Những đặc điểm của chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay và xu hướng vận động của nó - Pdf 25

I - Lời mở đầu
Dới sự tác động của sự phát triển mạnh mẽ nh vũ bão của kỹ thuật
và công nghệ, ngày nay lực lợng sản xuất đã có bớc phát triển mạnh mẽ.
Lực lợng sản xuất thay đổi cả về tính chất và trình độ kéo theo sự thay đổi
về quan hệ sản xuất. Do đó mà trong các nớc chủ nghĩa t bản, bản chất của
nó cung mang những đặcđiểm mới.
Nhân dân ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nớc, xây dựng
nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, mong muốn làm
bạn với tất cả các nớc trên thế giới. Do vậy, tăng cờng quan hệ với hệ
thống kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động và cạnh tranh quốc tế
đâng là đề tài quan trọngcần đợc làm sáng tỏ. Hiện nay các nớc t bản phát
triển vẫn đang giữ vị trí chi phối nền kinh tế thế giới. Trên phơng diện
chính trị thế giới cũng nh kinh tế thế giới, chủ nghĩa t bản hiện đại đang
chiếm u thế. Chúng ta kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh
quốc tế nh vậy nên việc hiểu thấu đáo về chủ nghĩa t bản hiện đại là diều
hết sức cần thiết.
Hơn thế nữa, chủ nghĩa xã hội không phải bỗng dng mà có và phát
triển. Dơng nhiên nó chỉ có thể làm nên những thành tựu của mình trên cơ
sở đúc kết bài học và kinh nghiệm lịch sử, trên cơ sở phát triển của xã hội
loài nguời. Nghiên cứu những thành bai, đợc mất của chủ nghĩa t bản hiện
đại, lấy cái tốt bỏ cái xấu của nó là để giúp Chúng ta xây dựng chế độ xã
hội chủ nghĩa tiến bộ hơn, u việt hơn t bản chủ nghĩa.
Do tính cấp thiết đó của đề tài, chúng em đã viết bài này. Mục đích
nghiên cứu của đề tài là làm rõ những đặc điểm của chủ nghĩa t bản
hiện đại ngày nay và xu hớng vận động của nó.
II - Đặc trng của chủ nghĩa t bản hiện đại ngày nay

1. Khái niệm về chủ nghĩa t bản hiện đại ngày nay
Chủ nghĩa t bản ngày nay là giai đoạn hiện nay của chủ nghĩa t bản
độc quyền(chủ nghĩa t bản hiện đại)nằm trong phơng thức sản xuất t bản
chủ nghĩa, đợc phân tích kể tì sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay,

càng phát triển thay thế cho các công cụ, thiết bị cơ khí hoá. Có thể
nói khái quát là hiện đã có ba loại thiết bị biểu hiện chức năng tự động
hoá. Đó là:
+ Máy tự động trong quá trình hoạt động
+ Máy công cụ điều khiển bằng số
+ Ngời máy. Đặc biệt là ngời máy(Robot) đã từng bớc thay thế
phần công việc nặng nhọc, những công đoạn nguy hiểm, độc hại cho
ngời lao động, đồng thời đã xuất hiện những nhà máy tự động hoá do
ngời máy điều khiển những công đoạn cần thiết. Các quá trình lao
động trí óc cũng đã bớc đầu đợc thử nghiệm để ngời máy thay thế.
Tính cách mạng của t liệu sản xuất trớc hết thể hiện ở công cụ lao
động dây chuyền đến tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất. Do
vậy, phơng thức sản xuất của cải vật chất cũng có bớc nhảy vọt từ kỹ
thuật cơ khí sang bán tự động và tự động và các yếu tố cơ bản của nền
kinh tế tri thức đã xuất hiện.
Nguyên nhân của bớc quá độ này là do tác động của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ. Chính cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ với những lĩnh vực mũi nhọn đợc tập trung là kỹ thuật điện
tử, công nghệ thông tin, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ
hải dơng. . . đã tạo ra những thành tựu mới và đợc chủ nghĩa t bản.
1. Hiện nay thế giới có khoảng 500000 ngời máy công nghiệp và đ-
ợc tập chung ở những nớc t bản phát triển. Tỷ lệ ngời máy trên một vạn
2
dân của Thụy Điển là 8, Nhật Bản: 6, Mỹ: 2, Cộng hoà liên bang Đức:
1, 5
2. Tỷ lệ này có sự khác nhau ở các nớc. Chẳn hạn ở Pháp số công
nhân làm việc trên máy hoàn toàn tự động chiếm 15, 7% tổng số công
nhân trong các ngành công nghiệp.
áp dụng một cách hiệu quả để tạo ra cái cốt vật chất mới thay cho
đại công nghiệp cơ khí. Vai trò khoa học ở đây rất to lớn. Nó đã thực

