Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
ÔN TẬP MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC 12
AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?
Chặng đường sáng tác
Mỗi tác phẩm đều là một sự thể nghiệm của nhà văn. Tất cả những tư tưởng, tình
cảm và con người đều in dấu vào trang sách, hắt sáng lên những trang đời mới mẻ.
Với gần hai trăm năm mươi trang sách, thật sự là những trang đời đầy nặng, bút ký
Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa ra mắt bạn đọc là một đóng
góp mới, một bước tiến mới của anh trên con đường sáng tạo văn học.
Với quan niệm rằng, trước khi biến thành mực chảy qua ngòi bút, những gì nhà văn
viết ra đã chảy qua tim như một dòng máu, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xông xáo đi vào
những nơi mũi nhọn của cuộc sống và những nơi anh qua đều có để lại trang viết. Với "nỗi
khát vọng sâu xa muốn hiểu biết một cách khoa học về toàn bộ những gì mà những bài học
vở lòng về lịch sử và địa lý của Tổ quốc đã gợi lên từ tuổi ấu thơ, về cuộc sống và những
miền xa xôi của đất nước",Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa người đọc xuôi theo dòng sông
thơm ngát hương hoa, bằng chiếc thuyền tâm hồn mình, có mái chèo là ngòi bút lặng lẽ,
miệt mài. Mỗi trang viết là kết quả của sự soi bóng tâm hồn người viết vào dòng sông ấy,
chiếu sáng vào trang sách, dòng sông như lung linh hư ảo, biến thành nhiều dòng chảy -
những dòng chữ buông dầm xuôi mái,đưa người đọc dọc theo chiều dài của đất nước, đến
những miền xa xôi, lùi xa vào lịch sử đang còn khuất nẻo, vươn dài tới tương lai, đánh thức
bóng dáng của quá khứ, mở ra những dự báo ở ngày mai. Đọc Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta
mới biết những bước thăng trầm của dòng sông Hương, vị trí lịch sử lâu đời của thành Hóa
Châu thời Lê (Ai đã đặt tên cho dòng sông), về chủ nghĩa nhân đạo trong chiều sâu văn hóa
của vườn cây Huế (Hoa trái quanh tôi), về cuộc chiến đấu anh hùng và bản lĩnh của những
người dân biển, những người lính Cồn Cỏ (Cồn Cỏ ngày thường). Người viết đưa chúng ta
về Điện Bàn, soi vào mảnh đất gò như chiếc thuyền con neo giữa dòng sông Thu Bồn, lần
theo hành trang cuộc đời những nhân vật lịch sử như Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Trần Cao
Vân (Đứa con của phù sa), hoặc lên tận biên giới phía Bắc xem tận mắt cuộc chiến đấu của
quân và dân ta, xem tận mặt lòng dạ thâm độc của kẻ thù (Rừng hồi, Ai về châu xưa).
Nguyễn Tuân đã từng tấm tắc khen người tâm đắc với thể loại ký với mình rằng: "Đánh
Đặc điểm xuyên suốt quá trình sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là cảm hứng về
Bình Trị Thiên, về Huế. Huế trong sáng tác của anh không phải là Huế cổ kính rêu phong
của triều Nguyễn mà là Huế của nhân dân, là văn hóa của dân tộc, của lịch sử đi qua còn in
bóng bên dòng sông thơ mộng và trong chiều sâu tâm hồn con người. Anh cố tìm trong cái
bằng lặng, rêu phong ấy, những gì sôi sục, thanh sạch, đẹp đẽ có ích cho hôm nay. Viết về
vùng đất nào anh cũng liên tưởng đến Huế, nhắc đến Huế. Người viết lúc nào cũng ở trong
tâm thể hướng về quê hương, ngay khi đang ở những miền xa xôi nhất của Tổ quốc. Viết về
đâu anh cũng soi xét dưới con mắt của người đô thị và cố gắng sử dụng từ địa phương tiếng
Huế một cách tự nhiên, nhuần nhụy và có khi biến thành tiếng chuẩn phổ thông trong một
ngữ cảnh nào đó. Huế trong sáng tác của anh còn là cái thầm lặng, thâm trầm, những tình
cảm hướng nội cô độc và sâu lắng, đậm đà tinh thần Á đông. Đọc trang viết chúng ta hình
dung ra vóc dáng gầy gầy của anh, dường như lúc nào cũng lặng lẽ một mình dưới ánh đèn
khuya, trước bàn viết. Cũng vì cái trầm lặng, hiền hiền ấy mà văn anh ít có cái gân guốc cần
thiết.
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vận dụng một khối lượng kiến thức rất lớn, về lịch sử,
địa lý, sinh vật, âm nhạc và cả hội họa, vào trong sáng tác của anh. Nhờ sức liên tưởng kỳ
diệu mà Hoàng Phủ Ngọc Tường có những trang miêu tả về thiên nhiên đẹp. Thiên nhiên
trong sáng tác của anh, không chỉ được miêu tả mà còn phân tích, nhân hóa trở thành nhân
vật có cuộc đời riêng như con người. Nếu nhà văn chỉ dừng lại ở việc miêu tả thiên nhiên
thì đôi khi một bức tranh tĩnh vật nói được nhiều điều hơn, trong bức tranh thiên nhiên vẫn
nổi lên những vấn đề của xã hội, của con người. Dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
không phải là dòng sông tĩnh lặng, nó đã được thuần hóa, trở nên gần gũi và in bóng con
người. Những con người bình thường như bà Lan Hữu trở thành nhân vật độc đáo khi được
nhà văn đặt trong quan hệ với thiên nhiên, với mảnh vườn.
Có thể nói, ký là một thể loại văn học khó. Người viết ký đối điện với sự thật, với
người đọc, như một người lính xuất kích, phơi trần lưng không nơi ẩn nấp. Tầm vóc, suy
nghĩ, tài năng, nhân cách người viết có thế nào bộc lộ ra thế ấy không giấu diếm, không nhờ
vả, vay mượn được của ai. Người viết ký phải tạo dựng một bức tranh khách quan, ở đó
không chỉ có sự kiện, vì sự kiện mới chỉ một phần, tất cả còn ở những bình giá, suy nghĩ,
nhận xét các sự kiện ấy (4). Chính vì thế mà ngoài những trang viết làm say lòng người đọc,
mê mải, sống và đi, đi để được sống, với đất nước, với nhân dân, với con người, đi say mê và say
mê viết về họ
• Nhà thơ Hoàng Cát§:
Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký văn học của riêng mình. Thế mạnh của
ông là tri thức văn học, triết học, lịch sử, địa lý sâu và rộng, gần như đụng đến vấn đề gì, ở thời
điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể tung hoành thoải mái ngòi bút được
• Nhà thơ Ngô Minh:
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số rất ít nhà văn viết bút ký nổi tiếng ở nước ta vài chục
năm nay. Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở tấm lòng nhân văn sâu sắc, trí
tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc, quyến rũ. Đó là những trang viết tài hoa, tài tử, tài
tình Thực ra, bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là những áng thơ văn xuôi cuốn hút người
đọc thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường là vẻ đẹp của nỗi buồn hoài niệm, những day dứt triết học, từ
sâu thẳm thời gian, sâu thẳm đất đai vọng lên trong tâm khảm người đọc. Nhà thơ Nguyễn Trọng
Tạo§ cho rằng thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường thấm đẫm "triết học về cái chết thơ anh buồn mỗi
nỗi buồn đứt ruột Đấy là thơ của cõi âm" Đó là một nhận xét xác đáng.
