Những đặc điểm của chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay và xu hướng vận động của nó - Pdf 37

LUẬN VĂN:

Những đặc điểm của chủ nghĩa tư bản
hiện đại ngày nay và xu hướng vận
động của nó


I - Lời mở đầu

Dưới sự tác động của sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của kỹ thuật và công
nghệ, ngày nay lực lượng sản xuất đã có bước phát triển mạnh mẽ. Lực lượng sản
xuất thay đổi cả về tính chất và trình độ kéo theo sự thay đổi về quan hệ sản xuất. Do
đó mà trong các nước chủ nghĩa tư bản, bản chất của nó cung mang những đặcđiểm
mới.

Nhân dân ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mong muốn làm bạn với tất cả các nước
trên thế giới. Do vậy, tăng cường quan hệ với hệ thống kinh tế thế giới, tham gia phân
công lao động và cạnh tranh quốc tế đâng là đề tài quan trọngcần được làm sáng tỏ.
Hiện nay các nước tư bản phát triển vẫn đang giữ vị trí chi phối nền kinh tế thế giới.
Trên phương diện chính trị thế giới cũng như kinh tế thế giới, chủ nghĩa tư bản hiện
đại đang chiếm ưu thế. Chúng ta kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh
quốc tế như vậy nên việc hiểu thấu đáo về chủ nghĩa tư bản hiện đại là diều hết sức
cần thiết.
Hơn thế nữa, chủ nghĩa xã hội không phải bỗng dưng mà có và phát triển.
Dương nhiên nó chỉ có thể làm nên những thành tựu của mình trên cơ sở đúc kết bài
học và kinh nghiệm lịch sử, trên cơ sở phát triển của xã hội loài nguời. Nghiên cứu
những thành bai, được mất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, lấy cái tốt bỏ cái xấu của
nó là để giúp Chúng ta xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa tiến bộ hơn, ưu việt hơn tư
bản chủ nghĩa.
Do tính cấp thiết đó của đề tài, chúng em đã viết bài này. Mục đích nghiên cứu

Ví dụ, sở hữu trí tuệ được đề cao, quản lý theo mạng sẽ thay thế phương pháp
quản lý theo thứ bậc


Tuy nhiên hiện nay loài người mới ở bước quá độ. Những biểu hiện cụ thể
của bước quá độ là sự thay thế từng bước các tư liệu sản xuất truyền thống do
cuộc cách mạng công nghiệp mang lại bằng các tư liệu sản xuất hiện đại dựa trên
cơ sở của những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, mà tập trung
ở các lĩnh vực điện tử, tin học, vật liệu mới, công nghệ sinh học. . . thể hiện trong
những thiết bị siêu nhỏ, siêu nhẹ, siêu bền. . . tác động nhanh, hiệu quả cao, tiêu
tốn ít năng lượng. Các tư liệu sản xuất này hết sức đa dạng, phong phú cả vế đối
tượng lao động lẫn tư liệu lao động. Các công cụ thiết bị tự động hoá ngày càng
phát triển thay thế cho các công cụ, thiết bị cơ khí hoá. Có thể nói khái quát là
hiện đã có ba loại thiết bị biểu hiện chức năng tự động hoá. Đó là:
+ Máy tự động trong quá trình hoạt động
+ Máy công cụ điều khiển bằng số
+ Người máy. Đặc biệt là người máy(Robot) đã từng bước thay thế phần
công việc nặng nhọc, những công đoạn nguy hiểm, độc hại cho người lao động,
đồng thời đã xuất hiện những nhà máy tự động hoá do người máy điều khiển
những công đoạn cần thiết. Các quá trình lao động trí óc cũng đã bước đầu được
thử nghiệm để người máy thay thế.
Tính cách mạng của tư liệu sản xuất trước hết thể hiện ở công cụ lao động dây
chuyền đến tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất. Do vậy, phương thức sản
xuất của cải vật chất cũng có bước nhảy vọt từ kỹ thuật cơ khí sang bán tự động
và tự động và các yếu tố cơ bản của nền kinh tế tri thức đã xuất hiện.
Nguyên nhân của bước quá độ này là do tác động của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ. Chính cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những lĩnh
vực mũi nhọn được tập trung là kỹ thuật điện tử, công nghệ thông tin, vật liệu
mới, công nghệ sinh học, công nghệ hải dương. . . đã tạo ra những thành tựu mới
và được chủ nghĩa tư bản.