những chơng trình nghiên cứu các đề tài mang tính chiến lợc, thực hiện cải
cách giáo dục. . .
-Về tái sản xuất sức lao động :
Do sự đầu t vào con ngời để làm tăng các yếu tố tái sản xuất sức lao
động cả về vật chất lẫn tinh thần nhằm khơi dậy sự sáng tạo, phục vụ quá
trình tái sản xuất t bản chủ nghĩa trong điều kiện mới một cách tốt hơn
nên tốc độ tăng trởng kinh tế tăng, GDP bình quân đầu ngời cao, tuổi thọ
bình quân và tỉ lệ ngời biết chữ tăng, điều đó biểu hiện ở chỉ số HDI tăng.
Theo thống kê của LHQ, chỉ số HDI của các nớc t bản phát triển thập kỉ
90 khá cao, xấp xỉ 1. Chẳng hạn chỉ số HDI ở Nhật là 0, 98 và Canada là
0. 989.
3
Cùng với việc nâng cao trình độ nghề nghệp của ngời lao động, các
nớc t bản đã quan tâm đến các yếu tố cấu thành của gía trị hàng hoá sức
lao động, thực hiện nâng cao chất lợng cuộc sống. Chẳng hạn, thông qua
sự điều tiết kinh tế, can thiệp vào các điều kiện của quá trình tái sản xuất,
đảm bảo các điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, đi lại, học hành, vui chơi giải trí
của bản thân và gia đình ngời lao động. Do đó xuất hiện tầng lớp trung lu (
bao gồm cả những ngời công nhân cổ trắng, cổ vàng ). Ngoài việc
thực hiện chính sách xã hội, nh chính sách việc làm, bảo hiểm, trợ cấp thất
nghiệp, trợ cấp gia đình đông con chăm sóc y tế ngời già, trẻ em, ngời tàn
tật. . . nhà nớc t sản còn sử dụng các công cụ điều tiết giá cả, lạm phát,
thuế, thực hiện điều tiết phân phối lạiđể ổn định tiền lơng, thu nhập.
Trong giai đoạn 1981 1990, tỉ lệ lạm phát ở các nớc t bản phát triển
trung bình 5, 5 % ( trong đó Mĩ 4, 5%, EU 6, 6%, Nhật Bản 1, 9%), giai
đoạn 1991-2000 tỉ lệ đó là 2, 2%, trong đó năm 1991 : 4, 5%, 1998: 1,
4%, 1999:1, 1%.
Sự quan tâm đến điều kiện tái sản xuất sức lao động của chủ nghĩa
t bản một mặt liên quan đến tiêu dùng có tính sản xuất và có thể nói nó
cũng giống nh sự quan tâm của nhà t bản đến máy móc thiết bị, vì đó là t

cổ phiếu bán ra cho ngời lao động chỉ là 2 USD. Nh vậy ngời lao động có
4
nắm nhiều cổ phiếu thế nào đi nữa cũng không đủ để giữ vị trí quan trọng
trong công ty .
Ngoài hình thứccổ đông hoá một cách rộng rãi trong các tầng lớp
dân c, hiện nay đã bớc đầu xuất hiện loại hình xí nghiệp do công nhân tự
quản. Chẳng hạn nhà nớc Mĩ đã quốc hữu hoá chi nhánh của GMC và
giao cho công nhân tự quản còn nhà nớc chỉ tham gia hỗ trợ thông qua
chính sách vĩ mô. Điều này không có nghĩa là các nhà t bản tự nguyện
chuyển quyền sở hữu cho ngời lao động và càng không có nghĩa là cuộc
cách mạng trong sở hữu t liệu sản xuất ở thời đại ngày nay sẽ diễn ra
theo cách tiến hoá nh một số ngời đã và đang cố tình nhầm lẫn và với ý đồ
muốn phê phán sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác theo cách nghĩ của họ.
- Trong chủ nghĩa t bản ngày nay, sở hữu không chỉ giới hạn trong
việc sở hữu t liệu sản xuất ( tức là sở hữu hiện vật) mà chủ yếu là sở hữu
về mặt giá trị ( vốn ) dới nhiều hình thức nh vốn tự có, vốn cổ phần, vốn
cho vay. Nếu nh thời kì đầu trong quá trình phát triển của chủ nghĩa t bản
quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền quản lí gắn làm một trong một chủ
sở hữu và khi xuất hiện t bản cho vay đã làm hai quyền đó tách rời( tức là
t bản sở hữu tách rời t bản chức năng ) thì trong chủ nghĩa t bản ngày nay
sự tách rời đó càng đợc đẩy mạnh và lao động quản lí đã trở thành một
nghề, giám đốc thực hiện chức năng quản lí thông qua hợp đồng là thuê.
Tuy nhiên ở đây không có nghĩa là nguyên lí về quyền sở hữu quyết định
quyền quản lí, vì thế không còn giá trị, mà trái lại điều đó chỉ thể hiện sự
biến thể do sự phát triển của phân công lao động xã hội ở trình độ mới,
còn vai trò quyết định cuối cùng của ngời sở hữu vẫn không có sự thay
đổi.
Cùng với quá trình đó còn xuât hiện nhiều hình thức sở hữu khác,
nh sở hữu trí tuệ, sở hữu các công trình khoa học, bằng phát minh sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, thông tin. Các hình thức này, nhất là sở hữu

có thực quyền chi phối cái mà mình sở hữu ( với những mức độ nhát định).
Đồng thời cũng cần phân biệt về mặt lợng cũng nh mối quan hệ biện
chứng giữa lợng và chất.
Ngoài ra nguồn gốc của gía trị cổ phiếu mà họ có là do tiền lơng tiết
kiệm đợc chứ không phải từ nguồn gốc chiếm đoạt lao động của ngời
khác, những phần tiết kiệm đó lại chỉ bù đắp ( thậm chí không đủ bù đắp)
đợc phần mà họ mắc nợ do phải đứng ra mua chịu t bản cố định gia đình
do nhà nớc đứng ra điều tiết. Trên thực tế giá trị của cái gọi là t liệu sản
xuất mà họ sở hữu nằm trong hệ thống quản lí ngân hàng và sự khống chế
của t bản tài chính chứ họ không có quyền tự do sử dụng theo ý riêng của
mình.
Hình thức sở hữu độc quyền vẫn tồn tại nhng không còn độc quyền
thuần tuý mà là dạng hỗn hợp và dới hình thức sở hữu của các công ty
xuyên quốc gia, hoặc chủ nghĩa t bản độc quyền nhà nớc, t bản tài chính.
Đây là hình thức vận động rất mới mẻ của quan hệ sản xuất t bản
chủ nghĩa mà ở thời Lênin mối chỉ có mầm mống.
+Về hình thức sở hữu độc quyền xyên quốc gia
Do quá trình tích tụ và tập trung sản xuất đợc đẩy mạnh hơn nữa, dới tác
động của qui luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa t bản, cùng với những điều
kiện quốc tế hoá sản xuất, t bản và thông tin, các tổ chức độc quyền quốc
gia đã vợt biên giới quốc gia, thực hiện kinh doanh quốc tế dới nhiều hình
thức và trở thành các công ty xuyên quốc gia.
Khi ra ngoài biên giới quốc gia, các công ty này đã thực hiện sự liên
kết để bành trớng thế lực và khai thác tiềm năng của nớc chủ nhà. Thông
qua con đờng đó các công ty xuyên quốc gia ngày càng thâu tóm nhiều t
liệu sản xuất, vốn, trí tuệ quốc tế, tạo ra nhiều hình thức sở hữu hỗn hợp
mang tính quốc tế hoá. Hiện nay trên 70% các xí nghiệp chi nhánh của
các công ty xuyên quốc gia là các xí nghiệp liên doanh với tỉ lệ vốn góp
khác nhau, ít nhất là 2và thông thờng có 3-4 chủ sở hữu trong một xí
nghiệp. Hiện nay các công ty xuyên quốc gia thờng tồn tại dới dạng

