BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Thanh Thảo
ĐẶC ĐIỂM CỦA TIÊU ĐỀ VĂN BẢN
TRONG THỂ LOẠI TIN TỨC
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRỊNH SÂM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009 MỞ ĐẦU
TĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tiếp nhận bài báo của người
đọc. Bài báo có trở nên thu hút hay gây ấn tượng ban đầu tốt đẹp cho người
đọc hay không được quyết định bởi TĐ bài báo. Do vậy, việc nghiên cứu, tìm
hiểu, khảo sát về các đặc điểm của TĐVB tin tức là công việc có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn.
Tuy nhiên, trong phạm vi có thể, luận văn nghiên cứu đặc điểm chung
về báo chí, về TĐVB báo chí, trong đó đi sâu vào đặc điểm TĐ tin tức. Qua
khảo sát 1000 đơn vị TĐVB tin tức điển hình và 1000 đơn vị TĐVB tin tức
không điển hình, nỗ lực mà luận văn hướng tới là nhận diện các đặc điểm về
hình thức, nội dung, ngữ dụng và chức năng giao tiếp của TĐVB tin tức.
3. Lịch sử vấn đề
Những năm gần đây, khi m
à báo chí đã phát triển vượt bậc và ngày
càng chứng tỏ được thế mạnh cũng như vị trí, tầm quan trọng đối với đời sống
xã hội thì ngày càng có nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí nhằm nâng cao
hơn nữa nghiệp vụ báo chí. Có khá nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận ngôn ngữ
báo chí từ nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ chuyên môn nghiệp vụ báo
chí, cũng như là bài giảng dành cho sinh viên báo chí, Vũ Quang Hào 2004
(“Ngôn ngữ báo chí”,
Nxb ĐHQG Hà Nội) đưa ra nhiều ý kiến rất có giá trị,
nhưng xét về thuần tuý ngôn ngữ chưa đáp ứng được yêu cầu làm nổi rõ đặc
điểm ngôn ngữ báo chí. Tác giả cùng những sinh viên khoa báo chí như
Nguyễn Đức Thắng 1995 trong luận văn “Tính hấp dẫn của tít báo Việt ngữ”,
Nguyễn Thu Hà 1994 trong luận văn “Về những khiếm khuyết của một số tít
báo… tiếng Việt, theo cách nhìn của ngôn ngữ học”, Nguyễn T
hị Mai 1998
trong báo cáo khoa học sinh viên “Về đặc trưng ngôn ngữ của tít báo và
những thủ pháp đặt tít thông thường” đã cho thấy được tầm quan trọng của
ngôn ngữ tít báo. Tuy nhiên những bài viết chỉ tập trung nhiều ở lĩnh vực báo
thạc sĩ khoa học Ngôn ngữ (Trường Đại học Sư phạm, T.P
. Hồ Chí Minh) về
đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí” đã phần nào làm sáng tỏ
4
những đặc điểm ngôn ngữ của báo chí. Nguyễn Đức Dân từ lâu đã quan tâm
đến ngôn ngữ báo chí và có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này. Trong bài
viết “Dấu ngoặc kép trong những đề báo” đăng trên báo Kiến thức ngày nay,
số 218, 1996, tác giả chú ý đến vai trò quan trọng của dấu ngoặc kép trong
những đề báo. Trong một số bài nghiên cứu khác, tác giả xét hàm ý của TĐ
báo chí ở phương diện ngữ dụng, chú ý về mặt sử dụng những TĐ báo chí có
dẫn những lời trong bài hát và tục ngữ, thành ngữ (“Ý tại ngôn ngoại, những
thông tin chìm trong ngôn ngữ báo chí”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, 2004, “Vận
dụng tục ngữ, thành ngữ và danh ngôn trên báo chí”, Tạp chí Ngôn ngữ, số
10, 2004).
Trong tác phẩm “Ngôn ngữ báo chí. Những vấn đề cơ bản”(Nxb
Giáo dục, 2007), Nguyễn Đức Dân hệ thống hoá và đề cập đến những vấn đề
cơ bản nhất của ngôn ngữ báo chí. Tác giả đi sâu vào tìm
hiểu đặc điểm và
khả năng hoạt động của tiếng Việt trong báo chí, giúp ích cho những người
làm báo phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt một cách hiệu quả nhất trong
lĩnh vực chuyên môn của mình.