• Trên Website vnexpress:
Dường như trong suốt cuộc đời mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường bị ám ảnh bởi hoa. Điều đó, dù
cuộc đời lận đận những ngày tù cộng với những năm tháng bôn ba khắc nghiệt của chiến tranh
3
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
vẫn không tước đoạt nổi của ông Ông viết rất nhiều về hoa và đặc biệt, ông bị ám ảnh bởi sắc
diện phù dung.
Đề : Cái tôi của HPNT trong bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
1. Một cái tôi dạt dào cảm xúc:
1.1. Tư thế và tâm thế:
+ Tư thế: Một người trí thức yêu nước vừa bước ra từ trong khói lửa chiến tranh,vừa
bừng bừng khí thế chống giặc ngoại xâm, vừa hào hứng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng,một tư
thế tự do, tự tin và tự hào để mà nhìn vào mối quan hệ và dòng chảy của lịch sử dân tộc để
khẳng định sức sống, sức mạnh của nó.
nội tâm: vừa thích thú, vừa lơ đãng , miên man trong vẻ đẹp của dòng sông đang đổi sắc
không ngừng, nhớ da diết điệu chảy lặng lờ của con sông khi ngang qua thành phố, cái điệu
chảy như một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế trong trăm nghìn ánh hoa đăng; thất
vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày hoặc trên sân khấu bởi hiểu sâu sắc rằng nền âm
nhạc Huế được sinh thành trên mặt nước sông Hương, là linh hồn của con sông nên chỉ là
4
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
chính nó vang lên trong đêm giữa tiếng rơi bán âm của nước từ những mái chèo khuya. Có
khi cảm xúc yêu thương da diết với xứ Huế lại đượcbộc lộ gián tiếp trong cuộc hành trình
lặng lẽ với rất nhiều những tìm kiếm và phát hiện: Cái “tôi” tác giả khi thì chứng kiến một
nghệ nhân già sau nửa thế kỷ chơi nhạc đã chợt nhận ra khúc nhạc Huế trong những trang
Kiều “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”, khi bất ngờ và
ngỡ ngàng nhận ra điểm tương đồng giữa con sông và con người ở “nỗi vương vấn và chút
lẳng lơ kín đáo của tình yêu”; có khi lại cũng vì yêu Huế mà đọc văn kiện của Liên Hiệp
quốc về Huế bằng sự rung động thẩm mỹ của tâm hồn để “thấy hiện bóng khuôn mặt quyến
rũ và tươi trẻ của dòng sông thành phố giữa lòng thế giới hiện đại ”; đồng thời cũng hoài
niệm đến khắc khoải khi phát hiện ra một sắc màu xưa cũ của chiếc áo cưới ở Huế ngày
xưa, rất xưa “màu áo lục điều với loại vải…ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện” để
từ cái sắc màu văn hoá ấy mà liên tưởng một cách rất ngẫu hứng mà có lí tới “màu của
sương khói trên sông Hương giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu
khuôn mặt thực của dòng sông”
Rõ ràng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem tình yêu đằm thắm lắng sâu và những cảm xúc sôi
nổi say sưa phổ vào trang viết để rồi mỗi dòng văn như một nốt nhạc trong bản đàn lòng để
tôn vinh vẻ đẹp của sông Hương.
2. Một cái tôi nghiêm túc cẩn trọng trong tìm kiếm và phát hiện
2.1. Kiến thức và ý thức
+ Kiến thức: phong phú và có chiều sâu. Có thể nói trong bài bút ký pha tuỳ bút này,
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động vốn kiến thức tổng hợp nhiều mặt về con sông Hương
từ địa lý, lịch sử, văn hoá, văn chương và đời sống, tự nhiên và khảo cổ, cái hiện sinh và
nghe và chiêm nghiệm những cảm xúc, cảm giác phong phú và những ý nghĩ sâu xa. Vì thế
cái dễ nhận thấy từ những trang văn là chất trữ tình đậm đà đằm thắm. Song nếu chỉ đào sâu
vào những cảm xúc, cảm giác của mình hoặc lục tìm trong sách vở thì thế giới của một cái
tôi dẫu phong phú rộng mở đến mâý cũng chỉ là giới hạn. Thành công của Hoàng Phủ Ngọc
Tường trong tuỳ bút này không chỉ do nhà văn biết lắng nghe và xúc động, biết nghiên cứu,
tìm hiểu và suy ngẫm mà còn bởi người nghệ sỹ ấy có thực tế từ những chuyến đi. Đọc bài
tuỳ bút cũng rất dễ để thấy rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường rất hay đi: “Xuân hạ thu đông tôi
vẫn thường lên thăm vườn An Hiên của bà Tùng ở Kim Long ” để từ đó “từ mái rêu phong
của chiếc cổng vòm quay ra mặt sông” mà cảm nhận cái âm hưởng sâu thẳm của Huế trêm
mỗi trang Kiều. Song nhà văn lại cũng ý thức sâu sắc rằng “Nếu chỉ mải mê ngắm nhìn
khuôn mặt kinh thành của nó, người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông
Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn
sâu thẳm của nó”. Vì thế nhà văn đã thực hiện một cuộc hành trình theo suốt chiều dài của
con sông từ nơi khởi nguồn giữa lòng Trường Sơn với rừng già, ghềnh thác, vực xoáy để rồi
chuyển dòng liên tục mà hoà mình với cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại và bắt đầu hành
trình tìm kiếm thành phố tương lai của nó. Và bởi cũng đã từng biết đến sông Xen của Pari,
sông Đanuyp của Buđapet, sông Nêva của Nga mà Hoàng Phủ Ngọc Tường có thể nhận ra
nét riêng của Sông Hương trong nhịp điệu, trong sắc thái văn hoá và trong quan hệ của nó
với thành phố của mình. Trong những chuyến đi dọc sông Hương, chuyến đi về làng Thành
Trung có một vai trò quan trọng đặc biệt bởi nó cho nhà văn không chỉ những thông tin, dấu
vết về một khu thành cổ, một vùng đất chiến lược thuở xa xưa mà còn là một cơ hội để
nhận rõ bản lĩnh Việt sâu sắc, một sức sống Việt thật mãnh liệt, một tâm hồn Việt thật giàu