nhiêu thì nó lại biến thành nhà t bản tập thể thực sự bấy nhiêu.
Sở hữu độc quyền nhà nớc đợc hình thành thông qua nhiều con đ-
ờng khác nhau trong đó có quốc hữu hoá các xí nghiệp của t bản t nhân,
xây dựng mới bằng việc chi ngân sách nhà nớc, góp vốn cổ phần và mua
lại một phần xí nghiệp t bản t nhân trong trờng hợp cần thiết. Song ngay
trong trờng hợp quốc hữu hoá hoặc xây dựng mới bằng việc chi ngân sách
nhà nớc thì tính hỗn hợp của sở hữu không vì thế mà thay đổi, vì nhà nớc
t sản chẳng qua là nhà t bản tập thể hoặc chỉ là một công ty cổ phần
nh Ăng ghen đã nhận xét.
Sự biến đổi của hình thức sở hữu trong quan hệ sản xuất t bản chủ
nghĩa là một đặc trng rất cơ bản của chủ nghĩa t bản ngày nay bởi vì sở
hữu là quan hệ xã hội của nền sản xuất, là tổng thể các quan hệ kinh tế và
theo đó là tổng thể các quyền sử dụng, chi phối, quản lí, định đoạt gắn liền
với nó trong một xã hội nhất định. Đồng thời nó cũng chính là sự thốn
nhất biện chứng giữa điều kiện cần phái có của sản xuất với mặt kết quả
thực tế trong quá trình tái sản xuất. Việc biến đổi về hình thức quan hệ sở
hữu nêu trên là sự biến đổi dới tác động của qui luật về sự phù hợp giữa
lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Do tính chất xã hội hóa cao của lực lợng sản xuất, đòi hỏi quan hệ
sản xuất phải có sự biến đổi để thích ứng. Trong điều kiện của chủ nghĩa t
bản sự hỗn hợp hoá và quốc tế hoá theo kiểu t bản chủ nghĩa là một sự đáp
ứng đòi hỏi ấy. Đó chính là quá trình kinh tế mang tính khách quan ngoài
ý muốn chủ quan của nhà t bản.
Sự biến đổi của hình thức sở hữu trong quan hệ sản xuất t bản chủ
nghĩa để thích ứng với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất đã có tác
động trở lại nhất định đến sự phát triển của lực lợng sản xuất. Tuy sự tác
động này còn có tính hạn chế, song đây là quá trình mang tính khách quan
và là xu thế vận động cơ bản trong thời đại ngày nay. Đông thời sự biến
đổi cúa hình thức sở hữu cũng đã đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi quan hệ
quản lí và phân phối phải có sự biến đổi tơng ứng.

quản lý vào công ty mẹ theo kiểu kim tự tháp sang các công ty chi
nhánh, các đơn vị sản xuất theo kiểu màng lới. Nh A. Toffer nhận xét:
Tổ chức quản lý theo kiểu hình tháp, cồng kềnh và quan liêu, hiện đang
bị các công ty chạy đua giải thể đã làm cho các loại hình tổ chức mới
theo kiểu ma trận, nhóm dự án ngày càng đợc đề cao và a chuộng, đây sẽ
là loại hình tổ chức quản lý chủ yếu của xã hội dựa trên tri thức.
Bởi vì trong xã hội thông tin ngày nay, sự truyền đạt tin tức quản lý
phải đợc nhanh chóng, chính xác, trong khi mô hình quản lý cũ đã làm
chậm và mất tính chuẩn của tin do việc truyền tin qua nhiều tầng lớp trong
không gian từ trên xuống dới và ngợc lại, không linh hoạt, cồng kềnh kém
hiệu quả. Thể chế truyền thống đã tỏ ra bất cập trớc những vấn đề mới
phát sinh nh: tính nhất trí của lợi ích, sự khác nhau về văn hoá, tuổi thọ
sản phẩmThể chế quản lý màng lới không co trung tâm, mỗi một tầng
quản lý trong mạng lới, mỗi ngời quản lý đều là một trung tâm, giữa
chúng có mối liên hệ phức tạp giao chéo kiểu rẻ quạt. Mục tiêu quản lý
của nó không chỉ có quản lý kinh doanh, tiêu thụ, quản lý nhân viên, mà
còn cả việc thiết kế hình tợng xí nghiệp, với tôn chỉ là hoạt động có hiệu
quả nhất tàI năng và u thế của mỗi ngời trong mạng lới công ty. Trong
hình thức này, tin tức lan truyền nh hệ thống thần kinh, đảm bảo cho mọi
cấp quản lý đều nhận đợc thông tin mới nhất và hoàn chỉnh để đa ra quyết
sách, do đó mà có khả năng ứng phó với mọi điều kiện sản xuất tiêu thụ
sản phẩm trớc mọi biến động của thị trờng thế giới hiện nay.
8
Mô hình tổ chức quản lý của thể chế này có hai loại, theo quá trình
nằm ngang và theo kiểu tế bào sản xuất
Mô hình tổ chức quản lý theo quá trình nằm ngang đợc xây dựng là
nhằm khắc phục những khuyết tật của kiểu quản lý truyền thống,
giảm bớt nhiều tầng lớp trung gian, chuyển từ việc lấy chức năng
công việc làm hạt nhân sang quá trình làm hạt nhân để tổ chức nhân
viên. Nội dung chủ yếu của kết cấu tổ chức quản lý theo kiểu nằm