Nghiên cứu TĐVB báo chí không thể không đề cập đến ngôn ngữ báo
chí vì TĐ, dù là bộ phận hữu cơ hay độc lập với nội dung văn bản (NDVB)
vẫn phải tuân theo những quy tắc của ngôn ngữ. Đặt TĐ có ý nghĩa rất quan
trọng, quyết định số phận bài báo, cho nên công việc này do những biên tập
viên kinh nghiệm, có nhiệm vụ đặt TĐ sao cho lôi cuốn, thu hút độc giả. Nói
cách khác, TĐ có thể nâng tầm hay hạ thấp giá trị bài báo. Và TĐ hay dở
cũng liên quan đến việc độc giả có quyết định đọc hay không đọc bài báo.
chỉ dẫn cho việc vận dụng vào tiếng Việt. Cũng tác giả này trong bài viết
“Trích dẫn trong báo tiếng Anh”, (Tạp chí Ngôn ngữ, số 14, 2002) đã đề cập
đến một loại TĐ trích dẫn trong báo tiếng Anh. Cùng hướng nghiên cứu về
TĐ trích dẫn, Trần Thanh Nguyên có bài “Về kiểu tiêu đề mô phỏng trên các
văn bản báo chí” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 10,
2003) đã nêu vấn đề
này một cách chi tiết và sâu rộng hơn, giúp làm phong phú thêm diện mạo của
TĐVB báo chí. Nguyễn Thị Vân Đông “Đôi điều nên biết về tiêu đề báo chí
tiếng Anh và tiếng Việt”, (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 11, 2003) tập
6
trung chủ yếu vào một số nét về đặc điểm của TĐ và một số kinh nghiệm viết
TĐ báo của báo chí phương Tây với các dẫn chứng trong báo tiếng Anh và
tiếng Việt. Cũng tác giả này, năm 2005 có bài viết “Tiêu đề báo tiếng Anh và
tiếng Việt dạng ngữ cố định” ( Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2, 2005)
cho rằng việc sử dụng ngữ cố định để đặt TĐ cho các bài báo được các nhà
báo khai thác triệt để nhằm thực hiện một cách có
hiệu quả những yêu cầu về
chức năng và đặc điểm của báo chí. Trong một bài báo “Từ trái nghĩa trong
các tiêu đề trên báo chí Nga” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, 2007), Vũ Thị Chín
nhận định việc sử dụng từ trái nghĩa là một trong những thủ pháp yêu thích và
được sử dụng rộng rãi trong các TĐ trên báo chí Nga. Trong một bài nghiên
cứu gần đây “Đặc điểm ngôn ngữ báo chí nhìn từ hoạt động báo chí
ở thành
phố Hồ Chí Minh” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 12, 2008), Trịnh Sâm
đã nêu đặc điểm ngôn ngữ báo chí nhìn từ hoạt động báo chí ở thành phố Hồ
Chí Minh. Điểm mới trong bài nghiên cứu này là tác giả khái quát một số mô
hình VB báo chí dựa vào mô hình kim tự tháp giúp nhận diện thông tin hạt
nhân và thông tin vệ tinh được phân bố trong VB báo chí. Lê Đình 2009 trong
hệ thống, bài bản về đặc điểm của TĐVB trong thể loại tin tức, chúng tôi sẽ
tiếp cận linh hoạt nhiều phương diện có quan hệ giao nhau với ngôn ngữ học
như phương diện xã hội học và kí hiệu học.
4. Phương pháp nghiên cứu và sưu tầm tư liệu
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng một cách linh hoạt nhiều phương pháp khác nhau.
* Phương pháp phân tích ngữ dụng, chú ý đến đặc trưng ngữ cảnh.
* Phương pháp ngữ nghĩa- cú pháp:
là phương pháp đặc trưng để
nghiên cứu cấu trúc - chức năng của các quan hệ.
* Phương pháp mô hình hoá: sử dụng phương pháp này dưới dạng các
bảng biểu, sơ đồ nhằm trình bày nội dung một cách giản lược và tiết kiệm.
* Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê số lượng TĐVB, phân
loại ngữ liệu theo chủ điểm
nghiên cứu. Trong việc khảo sát TĐVB tin tức,
phân loại theo tin tức điển hình và tin tức không điển hình.
Các học giả như Lakoff G. 1986, Brown C.H. 1990, Tversky B. 1990...