nhân cổ vàng”. Đó là cán bộ có trình độ chuyên môn đại học, trên đại học. Lực lượng
lao động này đang ngày càng tăng lên ở các nước tư bản phát triển.
Với nền sản xuất dần dần từng bước chuyển sang nền “ sản xuất tri thức”, vai
trò của nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng. Theo đánh giá của ngân hàng thế
giới ởNhật Bản nguồn lực con người chiếm 81% trong tổng số các nguồn lực. Còn
với Mĩ, Pháp, Đức, Italia lần lượt là 59%, 77%, 79%, 82%.
Để đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, các nước tư bản đã tăng cường đầu tư
vào việc nghiên cứu và triển khai, thực hiện hợp tác quốc tế trong những chương
trình nghiên cứu các đề tài mang tính chiến lược, thực hiện cải cách giáo dục. . .
-Về tái sản xuất sức lao động :
Do sự đầu tư vào con người để làm tăng các yếu tố tái sản xuất sức lao động cả
về vật chất lẫn tinh thần nhằm khơi dậy sự sáng tạo, phục vụ quá trình tái sản xuất tư
bản chủ nghĩa trong điều kiện mới một cách tốt hơn nên tốc độ tăng trưởng kinh tế
tăng, GDP bình quân đầu người cao, tuổi thọ bình quân và tỉ lệ người biết chữ tăng,
điều đó biểu hiện ở chỉ số HDI tăng. Theo thống kê của LHQ, chỉ số HDI của các
nước tư bản phát triển thập kỉ 90 khá cao, xấp xỉ 1. Chẳng hạn chỉ số HDI ở Nhật là
0, 98 và Canada là 0. 989.
Cùng với việc nâng cao trình độ nghề nghệp của người lao động, các nước tư
bản đã quan tâm đến các yếu tố cấu thành của gía trị hàng hoá sức lao động, thực hiện
nâng cao chất lượng cuộc sống. Chẳng hạn, thông qua sự điều tiết kinh tế, can thiệp
vào các điều kiện của quá trình tái sản xuất, đảm bảo các điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, đi
lại, học hành, vui chơi giải trí của bản thân và gia đình người lao động. Do đó xuất
hiện tầng lớp trung lưu ( bao gồm cả những người công nhân “cổ trắng”, “cổ vàng” ).
Ngoài việc thực hiện chính sách xã hội, như chính sách việc làm, bảo hiểm, trợ cấp
thất nghiệp, trợ cấp gia đình đông con chăm sóc y tế người già, trẻ em, người tàn tật. .
. nhà nước tư sản còn sử dụng các công cụ điều tiết giá cả, lạm phát, thuế, thực hiện
điều tiết phân phối lạiđể ổn định tiền lương, thu nhập. Trong giai đoạn 1981 –1990,
tỉ lệ lạm phát ở các nước tư bản phát triển trung bình 5, 5 % ( trong đó Mĩ 4, 5%, EU