nhân lực con ngời mang lại một tác động mạnh mẽ hơn nhiều mặt về
thành tựu so với việc mua sắm các kỹ thuật tiên tiến hơn từ các máy
cộng cụ điều khiển bằng chơng trình số cho tới các hệ thống sản xuất
linh hoạt.
Trớc hết, các xí nghiệp lớn ngày càng thực hiện chế độ cung ứng
(hoặc chế độ khoán), giao một số linh kiện hoặc giai đoạn nào đó của
sản phẩm cho các xí nghiệp khác hoàn thành. Cách làm này đã có từ
lâu. Chỗ khác nhau giữa chế độ cung ứng mới hiện nay và trớckia là ở
chỗ, chẳng những các hãng chế tạo lớn khoán việc sản xuất mà còn
khoán toàn bộ công tác nghiên cứu khoa học, chế tạp thử cho tới sản
xuất những linh kiện đó cho các xí nghiệp khác, từ đó hình thành nên
mạng lới xí nghiệp do hãng chế tạo lớn cầm đầu, có nhiều hãng nhận
khoán (hoặc hãng cung ứng) tham gia. Các xí nghiệp đều độc lập về
9
mặt pháp luật, nhng về sản xuất là một chỉnh thể, về hành động thì
nhất trí, mục tiêu và sự chú ý của họ đều tập chung vào việc làm thế
nào để sản phẩm có sức cạnh tranh lớn nhất.
Thứ đến, để nâng cao hiêu quả công tác, các xí nghiệp lớn đang cải
tiến cơ chế quản lý trớc đây là phân công ngành quá chi tiết, quá nhiều
tầng nấc. lần lợt giảm bớt các tầng nấc, xoá bỏ một số ngành chức
năng, hoặc phá bỏ rào chắn giữa chúng, thực hiện tổng hợp hoá chức
năng, cắt giảm hàng loạt nhân viên quản lý trung gian.
Tóm lại, sự thay đổi trên thể hiện thông qua: Thứ nhất, việc chuyển
từ chế độ dự dựa trên sở hữu cổ phiếu khống chhé đợc thay thế bằng
chế độ uỷ nhiệm, do việc phát hành cổ phiếu với mệnh giá nhỏ, khối l-
ợng lớn, bán rộng rãi để thu hút nguồn vốn rộng rãi trong dân c, làm
cho cổ phiếu của công ty bị phân tán, quyền lực khống chế của t bản
riêng biệt bằng sở hữ cổ phần đang bị lu mờ dần đi. Thứ hai, do mức
độ rủi ro trong đầu t ngày càng cao, t bản tiếp tục phân tán giải ra các
ngành, các công ty và cả các tập đoàn t bản khác nhau, quyền lực lớn

ích hơn của tập đoàn. Quan hệ giữa chúng trớc tiên là quan hệ đối tác
đợc quyết định trên thị trờng và do các quy luật của thị trờng chi phối.
Song quan hệ cạnh tranh ở đây không phải là cạnh tranh thuần tuý, mà
là quan hệ cạnh tranh giữa các bộ phận có sự lệ thuộc lẫn nhau chịu sự
10
chỉ đạo điều khiển từ trung tâm, đảm bảo cho các bộ phận chóp bu của
tập đoàn khống chế đợc bộ phận ngoại vi để thu lợi nhuận cao hơn.
Mặt khác, nó còn bảo vệ cho các bộ phận đó không bị bóp chết trong
cạnh tranh, đợc nâng đỡ định hớng trong kinh doanh. Tuy vậy, các bộ
phận của tập đoàn cũng có tính độc lập tơng đối của nó với bộ phận
chóp bu, chúng cũng bị đào thải khi kinh doanh không hiệu quả, hoặc
trở thành bộ phận chủ đạo khi chúng kinh doanh có hiệu quả và phát
triển mạnh lên.
Việc kiểm soát trong tập đoàn của nhà t bản sở hữu lớn vừa có tính
trực tiếp, lại vừa có tính gián tiếp. Việc kiểm soát trực tiếp đợc thực
hiện bằng cách sử dụng cổ phần khống chế để can thiệp vào xí nghiệp
và các công ty thành viên. Việc kiểm soát gián tiếp thông qua cơ chế
thị trờng bằng cách chủ động tạo ra sự ổn định cho hoạt động của công
ty, hoặc bơm vào nó những đợt sóng xung đột lớn trên thị trờng chứng
khoán, để buộc các t bản chức năng phảI tuân theo ý chí của chủ sở
hữu t bản lớn.
Nh vậy, quyền lực thống trị của t bản tài chính đã có sự biến đổi cho
phù hợp với quá trình xã hội sản xuất ngày càng mở rộng. Dù cho cổ
phiếu có phân tán, t bản có đợc xã hội hoá, quyền lực khống chế trực
tiếp đối với t bản có chuyển vào tay các pháp nhân kinh tế, thì lợi ích
của t bản sở hữu không vì thế mà không đảm bảo. T bản tài chính ngày
càng mở rộng và bành trớng thế lực của mình ra toàn bộ nền kinh tế
thé giới.
Quyền lực của t bản tài chính còn đợc tăng cờng hơn nữa bởi có sự
dung hợp của nhà nớc với t bản tài chính, giữa sức mạnh của t bản tài