có phong phú, một khí đất thật hùng hậu và hương đất thật nồng nàn…
+ Đích đến: đi suốt dọc sông Hương để trải nghiệm bao nhiêu cảm xúc, cảm giác để
hiểu thấu bao nhiêu giá trị, nhận ra bao nhiêu vẻ đẹp của địa lí và văn hoá, đời sống và lịch
sử, cuối cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tìm được câu trả lời cho câu hỏi đầy khắc khoải
vẫn luôn vang vọng trong suốt bài tuỳ bút: “Con người đã đặt tên cho dòng sông như nhà
thơ chọn bút hiệu cho mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng
Thơm để xây đắp văn hoá và lịch sử”
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết về sông Hương không chỉ bằng cảm nhận và hiểu biết về
gặp Huế đã trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya để rồi khi phải lưu luyến ra đi,
sông Hương như chưa nỡ rời xa thành phố mà cố ý đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông –
tây để gặp lại thành phố lần cuối trong “nỗi vương vấn” “chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”
như nàng Kiều trong đêm tình tự đã chí tình trở lại cùng Kim Trọng để nói một lời thề mà
sự vang vọng của lời thề ấy, trong tưởng tượng và sự hình dung của nhà văn chính là giọng
hò dân gian “Còn non- còn nước- còn dài -còn về- còn nhớ…”
Trí tưởng tượng mạnh mẽ và phong phú khi kết hợp với cái kho vốn cảm xúc, cảm giác rất
dồi dào mà cũng vô cùng tinh tế sâu sắc đã tạo nên một chất thơ chan chứa trên mỗi trang
văn và một sức lôi cuốn khó cưỡng lại đối với người thưởng thức.
+ Vốn chữ nghĩa và sức sáng tạo: Thông thường người ta chỉ nói “Thi trung hữu
hoạ” “Thi trung hữu nhạc”. ở đây ta có thể hoàn toàn tự tin mà nói về chất nhạc, chất hoạ,
thậm chí là sự hoà quyện lý tưởng giữa chất nhạc, chất hoạ và chất thơ trong chữ nghĩa của
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hãy nghe nhà văn diễn tả cảm giác của mình “Mùa thu tôi ngồi
đọc Kiều dưới mái rêu phong của chiếc cổng vòm quay mái ra sông ăn trái hồng ngọt và
thanh đến độ tưởng như mỗi miếng vừa ngậm vào nửa chừng đã tan ra thành dư vang của
một tiếng chim”. Chỉ có ăn một trái hồng thôi mà thấy đủ cả hương vị, thanh sắc của đất
trời, huống hồ là khi đối diện với với một con sông của một miền đất mà mình yêu mến, tự
hào và gắn bó. Dường như có bao nhiêu góc nhìn, điểm nhìn về con sông thì có bấy nhiêu
kiểu chữ nghĩa được huy động để diễn tả cho thật riêng, thật sắc, thật tinh góc nhìn, điểm
nhìn ấy: Cần đặt con sông trong không gian địa lí thì nó là “một bản trường ca của rừng già
rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn
lốc vào dưới đáy vực bí ẩn, dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của
hoa đổ quyên rừng, dịu dàng và trí tuệ khi trở thành bà mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ
sở, mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá, trầm mặc như triết lí, như cổ thi gữa đám quần sơn
lô xô, đền đài lăng tẩm và rừng thông u tịch , vô tư giữa những biền bãi xanh biếc, yên tâm
kéo một nét thẳng khi nhìn thấy chiếc cầu của thành phố in ngầm trên nền trời…” Cần đặt
con sông trong tổng thể những sắc màu văn hoá thì nó trở thành một “vang bóng trong thời
gian hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng của Truyện Kiều”, lập loè trong đêm sương
những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ”, điệu chảy lặng lờ như một điệu
slow tình cảm dành riêng cho Huế có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh
- Đặc điểm và cấu trúc địa lí: vô cùng phong phú với bóng cây đại ngàn,
ghềnh thác, vực sâu, dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng…Tất cả tạo nên một
môi trường để thử thách, rèn luyện và hình thành tính cách, tâm hồn cho sông Hương.
- Đặc điểm của sông Hương trong môi trường địa lí ấy: dòng chảy khi rầm
rộ, khi mãnh liệt, khi cuộn xoáy, khi lại dịu dàng và say đắm. Phần hồn riêng của sông được
bộc lộ trong hành trình và qua đặc điểm dòng chảy là phần hồn của một con người đã trải
qua cả một quá trình trưởng thành từ con gái trở thành bà mẹ: vừa mang sức sống mãnh liệt
và hoang dại, vừa có diện mạo dịu dàng trí tuệ, vừa có tâm hồn trong sáng thẳm sâu lại vừa
dạt dào một khát vọng tự do.
+ Không gian châu thổ vùng Châu Hoá
- Đặc điểm địa lí: là sự chuyển tiếp từ vùng đồi núi sang vùng đồng bằng nên
rất đa dạng về địa hình: có vực sâu, có đồi núi trùng điệp, có thềm đất bãi, có vùng lăng tẩm
giữa mây trời và rừng thông.
- Đặc điểm của dòng sông: Như một người con gái đẹp vừa tỉnh giấc mộng
đã bộc lộ tính cách riêng, tâm hồn riêng- chuyển dòng liên tục, uốn khúc quanh co để tự tìm
kiếm và bộc lộ vẻ đẹp riêng của nó. Dòng chảy của sông phẳng lặng, hiền hoà, trầm mặc
“như triết lí, như cổ thi”, sắc nước của sông xanh thẳm khi qua lòng vực, phản chiếu màu
sắc của đồi núi, mây trời khi qua những quả đồi “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, hình thế
của sông thay đổi theo hình thế của địa hình, lúc uốn khúc quanh co, lúc lại mềm như tấm
lụa.
+ Không gian kinh thành Huế:
- Đặc điểm địa lí: Huế trong tổng thể là một đô thị cổ nằm suốt dọc 2 bờ
sông-nhiều biền bãi, nhiều cồn đảo và những nhánh sông đào mang nước sông Hương toả
đi khắp đô thị.