quá trình sản xuất. Theo số liệu thống kê quốc tế toàn bộ cổ phần mà người lao động
ở Mĩ có được chỉ chiếm khoảng 1% toàn bộ giá trị cổ phiếu. Ví dụ ở Mĩ một doanh
nghiệp có số vốn hoạt động là 180 triệu USD, nhưng giá trị mỗi cổ phiếu bán ra cho
người lao động chỉ là 2 USD. Như vậy người lao động có nắm nhiều cổ phiếu thế nào
đi nữa cũng không đủ để giữ vị trí quan trọng trong công ty .
Ngoài hình thứccổ đông hoá một cách rộng rãi trong các tầng lớp dân cư, hiện
nay đã bước đầu xuất hiện loại hình xí nghiệp do công nhân tự quản. Chẳng hạn nhà
nước Mĩ đã “ quốc hữu hoá “ chi nhánh của GMC và giao cho công nhân tự quản còn
nhà nước chỉ tham gia hỗ trợ thông qua chính sách vĩ mô. Điều này không có nghĩa là
các nhà tư bản tự nguyện chuyển quyền sở hữu cho người lao động và càng không có
nghĩa là “ cuộc cách mạng trong sở hữu tư liệu sản xuất “ ở thời đại ngày nay sẽ diễn
ra theo cách tiến hoá như một số người đã và đang cố tình nhầm lẫn và với ý đồ muốn
phê phán “ sự lỗi thời “ của chủ nghĩa Mác theo cách nghĩ của họ.
- Trong chủ nghĩa tư bản ngày nay, sở hữu không chỉ giới hạn trong việc sở hữu
tư liệu sản xuất ( tức là sở hữu hiện vật) mà chủ yếu là sở hữu về mặt giá trị ( vốn )
dưới nhiều hình thức như vốn tự có, vốn cổ phần, vốn cho vay. Nếu như thời kì đầu
trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền
quản lí gắn làm một trong một chủ sở hữu và khi xuất hiện tư bản cho vay đã làm hai
quyền đó tách rời( tức là tư bản sở hữu tách rời tư bản chức năng ) thì trong chủ nghĩa
tư bản ngày nay sự tách rời đó càng được đẩy mạnh và lao động quản lí đã trở thành
một nghề, giám đốc thực hiện chức năng quản lí thông qua hợp đồng là thuê. Tuy
nhiên ở đây không có nghĩa là nguyên lí về quyền sở hữu quyết định quyền quản lí, vì
thế không còn giá trị, mà trái lại điều đó chỉ thể hiện sự biến thể do sự phát triển của
phân công lao động xã hội ở trình độ mới, còn vai trò quyết định cuối cùng của người
sở hữu vẫn không có sự thay đổi.
Cùng với quá trình đó còn xuât hiện nhiều hình thức sở hữu khác, như sở hữu
trí tuệ, sở hữu các công trình khoa học, bằng phát minh sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thông tin. Các hình thức này, nhất là sở hữu thông tin, đã ngày càng trở nên
quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện đại và mang tính quyết định đối với sự



Ngoài ra nguồn gốc của gía trị cổ phiếu mà họ có là do tiền lương tiết kiệm
được chứ không phải từ nguồn gốc chiếm đoạt lao động của người khác, những
phần tiết kiệm đó lại chỉ bù đắp ( thậm chí không đủ bù đắp) được phần mà họ mắc
nợ do phải đứng ra mua chịu tư bản cố định gia đình do nhà nước đứng ra điều tiết.
Trên thực tế giá trị của cái gọi là tư liệu sản xuất mà họ sở hữu nằm trong hệ thống
quản lí ngân hàng và sự khống chế của tư bản tài chính chứ họ không có quyền tự do
sử dụng theo ý riêng của mình.
Hình thức sở hữu độc quyền vẫn tồn tại nhưng không còn độc quyền thuần tuý
mà là dạng hỗn hợp và dưới hình thức sở hữu của các công ty xuyên quốc gia, hoặc
chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, tư bản tài chính.
Đây là hình thức vận động rất mới mẻ của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
mà ở thời Lênin mối chỉ có mầm mống.
+Về hình thức sở hữu độc quyền xyên quốc gia
Do quá trình tích tụ và tập trung sản xuất được đẩy mạnh hơn nữa, dưới tác động của
qui luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, cùng với những điều kiện quốc tế hoá
sản xuất, tư bản và thông tin, các tổ chức độc quyền quốc gia đã vượt biên giới quốc
gia, thực hiện kinh doanh quốc tế dưới nhiều hình thức và trở thành các công ty
xuyên quốc gia.
Khi ra ngoài biên giới quốc gia, các công ty này đã thực hiện sự liên kết để
bành trướng thế lực và khai thác tiềm năng của nước chủ nhà. Thông qua con đường
đó các công ty xuyên quốc gia ngày càng thâu tóm nhiều tư liệu sản xuất, vốn, trí tuệ
quốc tế, tạo ra nhiều hình thức sở hữu hỗn hợp mang tính quốc tế hoá. Hiện nay trên
70% các xí nghiệp chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia là các xí nghiệp liên
doanh với tỉ lệ vốn góp khác nhau, ít nhất là 2và thông thường có 3-4 chủ sở hữu
trong một xí nghiệp. Hiện nay các công ty xuyên quốc gia thường tồn tại dưới dạng
concern và CM(conglomerate) mà concern và CM là những tổ hợp đa ngành với
những mức độ khác nhau. Điều đó phản ánh tính đa dạng, phức tạp và tính hỗn hợp
và sở hữu xuyên quốc gia.