cao, kết cấu tiêu dùng của công nhân cũng có sự thay đổi lớn, tỷ lệ chi
cho ăn, mặc giảm xuống, chi cho cải thiện đời sống tăng lên. Hiện nay
không còn hiện tợng thiếu ăn thiếu mặc (trừ những trờng hợp cá biệt
do nghiện ngập, bệnh tâm thần. ). Việc sử dùng hàng tiêu dùng lâu
bền nh điện thoại, vô tuyến, máy giặt, ô tô, nhà ở. . . đều tăng lên và đ-
ợc cảI thiện rất nhiều.
Tuy nhiên, tơng quan giữa việc nâng cao chất lợng cuộc sống của
ngời công nhân với việc nâng cao khối lợng lợi nhuận của nhà t bản là
tơng quan cùng chiều nhng không cùng mức độ. Thu nhập của nhà t
bản tăng nhanh hơn thu nhập thực tế của ngời lao động. Đức, trong
thời gian 1980 -1989 thu nhập tiền lơng của ngời lao động làm thuê
tăng bình quân hàng năm là 3, 7%, thu nhập kinh doanh xí nghiệp và
tài sản bình quân hàng năm tăng 7, 4%. Theo báo cáo tổng thống Mỹ
1992 cho thấy, thu nhập bình quân của 20% hộ ở bậc cao nhất so với
20% hộ ở bậc thấp nhất chênh lệch 44, 8 lần (trớc khi nhà nớc tái phân
phối) 34, 4 lần (sau khi điều tiết qua thuế) 6, 6 lần (sau khi điều tiết
qua thuế và các khoản trích nộp khác). ở Anh, khoảng chênh lệch giữa
các hộ giàu và hộ nghèo là 3, 8 lần. Mức độ chiếm dụng tài sản của các
hộ giàu ở Mỹ ngày càng tăng, năm 1963: 10% số hộ giàu chiếm 65%
toàn bộ của cải của tất cả các gia đình Mỹ năm đó, năm 1983 tỷ trọng
cảu cải của 10% hộ giàu chiếm 68, 8%. Và hiện nay 20% số ngời
nghèo nhất chiếm tổng thu nhập 3, 8% trong khi đó 30% số ngời giàu
nhất lại chiếm tới 48%.
Nh vậy, mặc dù đời sống của công nhân có đợc nâng lên, nhng
chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa công nhân và t bản càng tăng.
Việc tăng lơng thực tế, tăng mức sống của công nhân chỉ là nhằm tăng
lên mức cầu hiệu quả có lợi cho quá trình tái sản xuất của CNTB mà
thôi. Do vậy, trong lòng CNTB vẫn chứa đựng những xung đột lợi ích
gay gắt, vẫn chứa đựng khả năng khủng hoảng, đòi hỏi nhà nớc phải
trực tiếp tham gia vào quá trình phân phối lợi ích, mới có thể cứu vãn

trình xã hội hoá sản xuất là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ
nghĩa xã hội. Sự điều chỉnh này là một quá trình khách quan buộc các
nhà t sản phải đa ra những hình thức quan hệ sản xuất thích hợp, vừa là
để thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển, đảm bảo lợi ích của t bản độc
quyền, vừa là để làm dịu bớt những mâu thuẫn căng thẳng xã hội, duy
trì sự tồn tại và phát triển của CNTB.
4. Sự điều tiết kinh tế của nhà nớc t sản hiện đại, xu h-
ớng biến đổi cơ chế
Nguyên nhân sâu xa của việc tăng cờng vai trò điều chỉnh của nhà
nớc t bản bắt nguồn từ sự phát triển nhanh chóng của lực lợng sản xuất dới
tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, khiến trình độ xã hội
hoá tăng lên một cách mạnh mẽ, làm cho độc quyền t nhân không thể
thích ứng nổi. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã đa tới sự ra đời
của nhiều ngành mới nh: điện tử, năng lợng, hàng không vũ trụ. Phát triển
những ngành này một mặt đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn, cơ sở hạ tầng
hiện đại, đội ngũ những ngời lao động lành nghề co tri thức cao đợc đào
tạo toàn diện, trong khi điều này các nhà t bản không thể tự giảI quyết dợc
và mặt khác, chính sự ra đời của những ngành sản xuất mới đòi hỏi các
quốc gia phải có chiến lợc kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ để định
hớng cho sự phát triển, đồng thời nó còn đòi hỏi những khoản đầu t lớn
cho việc nghiên cứu khai triển, đào tạo và đào tạo lại, xây dựng kết cấu hạ
tầng mới. Những việc này chỉ có nhà nớc mới giải quyết nổi. Quá trình
quốc tế hoá sản xuất và lu thông đợc đẩy mạnh, sự phân công hợp tác
quốc tế ngày càng sâu rộng đã làm nảy sinh những mâu thuẫn mới mang
tính quốc tế, chỉ có nhà nớc mới đứng ra điều chỉnh, giải quyết và phối
hợp đợc các hoạt động mang tính quốc tế.
Ngoài ra, để đối phó với những biến động kinh tế, chính trị, xã hội,
diễn ra trong và ngoài nớc nh: khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh chạy
đua kinh tế và quốc phòng anh ninh trong việc đối đầu với phong trào giải
phóng dân tộc và đối phóvới những cuộc khủng hoảng kinh tế, nạn thất

đợc thay bằng một nhà nớc cai trị mạnh vì nó chỉ làm cái việc quyết
định và lãnh đạo và việc thực hiện giao nhiệm vụ cho ngời khác.
Mục tiêu của sự điều tiết kinh tế nhà nớc t bản độc quyền là nhằm khắc
phục những khuyết tật của kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa, định hớng cho
sự phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng trởng kinh tế, đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của chủ nghĩa t bản, giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh
trong quá trình phát triển, thúc đẩy cạnh tranh và kích thích cạnh tranh.
4. 1. Trớc hết, bắt đầu từ những năm 1980, các nớc phơng Tây lần lợt
bắt tay thực hiện t nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh.
Bởi vì hiệu quả phần lớn của xí nghiệp quốc doanh không cao, tài
chính quốc gia phải chịu gánh nặng; năng suất lao động của các xí nghiệp
quốc doanh thấp khó mà đơng đầu đợc cạnh tranh quốc tế gay gắt; trớc
trào lu thông tin hoá từ công nghệ đến quản lý, các xí nghiệp quốc doanh
đều tỏ ra rất lạc hậu. Họ cho rằng, con đờng duy nhất để cứu vãn cục diện
đó là thực hiện t nhân hoá.
4. 2. Thứ hai, nhà nớc chuyển từ kiểm soát sang điều tiết thận trọng
trong lĩnh vực tài chính theo hớng tự do hoá.
Khu vực tài chính đã thay đổi nhanh chóng. Sự phát triển theo chiều
sâu của khu vực tài chính của một nớc là nhân tố hùng mạnh quy định và
thúc đẩy sự phát triển. Tuy nhiên, tự do hoá trong khu vực tài chính không
giống với phi điều tiết. Có những lý do xác đáng để điều tiết ngân hàng.
Nhng mục tiêu điều tiết đã đợc thay đổi, trớc kia điều tiết ngân hàng là do
tín dụng chạy theo các kênh đợc yêu thích, còn nay là để bảo vệ sức mạnh
của hệ thống tài chính ngân hàng.
14
4. 3. Thứ ba, điều tiết mở rộng cạnh tranh các ngành dịch vụ công
cộng
Điều tiết của nhà nớc có vai trò nổi bật đối với vai trò của các ngành
dịch vụ công cộng. Điều đó là sự thay đổi có tích chất cách mạng về công
nghệ và tổ chức chứ không chỉ do những chuyển biến có ý thức về chính