đều định nghĩa điển dạng như là “thí dụ đạt nhất của một phạm trù”, “thí dụ
8
nổi bật”, “trường hợp rõ nhất trong các thành viên phạm trù”, “đại diện tiêu
biểu nhất của các vật được bao hàm trong một lớp”, “thành viên trung tâm và
điển hình” [65].
Trong cách gọi khái niệm điển hình, luận văn cũng dựa trên cách hiểu
điển hình là đại diện tiêu biểu nhất của các vật được bao hàm trong một lớp,
là thành viên trung tâm, rõ nhất trong các thành viên phạm trù.
+ Trong nhận thức của chúng tôi, tin tức điển hình là những tin tức đề
cập đến những nội dung t
hời sự chính trị quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn
trong và ngoài nước.
dụng những đặc điểm của TĐVB tin tức vào nghiệp vụ của m
ình.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn
được cấu trúc thành hai chương:
Chương một: Đặc điểm ngôn ngữ báo chí và TĐVB báo chí.
Chương hai: Đặc điểm của TĐVB tin tức. 10
Chương 1
ĐẶC ÐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ VÀ TIÊU ÐỀ
VĂN BẢN BÁO CHÍ1.1. Đặc điểm chung của báo chí
Báo chí ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức
Tin bài là bộ phận tiêu biểu trong phong cách báo chí. Tin tức mà
báo chí cung cấp phải mang tính thời sự, khách quan và hấp dẫn.
Thời sự là những gì
xảy ra hàng ngày (tin tức cập nhật), hàng buổi
(báo buổi sáng, báo buổi chiều,...), hàng giờ (báo điện tử). Sự kiện được thông
tin nhanh, kịp thời (thông tin tức thời càng tốt) được gọi là thời sự. Trong thời
đại đầy ắp thông tin, các sự kiện được đưa tin phải có tính thời sự khẩn trương
(là những vấn đề đang được xã hội quan tâm) mới tạo được thông tin mới mẻ,
thu hút người đọc.
Tính hấp dẫn không chỉ ở sự mới lạ mà còn bởi mức độ li
ên quan
đến lợi ích, nhu cầu, sở thích của công chúng.
Dựa trên các nguyên tắc sau để xác lập những thông tin quan trọng
(thông tin theo các vòng tròn đồng tâm), trong đó lấy mỗi cá nhân là tâm
điểm:
+ Nguyên tắc quan hệ: TÔI – GIA ĐÌNH – HỌ HÀNG – BÈ BẠN –
NGƯỜI LẠ.
+ Nguyên tắc khoảng cách: TÔI – HÀNG XÓM – LÀNG XÃ –
HUYỆN – TỈNH – TRONG NƯỚC – NGOÀI NƯỚC.
Ngoài ra, tầm quan trọng còn bao gồm tính hiếu kỳ, kích cỡ sự việc,
sự vụ, tính thời gian, nhu cầu của mỗi cá nhân, mỗi thành phần xã hội.
12
1.1.3. Báo chí luôn bám sát sự kiện, phản ánh chính xác sự kiện,
lấy hiện thực khách quan làm đối tượng phản ánh
Chức năng phản ánh đòi hỏi báo chí phải chính xác, trung thực và
hấp dẫn. Tính chất khách quan trong việc thông tin sự kiện, sao cho chính các
sự kiện được thông tin một cách tự nhiên, không cố ý và không hàm chứa ý
kiến chủ quan của một cá nhân hay tập thể nào đó.
Tính chính xác trong thông tin báo chí là bám sát các sự kiện có thực
qua những vấn đề được đăng tải trên báo, những vấn đề mà công chúng và dư
luận quan tâm, báo chí tác động đến nhận thức của độc giả, định hướng dư
luận. Báo chí mở ra nhiều vấn đề kích thích, mời gọi độc giả quan tâm
, hưởng
ứng, có thể tham gia các diễn đàn, các bài phản ánh, các chuyên mục bạn đọc
viết.