tư nhân trong trường hợp cần thiết. Song ngay trong trường hợp quốc hữu hoá hoặc


xây dựng mới bằng việc chi ngân sách nhà nước thì tính hỗn hợp của sở hữu không vì
thế mà thay đổi, vì nhà nước tư sản chẳng qua là “ nhà tư bản tập thể” hoặc chỉ là “
một công ty cổ phần” như Ăng ghen đã nhận xét.
Sự biến đổi của hình thức sở hữu trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa là
một đặc trưng rất cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày nay bởi vì sở hữu là quan hệ xã
hội của nền sản xuất, là tổng thể các quan hệ kinh tế và theo đó là tổng thể các quyền
sử dụng, chi phối, quản lí, định đoạt gắn liền với nó trong một xã hội nhất định.
Đồng thời nó cũng chính là sự thốn nhất biện chứng giữa điều kiện cần phái có của
sản xuất với mặt kết quả thực tế trong quá trình tái sản xuất. Việc biến đổi về hình
thức quan hệ sở hữu nêu trên là sự biến đổi dưới tác động của qui luật về sự phù hợp
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Do tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất, đòi hỏi quan hệ sản xuất
phải có sự biến đổi để thích ứng. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản sự hỗn hợp
hoá và quốc tế hoá theo kiểu tư bản chủ nghĩa là một sự đáp ứng đòi hỏi ấy. Đó chính
là quá trình kinh tế mang tính khách quan ngoài ý muốn chủ quan của nhà tư bản.
Sự biến đổi của hình thức sở hữu trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa để
thích ứng với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã có tác động trở lại nhất
định đến sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy sự tác động này còn có tính hạn
chế, song đây là quá trình mang tính khách quan và là xu thế vận động cơ bản trong
thời đại ngày nay. Đông thời sự biến đổi cúa hình thức sở hữu cũng đã đặt ra những
vấn đề mới đòi hỏi quan hệ quản lí và phân phối phải có sự biến đổi tương ứng.

3.2 Sự điều chỉnh về quan hệ tổ chức quản lí

Sự biến đổi về tổ chức quản lý trong nền kinh tế của CNTB hiện đại diễn ra cả
trong lĩnh vực vi mô và vĩ mô, từ trong các công ty, xí nghiệp đến hoạt động quản lý
của nhà nước tư sản. Trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công

nhanh chóng, chính xác, trong khi mô hình quản lý cũ đã làm chậm và mất tính
chuẩn của tin do việc truyền tin qua nhiều tầng lớp trong không gian từ trên xuống
dưới và ngược lại, không linh hoạt, cồng kềnh kém hiệu quả. Thể chế truyền thống đã