Nếu cải cách cơ chế quản lý xí nghiệp ở các nớc t bản là những biến
đổi nào đó đợc tiến hành nhằm làm cho quan hệ sản xuất thích ứng với lực
lợng sản xuất ở tầng vĩ mô, thì cải cách cơ chế kinh tế lại là cuộc cải cách
đợc tiến hành nhằm làm cho quan hệ sản xuất thích ứng sự phát triển mới
của lực lợng sản xuất trên tầng vĩ mô và giữa chúng có liên hệ qua lạivà
thúc đẩy lẫn nhau.
Cuộc cải cách cơ chế kinh tế của các nớc TBCN biểu hiện trên tất cả
các mặt. Trớc hết, t tởng chỉ đạo và phơng châm chính sách của sự can
thiệp và điều chỉnh của nhà nớc đối với kinh tế vĩ mô đã có sự thay đổi.
4. 5. Thứ năm, tiến hành cải cách thể chế kinh tế
Trọng điểm cũng nh bớc đi và biện pháp mà các nớc áp dụng không
giống nhau, nhng nói chung, ngoài việc cải cách xí nghiệp quốc doanh nh
15
đã nói trên còn cải cách hệ thống tài chính và thuế nhằm giảm bớt thâm
hụt ngân sách; cải cách hệ thống tiền tệ nhằm ổn định hệ thống tiền tệ, cải
cách chế độ tiền lơng lao động để hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp, cải cách chế
độ phúc lợi xã hội nhằm giảm nhẹ gánh nặng tài chính của nhà nớc, điều
chỉnh quan hệ giữa Trung ơng và địa phơng, giao nhiều quyền lực của
Trung ơng cho địa phơng, để địa phơng đảm nhiệm nhiều hơn các nhiệm
vụ y tế, giáo dục đào tạo. cải cách chế độ mậu dịch đối ngoại, giảm bớt
các rào chắn, thúc đẩy tụ do hoá.
Tất nhiên, để điều chỉnh, nhà nớc t bản độc quyền cũng đã cải cách
bộ máy và các công cụ điều tiết của mình.
Dới bộ máy còn có các tiểu ban đợc tổ chức theo những hình thức
khác nhau, thực hiện t vấn, khuyến nghị để lái đờng lối theo mục
tiêu riêng của các tổ chức độc quyền.
Cùng với bộ máy điều chỉnh, nhà nớc còn sử dụng các phơng tiện công cụ
điều tiết nh: khu vực kinh tế thuộc sở hữu của nhà nớc, các công cụ hành
chính pháp luật, các chính sách và các đòn bẩy kinh tế nhằm đạt đợc các
mục tiêu đã định.

nghĩa ngày nay
16
Hệ thống kinh tế t bản chủ nghĩa thế giới là toàn bộ các quan hệ
kinh tế quốc tế của chủ nghĩa t bản độc quyền, là tổng thể các mối liên hệ
kinh tế giữa các nền kinh tế quốc dân của từng nớc t bản chủ nghĩa và nớc
phụ thuộc.
Trong hệ thông đó các nền kinh tế quốc gia có mối liên hệ với nhau
bởi sự phân công lao động quốc tế, thơng mại, tài chính, tiền tệ.
Hệ thống kinh tế t bản chủ nghĩa thế giới đợc hình thành cùng với
quá trình chủ nghĩa t bản chuyển sang giai đoạn độc quyền. Tuy nhiên
tiền đề đầu tiên của nó là do những phát kiến vĩ đại về địa lí và sự xâm
chiếm thuộc địa diễn ra, các nơc t bản chủ nghĩa chủ yếu ở phơng Tây bắt
đầu đa vào thuộc địa những hàng hoa công nghiệp và lấy ra từ đó những
nguyên vật liệu cần thiết. Các Mác đã cho rằng : Chính thị trờng thế giới
là cơ sở của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa . Mặt khác tính tất yếu
nội tại của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa là phải sản xuất trên một
qui mô không ngừng lớn hơn, thúc đẩy thị trờng thế giới phải không
ngừng bành trớng. Điều đó cũng có nghĩa là việc sản xuất bằng máy móc
lần đầu tiên đã tạo ra lịch sử toàn thế giới, sau khi đã xoá bỏ sự cách biệt
giữa các nớc đó và đặt sự thoả mãn nhu cầu của mỗi nớc công nghiệp văn
minh phụ thuộc vào thế giới. Trong thời đại chủ nghĩa t bản độc quyền,
các mối quan hệ đó đợc đẩy mạnh và Lênin đã rút ra nhận xét : chủ
nghĩa t bản đã phát triển thành một hệ thống có tính chất toàn thế giới
của một nhóm nhỏ các nớc tiên tiến đi áp bức thuộc địa và dùng tài chính
để bóp nghẹt đại đa số nhân dân thế giới .
Ngày nay, hệ thống kinh tế thế giới t bản chủ nghĩa đã có nhiều biến
đổi so với giai đoạn độc quyền. Những biến đổi đó là :
5.1. Sự phát triển không đều của các bộ phận cấu thành hệ thống
-Dới tác động của qui luật phát triển không đều nền kinh tế các nớc t
bản chủ nghĩa trong hệ thống kinh tế thế giới t bản chủ nghĩa đã phát triển