- Đặc điểm của sông: càng trở nên mềm mại, gợi cảm và đa cảm hơn. Dòng
chảy hiền hoà, chậm rãi và yên tĩnh như mặt nước hồ. Diện mạo vô cùng xinh đẹp, lộng lẫy
với trăm nghìn ánh hoa đăng. Tâm hồn đa cảm: vừa vui tươi khi gặp vùng biễn bãi xanh
biếc của vùng ngoại ô Kim Long, vừa hiền hoà trong những đường cong qua vùng không
gian nhiều cồn đảo, vừa ngập ngừng muốn đi muốn ở khi gặp được nét riêng văn hoá Huế,
vừa sâu lắng trong những khúc nhạc đêm khuya, vừa mơ màng lưu luyến khi phải rời xa
cồn Hến ”, cái đường cong “như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. Cũng như Kiều
khi gặp chàng Kim ở hội Đạp Thanh, sông Hương qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi,
muốn ở để ánh hoa đăng chao nhẹ trên mặt nước “như những vấn vương của một nỗi lòng”.
Và cũng như Kiều trong đêm tự tình với Kim Trọng, sông Hương đã rời khỏi kinh thành lại
đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông- tây để gặp lại thành phố 1 lần cuối. Cái khúc
quanh bất ngờ ấy, trong cảm nhận đầy lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở thành
nỗi vương vấn, thành chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu, là hành động chí tình của người con
gái để gặp lại người tình, nói lời thề chưa kịp nói mà âm vang lời thề ấy cho đến giờ vẫn
ngân nga vang vọng trên mặt sông thành những câu hò “Còn non, còn nước, còn dài, còn
về, còn nhớ…”. Cần hiểu đây không thuần túy chỉ là tưởng tượng lãng mạn của một tâm
hồn nghệ sĩ vốn rất say những trang Kiều, đây còn là cách nhìn của một trí thức vốn hiểu
thấu cả dòng sông và con người của xứ sở mình. Khi con sông được hiểu là mang trong nó
linh hồn của con người thì lời thề của dòng sông với thành phố chính là tấm lòng của người
dân châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở.
b. Dòng sông đằm thắm, lắng sâu:
b.1. Cốt cách văn hóa rất riêng:
+ Cũng như nàng Kiều không chỉ có nhan sắc mà còn rất mực tài hoa, sông Hương
trong cách nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là một “người tài nữ đánh đàn lúc đêm
khuya”. Cái nhìn này trước hết có cơ sở từ thực tế: Sông Hương là dòng sông âm nhạc, đây
cũng là nét riêng không thể lẫn của sông Hương với các dòng sông khác của đất nước. Trên
đất nước Việt Nam tuy dòng sông nào cũng gắn với điệu hò, câu hát, song có được sự tồn
tại song song của hai dòng nhạc cung đình và dân gian như sông Hương thì không thể có
hai. Dòng nhạc cung đình rất trang nhã, rất sang trọng và cũng rất đặc sắc. Dòng nhạc dân
gian cũng rất đằm thắm, da diết ân tình. Điểm gặp gỡ của cả nền âm nhạc cổ điển cũng như
những câu hò dân gian là đều đã được sinh thành trên mặt nước sông Hương nên nó chỉ
vang lên hay nhất trong những khoang thuyền, chỉ bộc lộ trọn vẹn sức lay động của nó với
10
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
những ai từng lênh đênh trên sông nước trong những đêm khuya.
lăng tẩm, biền bãi, thành phố, xóm làng…Và không chỉ đi hết cuộc hành trình, bản năng
sống đã khiến cô gái sông Hương sống trọng vẹn cuộc sống của riêng mình: từ cô gái trở
thành bà mẹ, từ say mê tìm kiếm người tình đến hào phóng nuôi dưỡng và đắp bồi một nền
văn hóa.
+ Khả năng: Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mượn chính văn kiện của Liên Hiệp quốc
để nói về khả năng tạo lập, hình thành và hoàn thiện nền văn hóa Huế của sông Hương.
“Dòng sông và những đầm phá của nó, những dòng kênh uốn lượn qua thành phố cũng với
tư thái của những ngôi nhà giữa những khu vườn xanh tươi, tất cả mang lại cho Huế một vẻ
trong sáng và thư thái, giành riêng cho cảm hứng nghệ thuật và tri thức”. Chính sông
Hương đã nuôi dưỡng nguồn cảm hứng nghệ thuật, bồi đắp cho những tâm hồn nghệ sĩ để
Huế có dòng thi ca và âm nhạc của riêng mình. Song cũng chính sông Hương đã bồi đắp
nguồn sức sống cho đôi bờ để bốn mùa hoa trái thắm tươi, bồi dưỡng và rèn luyện bản lĩnh
cho con người của một vùng đất để nhờ có bản lĩnh Việt sâu sắc mà sông Hương và con
người của nó mới không bị thu hút trước sự gặp gỡ với nền văn hóa hải đảo từ Nam Thái
Bình Dương, để trong đánh giá của nhà văn, chính vùng đất hạ lưu sông Hương là cái nôi
11
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
của truyền thống văn hóa Phú Xuân.
c. Dòng sông kiên cường mạnh mẽ.
c.1. Kiên trì và kiên cường
- Sông Hương trong sự khám phá của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ được đặt
trong mối quan hệ với không gian địa lý, với các giá trị văn hóa mà còn được soi ngắm từ
góc độ lịch sử. Có rất nhiều khoảng thời gian được nhắc tới ở đây: thời các vua Hùng, sông
Hương là một dòng sông biên thùy xa xôi, thế kỉ 15 là dòng sông viễn châu đã chiến đấu
oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc, thế kỉ 18 soi bóng kinh thành Phú Xuân
của người anh hùng Nguyễn Huệ, thế kỉ 19 sống hết lịch sử bi tráng của những cuộc khởi
nghĩa, thời đại cách mạng tháng Tám lại đem đến cho con sông những chiến công rung
chuyển, thời chống Mĩ, sông Hương tuy bị tàn phá nặng nề song vẫn kiên trinh với lời thề
sắt đá…Cách nhìn và cách dùng từ ngữ của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở đây đã làm bật sự
sử của đất và người bên dòng Hương giang mà còn nghiền ngẫm sâu xa và xúc động thấm
thía với những giá trị lịch sử đọng lại như lớp trầm tích của sông để con sông xứ Huế không
chỉ xinh đẹp thơ mộng trong dáng vẻ mà còn rất thiêng liêng vĩ đại trong tầm vóc. Nghĩa là,
đặt con sông trong dòng chảy của lịch sử cũng là thêm một thứ thước đo để Hoàng Phủ
12
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
Ngọc Tường làm nổi bật vẻ đẹp riêng,sức sống riêng, linh hồn riêng của con sông quê
hương.
d. Đánh giá:
Trong bài tùy bút này sông Hương đã được đặt trong một cái nhìn tổng thể và
toàn diện: Lịch sử và văn hóa, sinh hoạt và phong tục, văn chương và đời sống, con
người và thiên nhiên … Trong các mối liên hệ ấy, sông Hương vừa tươi đẹp, vừa thơ
mộng và quyến rũ trong các sắc thái thiên nhiên vừa sâu lắng trong các giá trị văn hóa,
vừa phong phú đến bất ngờ trong khả năng gợi hứng thú sáng tạo cho những người
nghệ sĩ, vừa kiên cường bất khuất trong thế đứng và tinh thần khi đối diện với giặc
ngoại xâm…Song dường như sau tất cả những điều đó, sông Hương vẫn mãi còn
những điều bí ẩn chưa được khám phá hết nên vẫn mãi gợi niềm bâng khuâng trong
tâm hồn con người.