tỏ ra bất cập trước những vấn đề mới phát sinh như: tính nhất trí của lợi ích, sự khác
nhau về văn hoá, tuổi thọ sản phẩm…Thể chế quản lý màng lưới không co trung tâm,
mỗi một tầng quản lý trong mạng lưới, mỗi người quản lý đều là một trung tâm, giữa
chúng có mối liên hệ phức tạp giao chéo kiểu rẻ quạt. Mục tiêu quản lý của nó
không chỉ có quản lý kinh doanh, tiêu thụ, quản lý nhân viên, mà còn cả việc thiết kế
hình tượng xí nghiệp, với tôn chỉ là hoạt động có hiệu quả nhất tàI năng và ưu thế của
mỗi người trong mạng lưới công ty. Trong hình thức này, tin tức lan truyền như hệ
thống thần kinh, đảm bảo cho mọi cấp quản lý đều nhận được thông tin mới nhất và
hoàn chỉnh để đưa ra quyết sách, do đó mà có khả năng ứng phó với mọi điều kiện
sản xuất tiêu thụ sản phẩm trước mọi biến động của thị trường thế giới hiện nay.
Mô hình tổ chức quản lý của thể chế này có hai loại, theo quá trình nằm ngang
và theo kiểu “tế bào sản xuất”
 Mô hình tổ chức quản lý theo quá trình nằm ngang được xây dựng là nhằm
khắc phục những khuyết tật của kiểu quản lý truyền thống, giảm bớt nhiều
tầng lớp trung gian, chuyển từ việc lấy chức năng công việc làm hạt nhân sang
quá trình làm hạt nhân để tổ chức nhân viên. Nội dung chủ yếu của kết cấu tổ
chức quản lý theo kiểu nằm ngang là việc tập hợp những viên chức có kỹ năng
khác nhau vào một “tế bào sản xuất” để họ thấy được đầy đủ mục tiêu của một
“quả trình tác nghiệp”. Từ đó họ tự quản lý sản xuất, phát huy cao độ tinh
thần hợp tác và ưu thế của một tập thể hoàn chỉnh để giành thắng lợi trong
cạnh tranh. ở đây, đội sản xuất trỏ thành nền tảng và đảm nhiệm một quá trình
sản xuất, thực hiện tự kiểm soát, kiểm tra chất lượng sản phẩm của mình, giảm
được việc tổ chức giám sát, kiểm tra và loại bỏ được mọi hoạt động không làm
tăng giá trị của sản phẩm, kích thích thi đua hợp tác của nhân viên, tăng khả
năng tiếp xúc, cuốn hút khách hàng, do vậy mà nó hiệu quả hơn.

(hoặc hãng cung ứng) tham gia. Các xí nghiệp đều độc lập về mặt pháp luật,
nhưng về sản xuất là một chỉnh thể, về hành động thì nhất trí, mục tiêu và sự chú
ý của họ đều tập chung vào việc làm thế nào để sản phẩm có sức cạnh tranh lớn
nhất.


Thứ đến, để nâng cao hiêu quả công tác, các xí nghiệp lớn đang cải tiến cơ
chế quản lý trước đây là phân công ngành quá chi tiết, quá nhiều tầng nấc…. lần
lượt giảm bớt các tầng nấc, xoá bỏ một số ngành chức năng, hoặc phá bỏ “rào
chắn” giữa chúng, thực hiện tổng hợp hoá chức năng, cắt giảm hàng loạt nhân
viên quản lý trung gian.
Tóm lại, sự thay đổi trên thể hiện thông qua: Thứ nhất, việc chuyển từ chế độ
dự dựa trên sở hữu cổ phiếu khống chhé được thay thế bằng chế độ uỷ nhiệm, do
việc phát hành cổ phiếu với mệnh giá nhỏ, khối lượng lớn, bán rộng rãi để thu hút
nguồn vốn rộng rãi trong dân cư, làm cho cổ phiếu của công ty bị phân tán, quyền
lực khống chế của tư bản riêng biệt bằng sở hữư cổ phần đang bị lu mờ dần đi.
Thứ hai, do mức độ rủi ro trong đầu tư ngày càng cao, tư bản tiếp tục phân tán
giải ra các ngành, các công ty và cả các tập đoàn tư bản khác nhau, quyền lực lớn
sở hữu bị suy yếu, độc quyền dựa trên ý chí một vài cá nhân tư bản lớn hầu như
không còn cơ sở để tồn tại. Thứ ba, sự phát triển của kết cấu tập đoàn tư bản tài
chính mạng lưới, tạo nên quan hệ thống nhất và mâu thuẫn dựa trên mục tiêu,
hiệu quả và lợi ích của tư bản sở hữu và tư bản chức năng, là một hình thức quan
hệ kinh tế mới của tư bản tai chính. Trong kết cấu này tồn tại nhiều thế lực có sức
mạnh cân bằng và lợi ích xoắn xuýt vào nhau, vì chúng có cổ phần đan xen nhau,
các bên có sở hữu cổ phần ngang nhau, không bên nào độc quyền chiếm cổ phần
có quyền khống chế. Từ đó mà hình thành ra một hình thức tư bản tài chính tập
thể.
Quyền lực thực sự trong các tập đoàntư bản tài chính đã chuyển dần từ tay
những tư bản kếch sù cha truyền con nối, những người hoàn toàn tách rờiquá trình
sản xuất trực tiếp sang tay những người vạch đường cho doanh nghiệp phát triển