Có thể nói, đặc điểm này đã nâng vị trí, tầm quan trọng của báo chí
lên một bước cao. Báo chí không chỉ đơn thuần là nơi cung cấp, đưa tin một
chiều mà còn là “chiếc cầu nối giữa báo chí và dư luận xã hội” [58]
. Chính vì
vậy, trong báo chí, tính chất “kiểm thông”, tức chức năng kiểm tra mạch
truyền thông, giữ mối liên hệ và tìm cách thu hút sự chú ý của độc giả là
phương diện ngày càng được nhiều báo quan tâm. Báo chí đã có sự cộng
hưởng từ phía độc giả, từ xã hội. Để duy trì được mạch truyền thông này, báo
chí phải luôn đưa ra những vấn đề thời sự mới mẻ, có tầm tác động rộng lớn,
hay những vấn đề gần gũi, thiết thân của đời sống hàng ngày mới thu hút sự
quan tâm
của đông đảo độc giả. Báo chí luôn biết cách không còn đơn thuần
là nơi cung cấp thông tin một cách đơn điệu mà luôn tạo cách thu hút, mời gọi
độc giả. Để thực hiện được điều này, báo chí có nhiều phương thức như cách
đặt TĐ (cách bố trí TĐ chính, TĐ phụ, TĐ bộ phận, cách bố trí không gia
n
trên tờ báo cho các TĐVB), cách sử dụng ngôn ngữ (theo từng đặc trưng thể
loại), các đoạn trích, đoạn mở đầu được đóng khung, khổ và vị trí của hình
ảnh, cách dàn trang bắt mắt nhấn mạnh chủ đề chính, các mục nằm ở vị trí
quen thuộc dễ tìm kiếm...
14
1.2. Đặc điểm chung của ngôn ngữ báo chí
Từ những đặc điểm chung của báo chí dẫn đến đặc điểm chung của
thế tính đại chúng là một trong những đặc điểm của ngôn ngữ báo chí khác
biệt so với các phong cách ngôn ngữ khác. Ngôn ngữ báo chí hàng ngày
thường xuyên thanh lọc theo tiêu chí tiếp nhận của công chúng, dễ đọc, dễ
hiểu nhưng không đi ngược với chuẩn mực của ngôn ngữ.
Tính đại chúng biểu hiện trong cách dùng từ đơn, phổ thông hơn là từ
ghép, từ vay mượn; dùng từ ngữ dễ hiểu, phổ biến hơn là từ ngữ chuyên m
ôn
sâu, từ ngữ địa phương, tiếng lóng; tránh sử dụng các kiểu câu cầu kỳ, không
phù hợp với yêu cầu ngắn gọn.
Ngôn ngữ báo chí đòi hỏi sự mạch lạc, hướng đến mọi đối tượng độc
giả, thuộc nhiều thế hệ, có trình độ và sở thích khác nhau, cung cấp những gì
độc giả dễ tiếp nhận. Cho nên ngôn ngữ báo chí
là ngôn ngữ công luận, là
tiếng nói chung cho cả cộng đồng.
1.2.3. Tính chuẩn mực
Ngôn ngữ báo chí phải là ngôn ngữ chuẩn mực, thống nhất trong toàn
quốc, đòi hỏi cách chọn lọc từ ngữ và câu chữ, cách tổ chức VB đúng yêu cầu
ngữ pháp, cách thể hiện văn phong mang tính chính xác cao, cô đúc và chuẩn
mực, cách trình bày thu hút. Chính đặc điểm này giúp báo chí phổ biến rộng
rãi đến công chúng và công chúng tiếp nhận báo chí dễ dàng hơn.
Tính chuẩn mực trong ngôn ngữ báo chí có tác dụng chuyển tải thông
tin, đạt hiệu quả cao trong gi
ao tiếp và định hướng ngôn ngữ cho đông đảo
công chúng, bạn đọc, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
1.2.4. Chính xác
Chính xác là yếu tố quan trọng đối với bất kỳ bài báo nào. Chính xác
trong nội dung thông tin sẽ giúp người đọc nắm bắt được bản chất của vấn đề-
sự kiện. Chính xác trong cách dùng ngôn ngữ, từ cách viết đúng chí
nh tả,
ngữ vay mượn tiếng nước ngoài. Đây cũng là một trong những đặc điểm của
17
báo chí, là xu thế chung của toàn xã hội, vấn đề là phải sử dụng những từ ngữ
vay mượn này theo những quy tắc thống nhất trong cách đọc, cách viết, cách
phân giới âm tiết sao cho phù hợp với loại hình ngôn ngữ tiếng Việt.
Viết hoa là một phần của chuẩn chính tả tiếng Việt. Viết hoa tăng
thêm khả năng giá trị khu biệt, tạo ra sự đối lập giữa cách viết chữ thường và
viết chữ hoa thể hiện mặt cú pháp, tu từ, ngữ nghĩa, từ đó nhấn mạnh thông
tin cần truyền tải.
