đình do điều kiện công việc không cho phép. Như vậy, tạo nên sự
mất cân bằng giới tại những công việc khác như lắp ráp ôtô, xe máy..

Theo nghiên cứu của Mai Huy Bích về những người phụ nữ nghèo, ít
học từ nông thôn ra thành thị. Tác giả đã phân tích một số điểm tiêu cực của
hình thức lao động này. Đó là nhu cầu thuê mướn lao động làm việc nhà
nhưng điều này chưa được đáp ứng vì người ta ra thành phố tìm việc làm khác
chứ không phải đế làm “0 sin”. Sự xuất hiện của loại hình lao động “0 sin”
đã và đang khắng định vai trò, tầm quan trọng của công việc gia đình. Trước
đây những công việc gia đình do người vợ, người mẹ làm, thường không
được tính đến, còn nếu thuê người làm thì phải mất tù’ 300000 đến 500000
đồng/tháng với cơm nuôi và chồ ở. Điều này đã làm lay chuyến mạnh mẽ
quan niệm thịnh hành lâu nay cho rằng việc nhà là loại hình lao động chỉ tạo
ra giá trị sử dụng chứ không tạo ra lời lãi, không được trả công, không sinh
lợi (Mai Huy Bích, 2004). Lao động làm việc nhà phản ánh tiêu cực sự bình
đắng giới và người ta cho rằng làm việc nhà chỉ có người phụ nữ mà thôi. Phụ
nữ đi làm thuê việc không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà đã vượt ra ngoài biên
giới. Làn sóng di cư của các cô gái nước ta sang Đài Loan ngày càng tăng.
Mỗi năm có đến hàng nghìn cô gái đi lao động ở Đài Loan đế làm các công
việc trong các gia đình Đài Loan. Chính cuộc di cư này đã làm nảy sinh nhiều
vấn đề xã hội cần được quan tâm như: lao động của người phụ nữ nặng nhọc,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status