Việc kiểm soát gián tiếp thông qua cơ chế thị trường bằng cách chủ động tạo ra sự
ổn định cho hoạt động của công ty, hoặc bơm vào nó những đợt sóng xung đột
lớn trên thị trường chứng khoán, để buộc các tư bản chức năng phảI tuân theo ý
chí của chủ sở hữu tư bản lớn.
Như vậy, quyền lực thống trị của tư bản tài chính đã có sự biến đổi cho phù
hợp với quá trình xã hội sản xuất ngày càng mở rộng. Dù cho cổ phiếu có phân


tán, tư bản có được xã hội hoá, quyền lực khống chế trực tiếp đối với tư bản có
chuyển vào tay các pháp nhân kinh tế, thì lợi ích của tư bản sở hữu không vì thế
mà không đảm bảo. Tư bản tài chính ngày càng mở rộng và bành trướng thế lực
của mình ra toàn bộ nền kinh tế thé giới.
Quyền lực của tư bản tài chính còn được tăng cường hơn nữa bởi có sự dung
hợp của nhà nước với tư bản tài chính, giữa sức mạnh của tư bản tài chính với sức
mạnh của nhà nước tư sản, tạo nên hình thức mới là tư bản tài chính nhà nước.
Ngày nay tư bản tài chính nhà nước đã bao trùm hầu như toàn bộ nền kinh tế xã
hội. Chúng khống chế cả theo chiều dọc và chiều ngang, xuyên qua tất cả các xí
nghiệp, các ngành, các khu kinh tế và các quốc gia tạo thành một mạng lưới liên
hệ kinh tế chằng chịt neo chặt những mảng kinh tế chủ yếu vào một khối thống
nhất chịu sự chi đạo của tư bản tàI chính nhà nước. Từ đó mà tư bản tài chính
ngày càng bành trướng, nó tạo điều kiên thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội,
tạo ra thích ứng tương đối giữa quan hệ sản xuất TBCN với sự phát triển cao của
sức sản xuất xã hội, đồng thời cũng làm tăng nguy cơ xảy ra khủng hoảng kinh tế
toàn cầu.

3.3 Sự biến đổi trong quan hệ phân phối

Để thoát khỏi khủng hoảng, các nhà kinh tế học của CNTB, đại biểu là J. M.
Keynes đã chủ trương kích cầu bằng cách nâng cao tiêu dùng và tăng đầu tư, việc
nâng cao tiền lương và cải thiện đời sống của công nhân không những không tổn

tăng, năm 1963: 10% số hộ giàu chiếm 65% toàn bộ của cải của tất cả các gia
đình Mỹ năm đó, năm 1983 tỷ trọng cảu cải của 10% hộ giàu chiếm 68, 8%. Và
hiện nay 20% số người nghèo nhất chiếm tổng thu nhập 3, 8% trong khi đó 30%
số người giàu nhất lại chiếm tới 48%.
Như vậy, mặc dù đời sống của công nhân có được nâng lên, nhưng chênh lệch
về thu nhập và tài sản giữa công nhân và tư bản càng tăng. Việc tăng lương thực
tế, tăng mức sống của công nhân chỉ là nhằm tăng lên mức cầu hiệu quả có lợi
cho quá trình tái sản xuất của CNTB mà thôi. Do vậy, trong lòng CNTB vẫn chứa