Viết tắt là một dạng trình bày được chấp nhận và thường gặp trong
VB báo chí. Phương thức viết tắt giúp cách trì
nh bày ngắn gọn, tiết kiệm được
không gian trên báo. Thông tin càng nhiều càng phải sử dụng dạng tắt để
lược bỏ những lượng dư không cần thiết. Chính vì vậy, viết tắt cũng cần có
những quy tắc vừa thể hiện tính khách quan, dễ chấp nhận, dễ hiểu vừa thể
hiện sự tiện lợi. Trong xu t
hế hội nhập và toàn cầu hoá, báo chí ngày càng
xuất hiện nhiều từ viết tắt tiếng nước ngoài. Dạng viết tắt thuộc lĩnh vực ngôn
ngữ, vì thế sử dụng dạng tắt, nhất là trên báo chí, càng phải cẩn trọng để
không mất đi tính trong sáng của tiếng Việt.
Có thể nói báo chí ngày nay rất quan tâm
đến vấn đề kỹ thuật trình
bày. Trình bày không phải chỉ là việc trang trí tờ báo mà còn có hiệu quả
thông tin tác động đến người đọc. Nắm bắt được nhu cầu đó, các báo đều chú
trọng đến khâu khai thác các đặc điểm tu từ của văn tự.
1.3.2. Đặc điểm về từ vựng
Mỗi loại phong cách ngôn ngữ qui định lớp từ vựng riêng. Trong
phong cách ngôn ngữ báo chí, xem
xét đặc điểm từ vựng ở khả năng lựa chọn
hẹp ít được sử dụng trên các VB báo chí, bước đầu chỉ phục vụ trong các
chuyên ngành, nhưng dần dần có xu hướng hoà nhập vào lớp từ vựng toàn
dân, phù hợp với khả năng tiếp nhận của công chúng và ngày càng trở nên
phổ biến, thông dụng.
Lớp từ ngữ chính trị- xã hội phổ biến trên các VB báo chí. Điều này
cũng dễ hiểu vì đặc điểm
báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị- xã
hội. Lớp từ ngữ chính trị- xã hội có khả năng tác động xã hội, thích hợp với
chức năng, nhiệm vụ của báo chí.
19
Trên các VB báo càng ít xuất hiện tiếng lóng và tiếng địa phương do
không đáp ứng được yêu cầu của tính toàn dân.
1.3.2.3. Xét về mặt phong cách
Bảng phân loại các phong cách chức năng trong tiếng Việt:
Phong cách
khoa học Phong
cách
sinh
hoạt
hàng
ngày
Phong
cách
báo chí
Phong
cách
hông tin một cách cụ thể, sinh động, tạo ấn tượng thích
thú, dễ tiếp thu đối với người đọc.
Tin trên báo không chỉ là những vấn đề thời sự chính trị nóng hổi
mang màu sắc trang trọng mà còn là thông tin những vấn đề văn hoá, xã hội,
đời sống, an ninh trật tự... cho nên để làm “mềm hoá” thông tin, sử dụng từ
ngữ mang màu sắc biểu cảm là phù hợp với sự nhận t
hức của người đọc.
1.3.3. Đặc điểm về ngữ pháp
Thông tin trên báo chí thường là những thông tin ngắn gọn, chính xác
cho nên trong báo chí thường gặp loại câu đơn hai thành phần Đề- Thuyết.
20
Câu đơn chỉ có phần Thuyết (thường là được tỉnh lược thành phần Đề để tăng
cường độ tập trung thông tin, gây ấn tượng đối với người đọc) là xu hướng
phổ biến hiện nay ở các TĐVB báo chí. Kiểu câu này đáp ứng được yêu cầu
ngắn gọn tới mức tối đa mà chuyển tải được nhiều nội dung.
Hầu hết câu được dùng trong các VB báo chí là câu tường thuật. Câu
cảm, câu cầu khiến, câu nghi vấn xuất hiện trên báo với số lượng ít.
Việc tổ chức câu theo khuôn mẫu biểu cảm là đặc điểm t
hường gặp
trong phong cách báo chí. Khuôn biểu cảm có tính năng động cao, như một
mô thức tiện lợi cho người viết tổ chức thông tin và người nhận dễ dàng nắm
bắt thông tin.