13
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT
Bố cục tác phẩm:
Cảnh 1. Nam Tào, Bắc Đẩu tắc trách gạch sổ bừa tên người tới số chết ở trần gian là
Trương Ba, rồi nói với Đế Thích xuống trần gian mà tìm người đánh cờ cho đỡ buồn.
Cảnh 2. Trương Ba, một người làm vườn hiền lành, nhân hậu đang đánh cờ với bạn.
Tiên Đế Thích đến giải nước cờ hiểm, rồi kết bạn với Trương Ba, cho Trương Ba một bó
hương, dặn nếu đốt hương, gọi tên thì ông sẽ xuống trần. Sau đó, Trương Ba chết một cách
đột ngột.
hàng thịt, hồn Trương Ba đành phải chiều theo một số nhu cầu hiển nhiên của xác thịt. Linh
hồn nhân hậu, trong sạch, bản tính ngay thẳng của Trương Ba xưa kia, nay vì phải sống
14
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
mượn, vá lắp, tạm bợ và lệ thuộc nên chẳng những đã không sai khiến được xác thịt thô
phàm của anh hàng thịt mà trái lại còn bị cái xác thịt ấy điều khiển. Đáng sợ hơn, linh hồn
Trương Ba dần dần bị nhiễm độc bởi cái tầm thường của xác thịt anh đồ tể. Hồn Trương Ba
đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ (Những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng
với ước nguyện khắc khoải). Hồn bức bối bởi không thể nào thoát ra khỏi cái thân xác mà
hồn ghê tởm. Hồn đau khổ bởi mình không còn là mình nữa. Trương Ba bây giờ vụng về,
thô lỗ, phũ phàng lắm. Hồn Trương Ba cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái đau khổ, tuyệt
vọng.Ý thức được điều đó linh hồn Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại
bằng cách tách ra khỏi xác thịt để tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào thể xác. Xác hàng thịt
biết rõ những cố gắng đó là vô ích, đã cười nhạo hồn Trương Ba, tuyên bố về sức mạnh âm
u, đui mù ghê gớm của mình, ranh mãnh dồn hồn Trương Ba vào thế đuối lí và hơn nữa, ve
vãn hồn Trương Ba thoà hiệp vì, theo lí lẽ của xác thịt là "chẳng còn cách nào khác đâu", vì
cả hai "đã hoà vào nhau làm một rồi". Trước những "lí lẽ ti tiện" của xác thịt, Trương Ba đã
nổi giận, đã khinh bỉ, đã mắng mỏ xác thịt hèn hạ nhưng đồng thới cũng ngậm ngùi thấm
thía nghịch cành mà mình đã lâm vào, đành nhập trở lại vào xác thịt trong tuyệt vọng. Hai
hình tượng hồn Trương Ba và xác hàng thịt ở đây mang ý nghĩa ẩn dụ. Một bên đại điện
cho sự trong sạch, nhân hậu và khát vọng sống thanh cao, xứng đáng với danh nghĩa con
người và một bên là sự tầm thường, dung tục. Nội dung cuộc đối thoại xoay quanh một vấn
đề giàu tính triết lí, thể hiện cuộc đấu tranh dai dẳng giữa hai mặt tồn tại trong một con
người. Từ đó nói lên khát vọng hướng thiện của con người và tầm quan trọng của việc tự ý
thức, tự chiến thắng bản thân Màn đối thoại này cho thấy
Trương Ba được trả lại cuộc sống nhưng là một cuộc sống đáng hổ thẹn vì phải sống
chung với sự dung tục và bị sự dung tục đồng hoá.
Không chỉ đừng lại ở đó, tác giả cảnh báo: khi con người phải sống trong dung tục
thì tất yếu cái dung tục sẽ ngự trị, sẽ thắng thế, sẽ lấn át và sẽ tàn phá những gì trong sạch,
mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó,
"Ông nội đời nào thô lỗ, phũ phàng như vậy". Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua
đuổi quyết liệt: "Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!". Tuy nhiên, họ chỉ là
những người dân thường, họ không giúp gì được cho tình trạng hiện tại của Trương Ba.
Tình huống kịch thúc đẩy Trương Ba phải lựa chọn và sau màn độc thoại nội tâm (hồn
Trương Ba thách thức xác anh hàng thịt: "có thật là không còn cách nào khác?" và phản
kháng quyết liệt: "Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!"). !". Đây là
lời độc thoại có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách
dứt khoát.
2. Nghệ thuật trong Hồn Trương Ba da hàng thịt :
Trong làng kịch nói Việt Nam, có lẽ ai cũng biết đến Lưu Quang Vũ - một hiện
tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX. Tuy có tài ở
nhiều lĩnh vực như viết truyện ngắn, soạn kịch, làm thơ, vẽ tranh nhưng ông được xem là
một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt nam hiện đại.
Trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ, đáng chú ý nhất là vở "Hồn Trương Ba, da hàng
thịt". Tác phẩm để lại cho nền văn học nhiều nét nghệ thuật đặc sắc. 3.1. Nghệ thuật xây
dựng nội tâm độc đáo: Bằng nghệ thuật xây dựng nội tâm độc đáo, cảnh VII, đoạn cuối vở
kịch đem đến cho người đọc nhiều vấn đề tư tưởng sâu sắc qua nhân vật Trương Ba trong
thân xác anh hàng thịt.
Đoạn trích là phần lớn cảnh VII. Đây cũng là đoạn kết của vở kịch, đúng vào lúc xung đột
trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng sống trong tình trạng "bên trong
một đằng, bên ngoài một nẻo", nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè,
người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình, muốn thoát ra khỏi nghịch cảnh trớ
trêu.
a. Ngôn ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ kịch:
Sinh động, gắn với tình huống cụ thể. Đó là sự khác biệt của ngôn ngữ Trương Ba
trong đối thoại với Xác, vợ, cái Gái, Đế Thích…. Trước khi Đế Thích xuất hiện : Diễn ra
cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba ngồi ôm đầu một
hồi lâu rồi vụt đứng dậy với một lời độc thoại đầy khẩn thiết: " Không. Không! Tôi không
muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân
nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, "Ông nội đời
nào thô lỗ, phũ phàng như vậy". Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua đuổi quyết
liệt: "Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!".
Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị cảm thấy thương
bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm, "khổ hơn xưa nhiều lắm". Nhưng
nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình "như sắp tan hoang ra cả" khiến chị không thể bấm
bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau đó: "Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không
đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy
mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến
nối có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa "
Tất cả những người thân yêu của Hồn Trương Ba đều nhận ra cái nghịch cảnh trớ
trêu. Họ đã nói ra thành lời bởi với họ cái ngày chôn xác Trương Ba xuống đất họ đau, họ
khổ nhưng "cũng không khổ bằng bây giờ".
b.Giọng điệu nhân vật biến hóa đa dạng
Có sự kết hợp giữa giọng hướng ngoại và hướng nội - độc thoại nội tâm. Sau tất cả
những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng cách nói riêng, giọng nói riêng của mình đã khiến
Hồn Trương Ba cảm thấy không thể chịu nổi. Nỗi cay đắng với chính bản thân mình cứ lớn
dần lớn dần, muốn đứt tung, muốn vọt trào. Nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba còn
lại trơ trọi một mình với nỗi đau khổ, tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời
độc thoại đầy chua chát nhưng cũng đầy quyết liệt: "Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác
không phải của ta ạ Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất
mình? "Chẳng còn cách nào khác"! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không còn cách
nào khác? Có thật không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại!
Không cần!". Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương
gọi Đế Thích một cách dứt khoát.
17
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
- Từ khi Đế Thích xuất hiện
Cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi gắm
thuật bi kịch Lunasatxki khẳng định “ vở kich có thể duy tâm hay duy vật nhưng nhất thiết
phải có tính biện chứng với sự phát triển của các sự kiện, không có xung đột của các mâu
thuẫn, chỉ có thể là những vở kịch tồi”. Hay trong “ nghệ thuật thi ca” Arixtot đã nhận xét
như sau: “ kịch sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có xung đột và tình huống éo le”. Như vậy có
thể khẳng định xung đột kịch chính là cơ sở để một kịch bản trở thành bi kịch. “ Hồn
Trương Ba da hàng thịt” Cách diễn tả hành động, ngôn từ nhân vật, chính là yếu tố trọng
yếu để phát triển xung đột, xây dựng tình huống, thể hiện tính cách trong nghệ thuật viết
kịch.
Phù hợp với hoàn cảnh, theo đúng logic phát triển của tình huống kịch.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hành động bên ngoài và hành động bên trong (những độc
thoại nội tâm thể hiện trạng thái tinh thần căng thẳng, đầy day dứt). 3.1.4. Chất thơ, chất trữ
tình bay bổng
d.Sự kết hợp tính hiện đại với các giá trị truyền thống
18
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
2. Triết lý sống trong "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" :
HỒN TRƯƠNG BA, “ da hàng thịt” từ truyện cổ dân gian đến kịch bản của Lưu
Quang Vũ sự phát triển của một triết lý sống Từ sự so sánh về quan điểm triết lý giữa
truyện cổ dân gian “Hồn Trương Ba, da Hàng thịt” và vở kịch cùng tên của Lưu Quang Vũ,
bài viết đã nêu lên những nét mới, rất có ý nghĩa trong tác phẩm của nhà soạn kịch nổi tiếng
này. Nếu cốt truyện dân gian chỉ đơn giản đề cao, tuyệt đối hoá vai trò của linh hồn đối với
thể xác, thì đến vở kịch của Lưu Quang Vũ, vấn đề đã được ông đào sâu, mở rộng và phát
triển hơn rất nhiều. Ông có quan niệm khác về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác - đó là
mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau. Hơn nữa, ông còn mở rộng tầm triết lý sang cả
những vấn đề nhân sinh khác, như vấn đề xung đột giữa nhu cầu tự nhiên và nhân cách, vấn
đề đấu tranh trong bản thân mỗi con người để hoàn thiện nhân cách làm người, v.v Vở
kịch của Lưu Quang Vũ, vì thế, không chỉ là thành quả to lớn của nền kịch nói hiện đại Việt
Nam, mà còn là một đóng góp đặc sắc của ông vào quan niệm triết lý nhân sinh nói chung.
mới tắt thở không gọi ta xuống ngay, để đến bây giờ còn làm thế nào được nữa?”. Suy nghĩ
19
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
một chút, Đế Thích lại hỏi thêm: “Trong xóm hiện nay có ai mới chết không?”. Vợ Trương
Ba đáp: “Có một người Hàng thịt mới chết tối hôm qua”. Thần Đế Thích bảo chị ta dẫn
mình đến nhà người Hàng thịt mà bảo: “Ta sẽ kiếm cách làm cho chồng nhà ngươi sống
lại”. Nói xong, thần hóa phép rồi trở về trời.
Nói chuyện trong nhà người Hàng thịt lúc đó, mọi người đang xúm quanh linh sàng
khóc lóc kể lể thì tự nhiên thấy người chết ngồi nhỏm dậy. Hắn ta vứt tất cả mọi đồ khâm
liệm rồi chẳng nói chẳng rằng đi thẳng một mạch về nhà Trương Ba. Vợ Trương Ba thấy
người Hàng thịt, biết là thần Đế Thích đã làm cho chồng mình sống lại, mừng rỡ đón vào.
Giữa lúc đó, thì vợ con người Hàng thịt cũng chạy theo níu lấy chồng nhưng không những
bị vợ Trương Ba giằng lại, mà ngay chính chồng mình cũng nhất định không chịu về. Đôi
bên cãi cọ nhau, cuối cùng biến thành cuộc đấu khẩu rất kịch liệt. Xóm làng không biết
phân xử ra sao, đành đem việc đó lên quan.
Quan cho đòi các nhà hàng xóm tới hỏi cung thì ai cũng bảo người sống lại đó là anh
Hàng thịt. Nhưng chỉ có vợ Trương Ba thì nhất định nhận ra là chồng mình”. Quan hỏi
rằng: “ Chồng chị ngày thường hay làm gì?”. Đáp: “chồng tôi chỉ thạo đánh cờ mà thôi”.
Quan lại hỏi vợ người Hàng thịt: “chồng chị ngày thường hay làm nghề gì?”. Đáp: “chồng
tôi chỉ thạo nghề mổ lợn”.