đựng những xung đột lợi ích gay gắt, vẫn chứa đựng khả năng khủng hoảng, đòi
hỏi nhà nước phải trực tiếp tham gia vào quá trình phân phối lợi ích, mới có thể
cứu vãn được CNTB.
Điều chỉnh quan hệ lợi ích của nhà nước được diễn ra bắt đầu từ những tác
động vào thị trường sức lao động, thông qua quan hệ mua bán giữa người bán
(người lao động) và người mua (nhà tư bản). Đây là một thị trường luôn biến
động bởi mối tương quan giữa nhà tư bản và người lao động, giữa giới chủ và
người thợ, là mối quan hệ vừa thống nhất vừa mâu thuẫn không thể thay thế cho
nhau được. Sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ trao đổi, mua bán này
bằng cách quy định các mức tối thiểu, độ dài ngày lao động, số ngày nghỉ việc
trong năm, quy tắc sa thải, quy chế làm việc trong doanh nghiệp, phương tiện bảo
hộ, bằng các luật và các quy định pháp luật khác nhau.
Những biến đổi trong quan hệ lợi ích trong CNTB hiện đại đã và đang đem
lại những cải thiện mới đối với đời sống người lao động và những tiến bộ xã hội
nói chung. Sở dĩ có sự tăng thêm đó thì nói chung vì sự trao đổi sản phẩm diễn ra
ngày càng nhiều hơn, sự trao đổi này làm cho dân cư ở thành thị và nông thôn,
dân cư ở các khu vực địa lý khác nhau…. . cũng tiếp xúc với nhau nhiều hơn. Sở
dĩ có sự tăng thêm đó lại còn là vì mật độ và sự tập trung đông đúc giai cấp công
nhân, làm cho trình độ giác ngộ và ý thức về nhân phẩm của giai cấp đó được
nâng cao khiến họ có thể đấu tranh thắng lợi chống những xu hướng tham tàn của

nước mới giải quyết nổi. Quá trình quốc tế hoá sản xuất và lưu thông được đẩy mạnh,
sự phân công hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng đã làm nảy sinh những mâu thuẫn
mới mang tính quốc tế, chỉ có nhà nước mới đứng ra điều chỉnh, giải quyết và phối
hợp được các hoạt động mang tính quốc tế.
Ngoài ra, để đối phó với những biến động kinh tế, chính trị, xã hội, diễn ra
trong và ngoài nước như: khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh chạy đua kinh tế và
quốc phòng anh ninh trong việc đối đầu với phong trào giải phóng dân tộc và đối
phóvới những cuộc khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp và những khuyết tật của cơ
chế thị trường, không ngoài ai khác là nhà nước phải trực tiếp can thiệp vào các khâu


của quá trình tái sản xuất xã hội để đảm bảo cho sự vận động bình thường của nền
kinh tế.
Sự chuyển biến nền kinh tế của các nước tư bản từ nền kinh tế công nghiệp
sang nền kinh tế thông tin đã làm thay căn bản môi trường hoạt động của nhà nước.
Chính sách thuế khoá và những quy định về đầu tư cũng như các chính sách kinh tế
nói chung cần phải đáp ưng được nhiều hơn bao giờ hết các thông số của nền kinh tế
thế giới toàn cầu hoá. Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật đã mở ra những cơ hội mới cho phép mở rộng vai trò của thị trường. Những
thay đổi này làm cho chính phủ có một vai trò mới va khác biệt. Nó không còn là
người đảm bảo độc nhất nữa mà trở thành người tạo điều kiện và người điều tiết hoạt
động xã hội.
Cuộc cải cách hành chính được thực hiện trên cơ sở xác định lại vai trò của
nhà nước. Mục tiêu của cuộc cải cách hành chính là thực hiện “chính phủ gọn nhẹ”,
cơ cấu lại bộ máy chính quyền trung ương, thực hiện phi tập trung hoá, phân cấp
mạnh mẽ hơn cho chính quyền địa phương. Chính phủ trước đây vừa là người cầm lái
vừa là người bơi chèo con thuyền quốc gia. Ngày nay, cầm lái và bơi chèo được tách
riêng ra. Chính phủ cầm lái chứ không phải là bơi chèo. Việc cầm lái đòi hỏi phải có
những người nhìn nhận được toàn bộ tổng thể các vấn đề và các khả năng có thể cân
đối được các yêu cầu trái ngược nhau về nguồn lực. Việc bơi chèo đòi hỏi phải có