vẫn giữ u thế về kĩ thuật và thị trờng, đồng đô la Mĩ có suy giảm vai trò,
song hiện nay vẫn là đồng tiền quốc tế và có vai trò chủ đạo.
+ Các nớc đang phát triển có sự phân hoá mạnh, một số nớc tăng tr-
ởng nhanh đã và sẽ bớc vào nhóm các nớc công nghiệp phát triển, song về
tổng thể các nớc đang phát triển vẫn trong tình trạng lạc hậu và tiếp tục tụt
hậu so với các nóc t bản phát triển. Nhìn tổng thể, các nớc đang phát
triển còn thua kém nhiều so với cac nớc t bản chủ nghĩa, mà sự lạc hậu
thua kém đó đo bằng khoảng cách thời gian 928 năm.
Sự lạc hậu về kinh tế các nớc đang phát triển còn biểu hiện ở kết
cấu kinh tế xã hội của hầu hết các quốc gia này. Tỉ trọng nông nghiệp
vẫn ở mức 60-80 % GDP, trong đó trồng trọt chiếm 80-90%. Công nghiệp
chủ yếu là khai khoáng và sơ chế. Công nghiệp chế biến và dịch vụ chiếm
tỉ trọng nhỏ ( 20-30%). Thành phần kinh tế t bản t nhân nhỏ bé, kinh tế t
bản nhà nớc mới hình thành. . .
Cùng vời sự lạc hậu về kinh tế là sự trì trệ, bảo thủ của hệ thống
chính trị nên đã gây cản trở cho quá trình vận động theo xu hớng tiến bộ
xã hội. Hiện nay các nớc đang phát triển đang đứng trứơc những thách
thứo lớn : suy dinh dỡng trẻ em, không có khả năng thanh toán nhập khẩu
lơng thực, lạm phát ở mức ở mức hai con số, vấn đề về giáo dục, môi tr-
ờng. v. v.
Tình hình trên phản ánh sự phát triển không đồng đều giữa các bộ
phận cáu thành của hệ thống kinh tế thế giới t bản chủ nghĩa ngày nay
5.2. Các công ty xuyên quốc gia ngày càng đóng vai trò to lớn trong
nền kinh tế thế giới.
Các công ty xuyên quốc gia là sản phẩm của quá trình quốc tế hoá va
là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất trong điều kiện lực lợng
sản xuầt đã đợc quốc tế hoá sâu rộng. Chúng cũng chính là hình thức tổ
chức doanh nghiệp quốc tế trongnền kinh tế thị trờng va đang có vai trò to
lớn trong nền kinh tế thế giới.
Theo số liệu của liên hợp quốc, trên thế giới đã có hơn 60000 công ty

chính 1991 và 1997. Chẳng hạn tốc độ tăng trởng GDP trung bình 1981-
1990: 4%, 1995:1. 5%, năm 2000:0, 3%.
Nền kinh tế Tây Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai có sự phục hồi
dần và bớc vào thập kỷ 70, 80, nhìn chung có những bớc phát triển mới,
nhng rồi tốc độ tăng trởng cũng giảm dần. Năm 1995, các nớc G7đều có
tốc độ tăng trởng hàng năm thấp: Cộng hoà liên bang Đức: 2, 6%, Pháp:2,
7%, Italia: 2, 8%. Tăng trởng kinh tế của 25 nớc OECD cũng chỉ ở mức 2,
5%.
Hệ thống ngân hàng bị trục trặc đặc biệt là cú sốc ngân hàng tháng
10- 1987 nhiều ngân hàng bị đóng cửa. Trong năm 1997, cuôc khủng
hoảng tài chính- tiền tệ khởi phát từ Thái Lan đã lan ra nhiều khu vực trên
thế giới. Nhiều trung tâm tài chính trên thế giới với hệ thống ngân hàng
cực mạnh đã tỏ ra không đứng vững trớc cuộc khủng hoảng.
Thâm hụt ngân sách vẫn lớn ở hầu hết các nớc. Ví dụ: Mỹ năm
1994 thâm hụt ngân sách 203, 3 tỷ USD, năm 1995 là 164 tỷ USD.
Lạm phát vẫn là nguy cơ đe doạ, nợ nần và trở thành gánh nặng đối
với nhiều nớc.
Hiện nay nền kinh tế nhiều nớc sau cuộc khủng hoảng tài chính-
tiền tệ năm 1997 đã phục hồi dần, nhng triển vọng tăng trởng kinh tế
không cao.
5.4. Xu hớng tăng cờng quân sự hoá trong thời kỳ hậu chiến tranh
lạnh
Ngoài nguyên nhân chính trị và an ninh thì tỷ xuất lợi nhuận cao
do độc quyền về các phơng tiện chiến tranh đã trở thành động lực dể các
ông chủ t bản kết hợp chặt chẽ với các quan chức cấp cao trong bộ quốc
phòng và bộ tham mu chiến tranh của các nớc đế quốc, hớng các chính
phủ đó theo đờng lối tăng cờng chạy đua vũ trang. Chi phí quốc phòng của
Mỹ trớc năm 1985 dới 150 tỷ USD, năm 1985 là 240 tỷ USD và năm 1989
là 320 tỷ USD, chiếm hơn 6% GNP, hiện nay tỷ lệ tăng còn cao hơn nhiều.
19