Nghe đoạn, quan sai đem một con lợn vào công đường cho anh Hàng thịt mổ, nhưng
anh ta lúng túng không biết làm thế nào cả. Quan lại sai mấy người giỏi cờ vào tỉ thí với
người Hàng thịt thì không ngờ, con người đó đi những nước cờ rất cao không ai địch nổi.
Quan bèn phán cho về nhà Trương Ba.
Vì thế mới có câu “ Hồn Trương Ba, da Hàng thịt”
Như vậy, truyện cổ dân gian Hồn Trương Ba, da Hàng thịt cũng quan niệm linh hồn
phải có thể xác mới có chỗ trú ngụ và thể xác phải có linh hồn mới sống được, mới không
rữa nát. Nhưng truyện cổ dân gian tuyệt đối hóa vai trò của linh hồn, coi nhẹ thể xác, nên
khi Trương Ba mượn được thể xác của người Hàng thịt thì Trương Ba coi mình là Trương
cho Trương Ba mấy nén hương và bảo nếu cần thì thắp một nén là Đế Thích xuống, thắp ba
nén thì có thể lên thiên đình gặp Đế Thích. Sau đó, Trương Ba thấy trong người khó chịu và
chết.
Nam Tào, Bắc Đẩu và Đế Thích đang trò chuyện thì vợ Trương Ba lên (bà ta vô tình
thắp ba nén hương cho chồng). Bà đòi trả mạng sống cho chồng. Nhân có anh Hàng thịt
mới chết, thân xác chưa tan rữa, Nam Tào, Bắc Đẩu cho hồn Trương Ba nhập vào xác anh
Hàng thịt để sống lại.
Gia đình người Hàng thịt đang ngồi bên quan tài thì người Hàng thịt đội nắp quan tài
lên, đòi về nhà Trương Ba, không chịu ở lại nhà Hàng thịt. Vợ Trương Ba đến xem phép
mầu nghiệm ứng để đón chồng. Lúc đầu, mọi người đều ngỡ ngàng nhưng hồn Trương Ba
đã nói được những điều chỉ có Trương Ba xưa mới biết, nên vợ Trương Ba nhận chồng,
Trưởng Hoạt nhận bạn. Hồn Trương Ba (trong xác anh Hàng thịt) về nhà Trương Ba.
Nhưng bà vợ băn khoăn vì thân xác chồng khác xưa nhiều quá. Bà cũng thắc mắc về việc
chồng phải sang giúp chị Hàng thịt mổ lợn mặc dù vụng về.
Anh con trai thì hy vọng với sức vóc mới, bố có thể cùng đi buôn lậu với mình. Hồn
Trương Ba đã tát con với sức mạnh của cánh tay anh Hàng thịt.
Lý trưởng vào bắt hồn Trương Ba phải về nhà Hàng thịt. Anh con trai hối lộ, Lý
trưởng xử: ban ngày ở nhà Trương Ba, đêm về nhà Hàng thịt. Anh con trai lại có lời, Lý
trưởng cho phép Trương Ba chỉ phải ở nhà Hàng thịt đến nửa đêm thì được về.
Trời đã khuya, hồn Trương Ba giúp chị Hàng thịt mổ lợn, pha thịt xong, chuẩn bị về
thì chị ta giữ lại mời rượu rồi mời ở lại. Hồn Trương Ba lúc đầu định xuôi theo nhưng đã
đấu tranh tư tưởng, gỡ tay chị ta, về nhà.
Trưởng Hoạt sang phê phán Trương Ba bắt đầu đổi tính: uống rượu, đòi ăn ngon,
nước cờ đi cũng khác.Lý trưởng lại đến sách nhiễu. Cháu gái không nhận ông, người con
dâu cũng than phiền bố chồng thay đổi.Một cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác
người Hàng thịt diễn ra; qua đó, xác người Hàng thịt khẳng định thế lấn tới của y đối với
hồn Trương Ba.
Hồn Trương Ba đốt một nén hương gọi Đế Thích xuống giải thoát cho mình. Lúc đó,
cu Tỵ nhà hàng xóm bị ốm nặng, sắp chết. Đế Thích bảo hồn Trương Ba nhập vào xác cu
Tỵ. Trương Ba từ chối, xin cho cu Tỵ sống, còn mình xin trả lại xác cho người Hàng thịt và
hồn cùng những phiền toái do sự không hòa hợp, không thống nhất giữa linh hồn và thân
xác.
Đỉnh cao của tư tưởng triết lý trong vở kịch là sự đối thoại giữa linh hồn và thân xác.
Cuộc đối thoại này cho thấy con người ta có hai phần là linh hồn và thể xác. Hai phần đó có
quan hệ hữu cơ với nhau. Linh hồn có cơ sở vật chất là thể xác, cũng như nhận thức lý tính
phải bắt đầu từ cảm tính; tình cảm hình thành từ những quan hệ cụ thể trong đời thường;
cảm xúc thẩm mỹ phải dựa trên các cảm quan thị giác, thính giác Thể xác cũng có tính
độc lập tương đối, có tiếng nói riêng, có nhu cầu tự nhiên hợp lý, không thể bỏ qua. Nhưng,
linh hồn phải kiểm soát những nhu cầu đó, phải điều chỉnh, thăng hoa, “Người” hóa, văn
hóa hóa những nhu cầu ấy. Con người nói chung phải biết kìm hãm, tiết chế những nhu cầu
bản năng và nếu cần, biết đè nén, biết hy sinh nó. Linh hồn và thể xác là một thể thống
nhất; trong đó, linh hồn giữ vị trí chủ đạo, nên linh hồn phải chịu trách nhiệm cuối cùng về
hành động của thể xác, không thể thỏa mãn mọi nhu cầu ở mọi mức độ, mọi nơi, mọi lúc rồi
đổ trách nhiệm cho thể xác. Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác thực sự là cuộc đấu
tranh trong bản thân con người để làm chủ những nhu cầu và ham muốn, nhất là khi bị hoàn
cảnh tác động. Đó là cuộc đấu tranh để làm chủ bản thân và hoàn thiện nhân cách. Ở đây,
cuộc đấu tranh này cũng cảnh báo khả năng lấn át của thể xác - tức của những nhu cầu tầm
thường - đối với linh hồn - tức là đối với khát vọng sống cao khiết.
Hành động chấp nhận cái chết, trả lại xác cho anh hàng thịt của Trương Ba là một
hành động đúng đắn, một hành động dũng cảm và đạo đức. Từ sự lý giải lại một cách biện
chứng về quan hệ giữa thể xác và linh hồn trên triết lý nhân sinh của thời đại, Lưu Quang
Vũ đã đi đến một quan niệm sống đẹp: sống chân thật, mình phải chính là mình, cả linh hồn
và thể xác, sống vì mọi người, vì hạnh phúc và sự tốt đẹp của con người. Trương Ba chết,
nhưng hồn Trương Ba vẫn sống - sống trong tình cảm của mọi người, sống mà không cần
mượn đến thân xác của ai hết.