Tuy nhiên, tự do hoá trong khu vực tài chính không giống với phi điều tiết. Có những
lý do xác đáng để điều tiết ngân hàng. Nhưng mục tiêu điều tiết đã được thay đổi,
trước kia điều tiết ngân hàng là do tín dụng chạy theo các kênh được yêu thích, còn
nay là để bảo vệ sức mạnh của hệ thống tài chính ngân hàng.

4. 3. Thứ ba, điều tiết mở rộng cạnh tranh các ngành dịch vụ công cộng

Điều tiết của nhà nước có vai trò nổi bật đối với vai trò của các ngành dịch vụ
công cộng. Điều đó là sự thay đổi có tích chất cách mạng về công nghệ và tổ chức
chứ không chỉ do những chuyển biến có ý thức về chính sách. Lập luận về sự điều tiết


các ngành dịch vụ công cộng thường thấy rõ ràng. Các ngành dịch vụ có những độc
quyền tự nhiên. Do đó, nếu chúng không điều tiết thì các tư nhân làm dịch vụ sẽ trở
thành độc quyền, hạn chế sản lượng và làm tăng giá cả, gây tác hại cho tính hiệu quả
trong toàn bộ nền kinh tế và việc phân phối thu nhập.
Những tài sản của một ngành dịch vụ là nhân tố quyết định đối với hoạt động
kinh doanh của ngành đó và không thể được tái triển khai sử dụng cho những mục
đích khác. Điều này khiến các ngành dịch vụ đặc biệt dễ tổn thương trước các hoạt
động điều tiết của nhả nước.

4. 4. Thứ tư, cải cách cơ chế kinh tế và thay đổi mô hình kinh tế

Chế độ xã hội cơ bản của các nước phương Tây là chế độ tư bản chủ nghĩa và
nền kinh tế của nó là nền kinh tế thi trường tư bản chủ nghĩa phát triển. Nhưng tình
hình các nước không giống nhau, cơ chế kinh tế của họ cũng có sự khác nhau, mô
hình kinh tế của mỗi nước có nét độc đáo riêng của mình.
Giai đoạn CNTB độc quyền nhà nước sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ yếu
do quan hệ nhà nước và thị trường, cũng như do phương châm, chính sách, phương
thức và trọng điểm nhà nước can thiệp vào kinh tế ở mỗi nước một khác, mà hình

quyền lực của Trung ương cho địa phương, để địa phương đảm nhiệm nhiều hơn các
nhiệm vụ y tế, giáo dục đào tạo…. cải cách chế độ mậu dịch đối ngoại, giảm bớt các
rào chắn, thúc đẩy tụ do hoá.
Tất nhiên, để điều chỉnh, nhà nước tư bản độc quyền cũng đã cải cách bộ máy và
các công cụ điều tiết của mình.
Dưới bộ máy còn có các tiểu ban được tổ chức theo những hình thức khác nhau,
thực hiện “tư vấn”, “khuyến nghị” để “lái” đường lối theo mục tiêu riêng của các tổ
chức độc quyền.
Cùng với bộ máy điều chỉnh, nhà nước còn sử dụng các phương tiện công cụ điều tiết
như: khu vực kinh tế thuộc sở hữu của nhà nước, các công cụ hành chính pháp luật,
các chính sách và các đòn bẩy kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu đã định.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status