1.3.4. Đặc điểm về tổ chức VB
1.3.4.1. Khuôn hình VB
VB báo chí có khuôn hình thông dụng, thường được cấu tạo theo kiểu
gồm có
phần TĐ, phần mở đầu, phần thân và phần kết.
TĐ của VB có chức năng đánh dấu đầu vào của VB và nêu nội dung
cô đọng nhất của VB. Bộ phận TĐ giữ vai trò quan trọng trong VB.
óc xích có mô hình T→ I → R được tổ chức trong VB
theo hướng duy trì hoặc phát triển chủ đề. Cấu trúc song song chứa nhiều
thông tin về những sự kiện khác nhau mang giá trị thông báo như nhau, có mô
hình T→ R
1
. (T) → R
2
. (T) → R
3
hoặc T
1
→ R
1
. T
2
→ R
2
. T
3
→ R
3
. Cấu trúc
tối giản có mô hình T→ R khi cần thông tin nhanh một vấn đề. Cấu trúc trung
tâm có mô hình I – (T→ R) –I (mô hình viên kim cương) trình bày những nội
dung quan trọng được đặt ở giữa VB. Ngoài ra, trong việc tổ chức VB báo chí
còn gặp cấu trúc đồng hồ cát có mô hình T
1
→ R
1
.
- Có tính nghệ thuật cao về mặt ngôn ngữ
- Hấp dẫn, gây sự chú ý và tò mò đối với người đọc.
1.4.1.2. Đặc trưng thể loại
Theo Dương Xuân Sơn (2004), thể loại báo chí có những đặc trưng
riêng và các tiêu chí riêng để phân định thể loại như đối tượng phản ánh trong
từng thể loại, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của tác phẩm b
áo chí, mức độ
nắm bắt hiện thực, ở các kết luận và khái quát hoá vấn đề cần phản ánh trong
tác phẩm, tính chất của phương tiện phản ánh hiện thực, văn phong, ngôn ngữ
23
cho nên nội dung của những đặc trưng riêng phải được thể hiện cụ thể trong
từng thể loại.
Chính đặc trưng phong cách và thể loại chi phối mặt tổ chức ngôn
ngữ của VB và cả TĐVB.
1.4.1.3. Độc giả
Bài báo được viết ra chủ yếu hướng vào độc giả. Không có độc giả thì
báo chí sẽ không tồn tại. Vì vậy, số lượng độc giả quyết định sự sống còn của
tờ báo. “Độc giả bị lôi cuốn bởi sự hấp dẫn của tờ báo và đặc biệt là bởi đầu
đề bài báo” [39, tr.62]. Do đó, nội dung bài báo, cách trình bày, diễn đạt và
nhất là TĐ bài báo phải phù hợp với tâm
lý tiếp nhận của độc giả.
1.4.2. Đặc điểm chung của TĐVB báo chí
1.4.2.1. Thông tin cao
TĐ được xem như là một thông điệp đầu tiên mà bài báo, tác giả gửi
tới cho người đọc, gần như quyết định đến tâm lý của người đọc, liệu họ có
tiếp tục đọc tiếp bài báo hay không.
“ Chức năng cơ bản của tiêu đề là đem lại cho người ta một quan
niệm về thực chất của bài viết” [
27]. TĐ phải rõ ràng và dễ hiểu, người đọc
thường nhớ phần nửa đầu của một câu.”[39, tr.46-47]. Như vậy, phần cuối
của một câu dễ bị quên mất. Cho nên một TĐ dài kém lợi thế hơn một TĐ
ngắn gọn, súc tích, dẫn đến nội dung bài báo có thể bị bỏ qua.
Bằng một hình thức cô đúc ngắn gọn nhất, TĐ báo chuyển tải được
một lượng thông tin tối đa. Chính tính chất nhiều ý nghĩa và nói chưa hết lời
của TĐ thu hút độc giả.
1.4.2.4. Hấp dẫn
Tính hấp dẫn thể hiện trong việc thiết kế TĐ ngắn gọn để dễ dàng
trang trí và sắp xếp t
rong khuôn khổ có hạn của trang báo, có tính nghệ thuật
cao về mặt ngôn ngữ và nội dung có yếu tố khêu gợi, gây sự chú ý và tò m
ò
đối với người đọc.
TĐ vừa là hình thức vừa là nội dung đầu tiên tiếp cận với độc giả. TĐ
hấp dẫn vì nội dung của sự kiện, vì kết cấu TĐ gây bất ngờ, vì độc giả rút ra