Trước khi kết thúc, tác giả còn đưa nhân vật vào cuộc thử thách cuối cùng, đặt nhân
vật trước một sự lựa chọn: chấp nhận cái chết hoặc nhập vào xác cu Tỵ - một em bé hàng
xóm vừa chết. Trương Ba không thể tái diễn bi kịch sống trong thân xác mượn của người
22
Thành Viên Tuổi Học Trò
sự thống nhất hài hòa giữa linh hồn và thể xác, hướng tới một lối sống cao thượng, vươn tới
một nhân cách hoàn thiện.
3. Kết luận:
Không chí có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, rong vở kịch nói
chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu
cực trong lối sống lúc bấy giờ:
Thứ nhất, con người đang có nguy cơ chạy theo những ham muốn tầm thường về vật
chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở nên phàm phu, thô thiển.
Thứ hai, lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà chẳng chăm lo
thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn.
=> Cả hai quan niệm, cách sống trên đều cực đoan, đáng phê phán.
Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một vấn đề cũng không kém phần bức xúc, đó là
tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng không được sống là bản thân mình.
Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi.Với tất cả những ý nghĩa
đó, đoạn trích rất tiêu biểu cho phong cách viết kịch của Lưu Quang Vũ.
******************************
23
Thành Viên Tuổi Học Trò
123doc.org
HỒN TRƯƠNG BA,DA HÀNG THỊT – NƠI KẾT THÚC CỦA CỔ TÍCH VÀ SỰ KHỞI ĐẦU
1/ Nội dung câu chuyện dân gian:
“Ngày xưa, có một ông Trương Ba chơi cờ tướng rất giỏi - “cao tay” đến mức “có một không
hai”. Một hôm, đang bên bàn cờ, đối thủ của ông Trương Ba bị dồn vào thế bí bèn thốt lên “Nước
cờ này chỉ có tiên cờ là Đế Thích mới có thể gỡ được chứ người trần chỉ có nước hàng thôi”. Vừa
dứt lời thì quả nhiên có một ông lão ăn mày xuất hiện xin đi thử một nước cờ gỡ bí Ông Trương
Ba vừa tức, vừa sững sờ kinh ngạc vì chỉ trong thoáng chốc, đối thủ của ông không chỉ thoát bí mà
còn dồn ông đến chỗ thua bèn cúi xuống sụp lạy ông lão, vừa lạy vừa nói: “Tôi dám chắc cụ là tiên
cờ Đế Thích chứ chẳng phải người phàm”. Ông lão ăn mày từ chối, chỉ nói rằng mình là kẻ nghèo
hèn nhưng ông Trương Ba không chịu nghe cứ sụp lạy mãi khiến ông già đành phải thú thật: “Đúng
tôi là Đế Thích, nghe nhắc đến tên, tôi phải xuống xem anh đánh cờ ra sao và đã thấy anh đúng là
123doc.org
trai, chị con dâu, cháu nội ông Trương Ba; Lý trưởng, Trương Tuần, Lái lợn 1, lái lợn 2 Chính họ
là những phía đối lập của xung đột, can dự, chi phối đẩy cốt truyện kịch lên cao trào và tạo nên bi
kịch lạ lùng cho số phận Trương Ba. Tương tự như vậy, các yếu tố không - thời gian trong tác
phẩm của Lưu Quang Vũ cũng trở nên đa chiều hơn.
Đặc biệt là ngôn ngữ nhân vật, (chủ yếu là ngôn ngữ đối thoại) - một hình thức đặc thù của
văn bản kịch - đã được vận dụng một cách hiệu quả và sáng tạo trong một tác phẩm được coi là “để
đời” của một nhà viết kịch tài năng và thuộc một thể loại kể chuyện bằng ngôn ngữ đối thoại và “tất
cả mọi vấn đề xung quanh hình tượng” đều nằm trong lời ăn tiếng nói của nhân vật.
Thay vì điểm nhìn của tự sự cổ tích với lời mở đầu quen thuộc “Ngày xửa ngày xưa có một
người tên là ”, vở kịch của Lưu Quang Vũ mở màn bằng “không gian tiên giới” - khung cảnh trên
thiên đình - với sự xuất hiện của các quan nhà trời Bắc Đẩu, Nam Tào và dĩ nhiên là có cả Đế
Thích. Do cung cách làm việc tắc trách, luộm thuộm của những đấng nắm “quyền sinh quyền sát”
trong tay, và cũng muốn xong việc để kịp dự lễ khai tiệc bên đình Thái Thượng, sau cái “tặc lưỡi”
và dưới ngòi bút oan nghiệt của Nam Tào, ông Trương Ba hiền hậu, tử tế, tốt bụng còn đang rất
khoẻ mạnh, mặc dầu chưa “tận số” (khác với cổ tích) đã phải chết thay cho một tên bạc ác bất nhân,
lừa thầy phản bạn, dối trá tham tàn “Xen” kịch ngắn giàu tính thời sự này của Lưu Quang Vũ gợi
nhớ về một thời chưa xa “sinh mệnh” của con người chất ngất nhiều nỗi oan khất bởi trên đầu họ là
những thế lực, thậm chí là siêu thế lực “cho ai sống mới được sống, bắt ai chết là phải chết ” (trích
Hồn Trương Ba, da hàng thịt).
Sau cảnh hạ giới với sự ra đi đột ngột của ông Trương Ba và nỗi bàng hoàng thương tiếc của
những người ruột thịt, xóm giềng lần thứ 2, không gian thiên đình lại hiện hữu để người xem có
dịp chứng kiến một sự “sửa sai” ngoài mọi tưởng tượng: ông Trương Ba được sống lại bằng thân
xác của anh hàng thịt nhờ cái tâm và phép màu của Đế Thích. Mô hình không gian này không xuất
hiện trong câu chuyện cổ tích (chỉ có những khung cảnh quen thuộc ở hạ giới) nhưng đối với Lưu
Quang Vũ, sự trở lại không gian này đã tạo một bước ngoặt quan trọng để tạo lực đẩy kịch tính cho
cốt truyện. Dòng tự sự dân gian rõ ràng đã lấy việc ông Trương Ba được sống lại trong “lốt” thân
thể anh hàng thịt làm sự kiện chính và là “điểm nhấn” trung tâm mang lại tính chất hoang đường
cho câu chuyện cổ tích. Chính vì vậy, những diễn biến tiếp theo của câu chuyện như cuộc đấu
khẩu, xô xát giành chồng giữa hai người đàn bà và việc quan xử cho bà vợ ông Trương Ba thắng