Trong thời kì chiến tranh lạnh, đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai,
nền kinh tế thế giới t bản chủ nghĩa có một trung tâm duy nhất. Đó là Mĩ.
Với sức mạnh kinh tế ( kể cả quân sự) Mĩ đã xác lập đợc quyền thống trị
của mình đối với thế giới. Nhng cuối thập kỉ 80 với sự suy giảm tơng đối,
Mĩ đã mất vai trò trung tâm duy nhất, và thế giới hình thành nhiều trung
tâm ( hoặc đa trung tâm ). ở khu vực châu Mĩ, có sự liên kết giữa Mĩ với
các nớc Mĩ latinh và do Mĩ chi phối. ở khu vực châu Âu, hình thành EU và
thu hút sự liên kết quanh EU với vai trò trung tâm của Đức ngày càng
tăng. ở châu á - Thái Bình Dơng, vai trò trung tâm của Nhật Bản đợc thể
hiện khá rõ nét bên cạnh vai trò của Mĩ. Tuy nhiên, vai trò và chiến lợc
toàn cầu của Mĩ vẫn không thay đổi. Mĩ vẫn có vai trò quan trọng trong
mọi hoạt động của nền kinh tế thế giới t bản chủ nghĩa nói riêng và kinh tế
thế giới nói chung. Với sự phát triển nhanh chóng của Nics, đặc biệt là
Nics châu á đã hình thành nhiều trung tâm tài chính khu vực. Tuy vai trò
của Nics cha cao nhng trong tơng lai chắc chắn còn có sự thay đổi ( kể cả
với Trung Quốc- một nớc đông dân nhất thế giới, có hệ thống Hoa Kiều
rộng lớn và hiện tại nền kinh tế đã có sự phát triển mạnh mẽ thu hút sự
quan tâm của thế giới ).
20
Sự hình thành ba trung tâm đã tạo nên quan hệ gắn bó hơn giữa các
quốc gia trong khu vực cũng nh giữa các khu vực với nhau tạo ra thời cơ
mới cho những nớc đi sau trên bớc đờng phát triển của mình. Song lại nảy
sinh mâu thuẫn và bất đông mới phức tạp hơn, trong đó những quốc gia trẻ
phát triển về sau này vẫn tiếp tục cạnh tranh để giành vị trí xứng đáng của
mình trong khu vực.
b)Mâu thuẫn gay gắt và cuộc đấu tranh không thể dung hoà một sớm
một chiều giữa các nớc phát triển và các nớc đang phát triển :
Mâu thuẫn cơ bản nói trên đợc biểu hiện là mâu thuẫn giữa các dân tộc
thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc.
Ngày nay, mâu thuẫn này đang chuyển thành mâu thuẫn giữa các n-

sự phát triển của xu thế toàn cầu hoá của cách mạng khoa học và công
nghệ khiến các nớc đó phải liên kết với nhau. Mặt khác, do tác động của
qui luật phát triển không đều và lợi ích cục bộ của giai cấp thống trị ở mỗi
nớc, các nớc đó đã trở thành đối thủ cạnh tranh với nhau, tranh giành
quyền lực và phạm vi ảnh hởng trên thế giới, nhất là giữa ba trung tâm Mĩ,
Nhật Bản và Tây Âu. Biểu hiện của mâu thuẫn giữa các nớc ấy trớc hết là
cuộc chiến tranh thơng mại, chiến tranh về đầu t kĩ thuật, tài chính cũng
nh sự cạnh tranh giữa các công ty xuyên quốc gia (TNCs) dới nhiều hình
thức.
21
TNCs là sản phẩm của quá trình tích tụ và tập trung t bản sản xuất
trong điều kiện quốc tế hoá.
TNCs hiện có vai trò rất lớn trong nền kinh tế thế giới. Chúng là
hình thức tổ chức doanh nghiệp quốc tế trong nền kinh tế thị trờng.
5.6Hợp tác và cạnh tranh phát triển lên nấc thang mới và có tính
quốc tế
Hợp tác và cạnh tranh là một đặc trng cơ bản của chủ nghĩa t bản độc
quyền, hiện nay nó có những đặc điểm sau:
- Sự phát triển không đều giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế
giới, làm cho cạnh tranh và mâu thuẫn giữa chúng diễn ra gay gắt.
- Sự phát triển của lực lợng sản xuất, quá trình toàn cầu hoá là điều kiện
để nền kinh tế thế giới hợp tác với nhau.
- Cạnh tranh quốc tế biểu hiện dới nhiều hình thức. Ưu thế thờng thuộc
về TNCs, các trung tâm t bản chủ nghĩa.
- Hợp tác quốc tế diển ra dới nhiều hình thức khác nhau( hội nghị cấp
cao, liên minh kinh tế khu vực. . )
- Hợp tác và cạnh tranh luôn diễn ra đan xen nhau và là hai mặt của nền
kinh tế thế giới nói chung, thế giới t bản chủ nghĩa nói riêng.
III kết luận
Những đặc trng kinh tế của chủ nghĩa t bản ngày nay chỉ là sự phát

( NXB Chính trị quốc gia-Hà Nội 1995)
3. Lê Văn Sang:
Chủ nghĩa t bản hiện đại tập I, II, III
(NXB Chính trị quốc gia-Hà Nội 1995)
4. PGS-TS Đỗ Lộc Diệp :
Chủ nghĩa t bản ngày nay mâu thuẫn nội tại, xu thế, triển vọng
(NXB KH-XH 2003)
5. Rơnê Đuymông:
Một thế giới không thể chấp nhận đợc
(Học viện Nguyễn ái quốc xuất bản)
23
Mục lục
Trang
I - Lời mở đầu 1
II - Đặc trng cơ bản của chủ nghĩa t bản ngày nay 2 1.
Khái niệm về chủ nghĩa t bản ngày nay 2
2. Sự biến đổi về lực lợng sản xuất 2
2.1 Sự biến đổi của các yếu tố vật chất của lực lợng sản xuất 2
2.2 Sự biến đổi cơ cấu lao động 4
3. Sự biến đổi, điều chỉnh các quan hệ sản xuất 5
3. 1 Sự biến đổi về các hình thức sở hữu 5
3. 2 Sự điều chỉnh về quan hệ tổ chức quản lí
9
3. 3 Sự biến đổi trong quan hệ phân phối 14
4. Sự điều tiết kinh tế của nhà nớc t sản hiện đại, xu hớng biến
đổi cơ chế 16
4. 1 T nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh 17
4.2 Tự do hoá lĩnh vực tài chính 18
4.3 Điều tiết mở rộng cạnh tranh các ngành dịch vụ công cộng 18
4.4 Cải cách cơ chế kinh tế và thay đổi mô hình kinh tế 18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status